MỤC LỤC
Lời cam đoan
I
Lời cảm ơn
II
Mục lục
III
Danh mục chữ viết tắt
VI
Danh mục bảng
VII
Danh mục hình
VIII
MỞ ĐẦU
1
1
5
1.2 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
7
1.2.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
7
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
8
1.3 Các quan điểm về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
8
1.3.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất
8
1.3.2 Ý nghĩa của đánh giá hiệu quả sử dụng đất đối với sản xuất nông nghiệp
10
1.3.3 Một số quan điểm về đánh giá hiệu quả sử dụng đất
10
22
2.2 Phạm vi nghiên cứu
22
2.3 Nội dung nghiên cứu
22
2.3.1 Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh
hưởng tới sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
22
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
22
2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
22
2.3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
23
2.4
29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
36
3.2 Hiện trạng sử dụng đất và thực trạng phát triển nông nghiệp huyện
Nho Quan
37
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Nho Quan
37
3.2.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp huyện Nho Quan
39
3.2.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan
41
3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
50
73
3.5.1 Giải pháp chung
73
3.5.2 Những giải pháp cụ thể
75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
77
Kết luận
77
Kiến nghị
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
80
PHỤ LỤC
82
4
DT
Diện tích
5
GTGT
Giá trị gia tăng
6
GTSX
Giá trị sản xuất
7
HTX
Hợp tác xã
8
LĐ
Lao động
14
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
15
TSLN
Tỷ suất lợi nhuận
16
UBND
Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
2.1
Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan
43
3.5
Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1
51
3.6
Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1
52
3.7
Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2
54
3.8
Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2
55
3.9
Đánh giá hiệu quả xã hội tiểu vùng 2
62
3.15
Hiệu quả xã hội của tiểu vùng 3
63
3.16
Đánh giá hiệu quả xã hội tiểu vùng 3
64
3.17
Mức sử dụng phân bón của các cây trồng huyện Nho Quan
65
3.18
Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật huyện Nho Quan
66
3.19
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng huyện Nho Quan
39
3.2
Cánh đồng trồng lạc xã Xích Thổ - Nho Quan
45
3.3
Cánh đồng chuyên rau xã Thạch Bình - Nho Quan
46
3.4
Ruộng trồng bí xanh
47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là yếu tố mang tính
quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các
Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều
kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản”. Bởi vậy, nếu
không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào có thể hoạt động, con
người không thể sản xuất ra của cải vật chất để tồn tại và duy trì nòi giống. Theo
Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam : “Đất đai là
tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân
dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như
ngày nay!”.
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà
còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được. Quá trình sản xuất nông
nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và các quá trình hóa, sinh, lý học tự
nhiên của đất (Lê Văn Khoa, 2007).
Tuy nhiên, đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được và luôn phải
chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường cũng như sự tác động của con người trong
quá trình sản xuất. Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh
qua quá trình sản xuất. Do đó, đất đai là có hạn. Bảo vệ đất đai là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững (Lê Thái Bạt, 1995).
Việt Nam là nước đang phát triển. Sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả phù hợp với điều kiện
tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần bổ sung phương pháp luận
trong đánh giá đất, nghiên cứu sâu về các loại hình sử dụng đất, giúp cho các cơ
quan quản lý đất đai có những chính sách về sử dụng và bảo vệ đất đai theo quan
điểm sử dụng đất bền vững.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vai trò và đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế
1.1.1. Vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người. Cuộc cách mạng công nghiệp mở ra vào cuối thế kỷ XVIII,
rồi cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có nhiều ngành
ra đời và phát triển lớn mạnh: công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ, viễn
thông, công nghệ tin học…Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là một trong hai ngành sản
xuất vật chất rất quan trọng, bởi những đóng góp sau đây:
Thứ nhất, nông nghiệp sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu
cầu thiết yếu của cuộc sống. Nhiều sản phẩm của nông nghiệp: lương thực, thực
phẩm đều là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Ăng
Ghen đã từng khẳng định: "Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở và mặc,
trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo". Việt Nam
ta có câu "Có thực mới vực được đạo". Xã hội càng phát triển, với dân số ngày càng
tăng, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về số lượng, chủng
nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các ngành công nghiệp và dịch
vụ. Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, dân số nông thôn còn
chiếm tỷ lệ rất cao. Do đó, phát triển nông nghiệp nông thôn sẽ làm tăng thu nhập
cho người dân nông thôn, là điều kiện để họ tăng khả năng tiêu dùng các hàng hoá,
dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác, là cơ sở thúc đẩy cho nền kinh
tế phát triển.
Thứ năm, nông nghiệp còn có tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên, củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng. Phát triển nông nghiệp ở bất cứ nước
nào, cũng gắn liền với việc sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên như đất đai,
nguồn nước, rừng, thực vật và động vật. Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc
đảm bảo các vai trò nói trên, còn phải góp phần giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường, chống suy giảm các nguồn lực, mất đa dạng sinh học, chống ô
nhiễm môi trường. Đó là điều kiện cần thiết cho sự phát triển một nền nông nghiệp ổn
định và bền vững. Hơn nữa, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp gắn liền với cuộc
sống của người nông dân. Vì thế, ở đâu có sản xuất nông nghiệp thì ở đó có nông dân,
lực lượng nòng cốt giữ gìn an ninh quốc phòng, bảo vệ tổ quốc (Đỗ Quang Quý, 2007).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
1.1.2. Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc biệt, khác với công nghiệp và các
ngành kinh tế khác ở lĩnh vực sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hoá. Để phát
triển đúng đắn nền nông nghiệp, việc xem xét và phân tích các đặc điểm của
ngành là rất cần thiết.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật. Sinh vật bao gồm các cây
trồng, vật nuôi và các sinh vật khác. Chúng có các quy luật tự nhiên riêng (sinh
trưởng, phát triển, phát dục, diệt vong) và đồng thời lại chịu tác động rất nhiều từ
ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người. Vì thế, trong công
phẩm của tự nhiên, mỗi vùng rất khác nhau về địa hình, về khí hậu thời tiết, dẫn tới
những khác nhau về quy hoạch và bố trí sản xuất trên mỗi vùng, lãnh thổ. Đặc điểm
này do tính chất của đất đai quy định. Hơn nữa, đất đai với tư cách là tư liệu sản
xuất chủ yếu có địa bàn trải rộng. Tính chất này kéo theo sự đa dạng về địa hình,
chất đất, nguồn nước, sinh vật sống ở đó và thời tiết khí hậu.
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Các cây trồng, vật nuôi ngoài sự
tác động trực tiếp của con người cần phải có thời gian tác động của tự nhiên nữa,
quá trình kết hợp đó không ăn khớp nhịp nhàng, mà xen kẽ nhau, do vậy trong nông
nghiệp có lúc thời vụ nhàn rỗi và có lúc rất căng thẳng (gieo trồng, thu hoạch). Để
giảm bớt tính thời vụ, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề kinh tế - kỹ thuật như
bố trí sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, mở rộng thêm các ngành nghề, đa
dạng hoá trong kỹ năng lao động và đa dạng hoá trong trang bị công cụ lao động có
tính vạn năng. Về kỹ thuật cần tìm cây trồng, vật nuôi có thời gian sinh trưởng ngắn
để có thể sản xuất nhiều vụ trong năm.
Trên đây là những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp của mọi quốc
gia. Nông nghiệp Việt Nam ngoài những đặc điểm trên, còn một số đặc điểm riêng.
Nông nghiệp Việt Nam phát triển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá
trong nền kinh tế thị trường. Người sản xuất nông nghiệp chủ yếu là nông dân, còn
nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các quy luật cung cầu và cạnh tranh. Năng suất lao
động thấp, ruộng đất manh mún đã cản trở rất nhiều trong quá trình tập trung hoá sản
xuất và cơ giới hoá nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp nhiệt đới.
Do đó, giống cây trồng, vật nuôi phong phú, cây trồng phát triển bốn mùa và có lượng
mưa lớn cùng với hệ thống sông, suối nhiều đáp ứng nước tưới cho cây trồng và phát
triển ngành chăn nuôi thuỷ sản thuận lợi. Tuy nhiên, khi lượng mưa ẩm quá lớn vừa
gây ra lũ lụt, bão, vừa gây ra hạn hán. Hơn nữa, khí hậu nóng ẩm đã tạo điều kiện cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
1.2.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của
động vật, thực vật và con người trên trái đất. Đất đai là điều kiện cần thiết để con
người tồn tại và tái xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người cũng là khoảng
không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong ngành kinh tế
quốc dân và mọi hoạt động của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể, đất đai
có vị trí khác nhau. Trong công nghiệp, thương mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền
móng để trên đó xây dựng nhà cửa, cửa hàng, mạng lưới giao thông, thì ngược lại
trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất, là
tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được.
Ngoài vai trò là không gian để sản xuất nông nghiệp, đất còn có 2 chức năng đặc biệt
quan trọng. Thứ nhất, đất là đối tượng chịu tác động trực tiếp của con người trong quá
trình sản xuất. Thứ hai, đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây
trồng nước, muối khoáng, không khí và các chất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và
phát triển (Lê Văn Khoa, 2007).
1.3. Các quan điểm về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.3.1. Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác, bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy
luật tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội. Trong đó
quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, mọi hoạt động
của con người đều tuân theo quy luật đó, đồng thời nó quyết định động lực phát
triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao
hiện hiệu quả xã hội gặp nhiều khó khăn và chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang
tính định tính như tạo công ăn việc làm, định canh định cư, lành mạnh xã hội.
Hiệu quả môi trường
Đây là loại hiệu quả được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều
kiện hiện nay. Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi các hoạt động
của nó không có những ảnh hưởng tác động xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học
môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường. Hiệu quả
sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh
biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến. Hiệu quả hoá học môi trường là
hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chịu ảnh hưởng của điều
kiện môi trường dẫn đến. Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
động vật lý dẫn đến.
Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá
trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài tức là bảo vệ tài nguyên đất
và môi trường sinh thái. Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình
sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm
(Đoàn Công Quỳ, 2006).
1.3.2. Ý nghĩa của đánh giá hiệu quả sử dụng đất đối với sản xuất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến 01/01/2012 tổng
diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là 33.095,1 nghìn ha, trong đó đất Nông nghiệp
là 26.280,5 nghìn ha, nhưng đất sản xuất chỉ có10151,1 nghìn ha chiếm 30,67%.
Dân số tăng nhanh khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp song nhu cầu
sử dụng lương thực, thực phẩm của con người ngày càng tăng. Trong nền kinh tế
hiện nay, khi sản xuất nông nghiệp cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và mục
Cây trồng lấy làm gốc để đánh giá là cây ngũ cốc và cây họ đậu. Đơn vị đánh
giá là các chủng đất đối với các loại sử dụng đất có tưới, đất được tiêu úng, đất
trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ cắt và đồng cỏ chăn thả
1.3.3.2. Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất của Hoa Kỳ
Dựa trên mục tiêu hoặc tính chất sử dụng đất được phân thành các nhóm
dạng sử dụng: nhóm không thể chuyển hoá và nhóm có thể chuyển hoá; nhóm đô
thị và nhóm phi đô thị.
Đất nông nghiệp và lâm nghiệp thuộc nhóm phi đô thị và cũng thuộc nhóm
có thể chuyển hoá. Việc phân hạng trong nhóm này sẽ áp dụng một trong ba cách
phân hạng:
- Phân hạng chỉ dựa trên các yếu tố tự nhiên của đất (địa chất - đá mẹ, dạng
đất - địa mạo, thời tiết - khí hậu và thổ những )
- Phân hạng dựa trên kiểu sinh thái thảm thực vật
- Phân hạng theo mục tiêu sử dụng đất (Classification based on land use) gồm đất
nông nghiệp, đất xây dựng các công trình (engineering) đất rừng (dựa vào kiểu rừng
hoặc năng suất lập địa), đồng cỏ, khu bảo tồn động vật hoang dã, khu giải trí…
Với đất nông nghiệp, phân hạng đất đai được ứng dụng rộng rãi theo hai
phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm là tiêu chuẩn
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so
sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 hoặc 100% để làm mốc so sánh với các đất khác.
1.3.3.3. Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo FAO
Theo FAO, đánh giá đất đai là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm
năng đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng đất. Đánh giá hiệu quả sử dụng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
đất toàn diện trên cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi
Loại hình sử dụng đất là sự phân chia chi tiết của loại hình sử dụng đất
chính và được mô tả theo các thuộc tính nhất định. Các thuộc tính đó bao gồm: quy
trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư vật
tư kỹ thuật… và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn
thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai.
Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement) là những điều kiện tự nhiên có
ảnh hưởng đến năng suất và sự ổn định của loại hình sử dụng đất, hay đến tình trạng
quản lý và thực hiện loại hình sử dụng đất đó. Những yêu cầu sử dụng đất thường
được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. Yêu cầu sử dụng đất được
coi như là những điều kiện tự nhiên cần thiết để thực hiện thành công và bền vững
một loại hình sử dụng đất (Đoàn Công Quỳ, 2006).
1.3.4.2. Nguyên tắc đánh giá đánh đai theo FAO
FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất đai là:
- Các LUT được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển của vùng hay
quốc gia cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên/ kinh tế của
khu vực nghiên cứu
- Các LUT cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế xã hội.
- Việc đánh giá đất đai bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều LUT.
- Khả năng thích nghi đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững.
- Đánh giá khả năng thích nghi đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất
(lợi ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của các LUT.
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành.
Với 6 nguyên tắc cơ bản nêu trên, đánh giá đất đai sẽ cung cấp cho việc quy
hoạch sử dụng đất những phương án về sử dụng tài nguyên đất đai, và trong mỗi
phương án là những thông tin về năng suất, mức đầu tư (chi phí, lợi nhuận) cách
quản trị đất đai - nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng của sử dụng đất
đối với môi trường. Nguyên tắc đánh giá đất theo FAO là đánh giá đất phải gắn với
LUT xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết. Đánh giá
Bước 6: Xác định hiện trạng kinh tế, xã hội và môi trường
-
Bước 7: Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất
-
Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất
-
Bước 9: Áp dụng việc đánh giá đất
Như vậy, phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO đã đề cập đến các
chỉ tiêu các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến khả năng sử
dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận của chúng (Đoàn Công Quỳ, 2006). Đây là
những thông tin rất có ý nghĩa đối với việc xác định và lập kế hoạch sử dụng đất.
Trong khuôn khổ của đề tài, phương pháp đánh giá đất theo FAO được
vận dụng nhằm nghiên cứu khả năng sử dụng tài nguyên đất ở huyện Nho Quan.
1.4. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Theo FAO, sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp là sử dụng,
quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên cho nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc
sống của con người, đồng thời gìn giữ, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Năm 1991 tại Nairobi, FAO đã tổ chức hội thảo về quản lý sử dụng đất bền vững đã
nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản trong sử dụng đất bền vững đó là:
- Duy trì và nâng cao sản xuất và các dịch vụ
- Giảm thiểu rủi ro cho sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá chất
lượng đất và chất lượng nước
dụng đất được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường
chấp nhận.
- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mùa
mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất.
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo được đời sống xã hội.
Phát triển bền vững đòi hỏi các nguồn tài nguyên phải được phát triển và sử
dụng một cách tổng hợp. Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền đã
khuyến khích về sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
- Khuyến khích tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc thực hiện đúng
đắn cơ chế thị trường và các cải cách khác như làm tăng tối đa lợi ích đa vụ, khuyến
khích nông dân và giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch.
- Phát triển và đẩy mạnh các hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi,
các hoạt động nhằm vào vấn đề nông - lâm kết hợp, trồng theo vành đai, trồng cây
và làm ruộng bậc thang và phải thích ứng với các điều kiện thực tế cụ thể với tập
quán của người dân về mùa vụ, với các kỹ thuật khả thi về bảo vệ đất và nước.
- Canh tác nông nghiệp phải nhằm vào thâm canh tăng năng suất, quay vòng
mùa vụ, kiểm soát hoá chất nông nghiệp, phổ biến rộng rãi canh tác hữu cơ và các
phương pháp thủy lợi nhằm tránh gây ngập úng và nhiễm mặn đất.
- Ưu tiên cho các công trình nghiên cứu và triển khai liên quan đến các hệ
thống nông - lâm kết hợp, có tính đến việc bố trí định cư những người du canh ở
vùng núi cao.
- Cần có chương trình mạnh mẽ về trồng cây rừng, bao gồm cả việc hình
thành các khu rừng trồng nhằm mục đích lấy gỗ và củi đốt. Những nỗ lực trồng
rừng phải nhằm vào mục đích phát triển khu rừng hỗn giao, các loài cây bản xứ hơn
nhiều nước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân canh
cây lúa với cây trồng cạn đã thu được hiệu quả cao hơn.
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn
phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp. Các nước Châu Á trong quá trình sử
dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ
kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phải
nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh môi trường.
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội với
việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái bền vững.
Tại Liên Xô (cũ)
Kết quả đánh giá đất của Liên Xô đã giúp cho việc thống kê tài nguyên đất
và hoạch định chiến lược sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên đất trong phạm vi toàn
Liên bang Xô Viết. Tuy nhiên, đối với đất nông nghiệp thì phương pháp đánh giá
này chưa đi sâu một cách cụ thể vào từng loại sử dụng đất, mới chỉ tập trung chủ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
yếu vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa đánh giá tác động của các
yếu tố kinh tế - xã hội đến sử dụng đất (Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình, 2000).
Tại Hoa Kỳ
Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ đã phân chia đất đai thành 8 cấp, trong đó 4 cấp đầu
thích hợp trồng cây nông nghiệp (từ mức thích hợp cao đến thấp), 2 cấp theo ở mức
thích hợp có điều kiện nhưng có thể sử dụng cho lâm nghiệp, 2 cấp còn lại không
thích hợp ngay cả đối với lâm nghiệp. Trong hệ thống này hiện tượng xói mòn được
sông Hồng của Đào Thế Tuấn (1992) cũng đề cập việc phát triển hệ thống cây
trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam. Công trình nghiên
cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng
sông Hồng do Đào Thế Tuấn (1998) chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng
sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra kết luận về phân vùng
sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác
nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã
tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như
vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng
trên từng vùng đất đó. Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của
từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát
huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng.
Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng
sông Hồng (1994); phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng (Nguyễn
Như Hà, 2000); đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng
bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) cho thấy đã xuất hiện nhiều mô hình
luân canh 3- 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh
thái ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng
đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được
bố trí trong các phương thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp.
Trong 3 năm (1992 - 1994) thực hiện Chương trình khoa học công nghệ cấp
Nhà nước KT. 02 “Bảo vệ môi trường”, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
đã tiến hành đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và
phát triển lâu bền. Kết quả đã xác định được 4 loại hình sử dụng đất bền vững về
kinh tế - xã hội và môi trường (loại sử dụng đất trồng lúa 2-3 vụ, lúa - màu, đất
trồng cây lâu năm và đất rừng), 1 loại sử dụng đất không bền vững về kinh tế (trồng
lúa một vụ: lúa chiêm hoặc lúa mùa), loại cây trồng cạn ngắn ngày không bền vững
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp