đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản, bệnh sinh sản trên đàn bò lai hướng sữa tại huyện ba vì – hà nội và thử nghiệm phác đồ điều trị - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, BỆNH SINH SẢN
TRÊN ĐÀN BÒ LAI HƯỚNG SỮA TẠI HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, BỆNH SINH SẢN
TRÊN ĐÀN BÒ LAI HƯỚNG SỮA TẠI HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
Mã số: 60.64.01.01

Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn tới những cán bộ thú y, những hộ
chăn nuôi bò sữa tại các xã thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện đề tài tại đây.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè đồng
nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 11 năm 2015
Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thúy

iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục ............................................................................................................ iv
Danh mục chữ viết tắt ....................................................................................... vii
Danh mục bảng ............................................................................................... viii
Danh mục hình và biểu đồ ................................................................................. ix
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài ......................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ......................................................... 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài.................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm sinh lý, sinh sản của bò cái .................................................. 3

2.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 24
2.3.1. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản ...................................... 24
2.3.2. Phương pháp đánh giá thực trạng một số bệnh sinh sản trên đàn
bò và phân loại bệnh buồng trứng của bò.......................................... 25
2.3.3. Phương pháp sử dụng một số chế phẩm hormone điều trị hiện
tượng rối loạn sinh sản của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại khu vực
Ba Vì ................................................................................................ 26
2.3.4. Phương pháp phối giống cho bò trong thí nghiệm ............................. 27
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu................................................................. 27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 28
3.1. Kết quả điều tra về tình hình chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội ............................................................................... 28
3.2. Một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn bò sữa huyện Ba Vì ................................ 31
3.2.1. Tuổi động dục lần đầu ...................................................................... 31
3.2.2. Tuổi phối giống lần đầu .................................................................... 31
3.2.3. Tuổi đẻ lứa đầu ................................................................................. 33
3.2.4. Khối lượng cơ thể bò cái khi đẻ lứa đầu ............................................ 34

v


3.2.5. Thời gian động dục lại sau khi đẻ ..................................................... 35
3.2.6. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ............................................................. 36
3.2.7. Sản lượng sữa trên một chu kỳ .......................................................... 37
3.2.8. Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai ...................................................... 38
3.3. Kết quả nghiên cứu về một số bệnh sinh sản trên bò lai hướng sữa nuôi
tại huyện Ba Vì - Hà Nội .......................................................................... 40
3.3.1 Bệnh sinh sản thường gặp trong giai đoạn mang thai ......................... 40
3.3.2. Bệnh sinh sản thường gặp trong quá trình đẻ .................................... 43
3.3.3 Bệnh sinh sản thường gặp ở bò sữa trong giai đoạn không mang thai.........43


Flurogesterone acetate

FRH

Folliculin Realising Hormone

FSH

Follicle Stimulating Hormone

GSH

Growth stimulating hormone

GnRH

Gonadotropin-releasing hormone

HF

Holstein Friesian

HTNC

Huyết thanh ngựa chửa

IU

International Unit


2.1.

Tên bảng

Trang

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng sau khi khám qua
trực tràng hai lần liên tục cách nhau 7 đến 10 ngày ................................... 25

3.1.

Tình hình chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì – Hà Nội .............................. 29

3.2.

Chỉ tiêu sinh sản của đàn bò sữa ở huyện Ba Vì, Hà Nội.......................... 32

3.3.

Hệ số phối giống, tỷ lệ đậu thai................................................................. 39

3.4.

Bệnh sinh sản thường gặp trong giai đoạn bò sữa mang thai và trong
quá trình đẻ ............................................................................................... 42

3.5.

Bệnh trong thời gian bò sữa không mang thai ........................................... 44

Biểu đồ 3.1. Cơ cấu đàn bò sữa tại huyện Ba Vì – Hà Nội ................................. 30
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ bệnh buồng trứng ở bò sữa ................................................... 48
Biểu đồ 3.3. Kết quả điều trị bệnh thể vàng tồn lưu ........................................... 51
Biểu đồ 3.4. Kết quả điều trị bệnh u nang buồng trứng ...................................... 53
Biểu đồ 3.5. Kết quả điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động....................... 55

ix


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao khoảng 1,2%/năm, tỷ lệ
tăng trưởng GDP đạt 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 14,2%/năm
và nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa của người Việt Nam luôn giữ mức tăng
trưởng cao. Năm 2010, trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 15 lít
sữa/năm/người. Dự báo đến năm 2020, con số này sẽ tăng gần gấp đôi, lên đến
28 lít sữa/năm/người. Các nhà chuyên môn đánh giá rằng tiềm năng phát triển
của thị trường sữa tại Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Phát huy những lợi thế sẵn có, trong những năm gần đây, thành phố Hà
Nội đã triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa. Đến nay,
Hà Nội là một trong những địa phương có đàn bò sữa đứng đầu trong cả nước. Đi
đầu trong phong trào phát triển chăn nuôi bò sữa tại Hà Nội phải kể đến huyện
Ba Vì.
Ba Vì là vùng bán sơn địa có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai và khí
hậu để phát triển chăn nuôi bò sữa. Những năm qua huyện Ba Vì có tốc độ phát
triển nhanh đàn bò sữa, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Tính
đến tháng 8 năm 2014, tổng đàn bò sữa tại Ba Vì đạt 8.045 con (tăng 90% so với
cùng kỳ năm 2010), chiếm 59% tổng đàn bò sữa trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên, huyện Ba Vì cũng như các địa phương khác thuộc miền bắc
nước ta có điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều nên với giống bò Hostein

dưỡng, ngoại cảnh... Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc
đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn. Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng
đạt từ 30 - 40% thể trọng lúc trưởng thành. Còn bò thịt với mức độ cao hơn 45 50% (Tăng Xuân Lưu, 1999).
Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để
đảm bảo cho sự phối giống phải từ 18 tháng tuổi trở lên (Theo Sipilop, 1976). Đối
với bò lang trắng đen Hà Lan cho ăn đầy đủ chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10 - 12
tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16 - 18 tháng tuổi. Tuổi phối giống lứa
đầu đối với bò sữa, độ tuổi 12 - 24 tháng tuổi, phối giống lần đầu tốt nhất vào lúc
15 - 18 tháng tuổi (Tăng Xuân Lưu, 1999).
Khi tuổi thành thục về tính cao do ảnh hưởng của khí hậu nóng ẩm của
nước ta và chế độ dinh dưỡng không thích hợp kéo theo tuổi đẻ lứa đầu thường là

3


cao: Bò vàng Việt nam đẻ lứa đầu từ 33 - 48 tháng tuổi. Bò sữa Hà - Ấn F2 (75%
máu bò Hà Lan) 46 – 48 ± 1,84 tháng (Nguyễn Kim Ninh, 1990).
Chức năng sinh sản của bò cái bị chi phối lớn bởi yếu tố do dinh dưỡng
trong đó có tuổi thành thục về tính, nếu dinh dưỡng kém thì kéo theo tuổi thành
thục về tính cao. Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) thì tuổi phối
giống lần đầu của bò vàng Việt Nam khoảng 20 – 24 tháng tuổi. Nếu môi trường
chăn nuôi kém hơn thì tuổi thành thục về tính có thể lên tới 33 – 48 tháng (Lê
Xuân Cương, 1997).
Theo Nguyễn Trọng Thiện (2009) nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng sự
thành thục về tính của bò cái, khi nhiệt độ môi trường là 10oC thì bò cái 10 tháng
tuổi thành thục về tính nhưng khi nhiệt độ 27oC thì phải đến 13 tháng tuổi mới
thành thục về tính với cùng giống bò. Ngoài ra sức khoẻ cũng ảnh hưởng lớn đến
việc thành thục về tính.
1.1.1.2. Chu kỳ động dục
Khi đã thành thục về tính thì những biểu hiện tính dục của bò được diễn ra

Ở bò chu kì động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường
kéo dài 25 - 36 giờ, chu kì động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài.
Chu kì động dục của bò dược chia làm 4 giai đoạn :
- Giai đoạn trước động dục
- Giai đoạn động dục
- Giai đoạn sau động dục
- Giai đoạn cân bằng sinh học
1.1.1.3. Sự thụ tinh
Sự thụ tinh không phải là sự kết hợp đơn giản giữa tinh trùng và tế bào
trứng mà là một quá trình đồng hoá và dị hoá lẫn nhau một cách phức tạp giữa hai
tế bào sinh dục. Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế bào mới gọi là hợp tử, sau
này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác với bố mẹ nhưng mang đặc
điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài.
Nguời ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai
đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng; tinh trùng vào tế bào trứng; sự hình thành
tiền hạch đực và tiền hạch cái; sự kết hợp giữa hai tiền hạch.
1.1.1.4. Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được
bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong. Trong thực tế, sự có thai

5


của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ. Thời gian
mang thai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dưỡng,
chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ và
tính biệt của thai. Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278 - 290
ngày và được chia làm 3 thời kì cơ bản gồm thời kì phôi (ngày 1 - 34), thời kì
tiền thai (ngày 35 - 60), thời kì bào thai (ngày 61 - đẻ).
Theo Nguyễn Xuân Trạch và Phạm Ngọc Thiệp (2004), độ dài thời gian

1.1.1.6. Sự phục hồi các hoạt động sinh dục sau đẻ
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004): sau khi đẻ
thì tử cung cần phải được hồi phục cả về mặt thực thể và sinh lý, buồng trứng phải
trở lại hoạt động chu kỳ bình thường để bò cái lại có thể có thai tiếp. Các quá trình
xảy ra trong giai đoạn sau khi đẻ chịu sự chi phối của một loạt yếu tố, chủ yếu là
quá trình tiết sữa và điều kiện dinh dưỡng, ngoài ra còn ảnh hưởng của tuổi, giống,
lứa đẻ, mùa vụ và ảnh hưởng từ con đực.
1.1.2. Sự điều tiết thần kinh thể dịch đến hoạt động sinh dục
Hoạt động sinh sản chịu sự điều tiết chặt chẽ của hệ thần kinh và thể dịch.
Hệ thần kinh thông qua các cơ quan nhạy cảm là nơi tiếp nhận tất cả các xung
động của ngoại cảnh vào cơ thể, trước tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là
vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) kích
thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH và LH. Hai hormone này theo mạch máu tác
động vào buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra
oestrogen.
Trong quá trình sinh lý bình thường khi gia súc đến tuổi trưởng thành, buồng
trứng đã có nang phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể đã có sẵn một
lượng nhất định về oestrogen. Chính hormone này tác động lên trung khu vỏ đại não
và ảnh hưởng đến vỏ đại não tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung
động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (là hormone giải phóng FRH và LRH).
FRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH. Kích tố này kích thích sự
phát triển của noãn nang buồng trứng, noãn nang phát triển trứng chín, lượng
oestrogen tiết ra nhiều hơn, Oestrogen tác động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp
đồng thời tác động lên trung tâm Hypothalamus, vỏ đại não gây nên hiện tượng
động dục, LRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra hormone kích thích hoàng
tố LH. LH tác động vào buồng trứng làm trứng chín muồi. Kết hợp với FSH làm

7





bao làm cho chu kỳ động dục của gia súc được trở lại hoạt động. Hiệu quả tác
động sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một số loại hormone khác như HTNC,
Oestrogen, LH ...
Cơ chế điều hoà hoạt động sinh sản của bò cái
Khí hậu, ánh sáng

Thức ăn, nước uống

Sterol tự nhiên
Gia súc đực

Khí hậu
Vỏ đại não

Hạ khâu não
(Hypothalamus)

GnRH

PRH
Phần trước tuyến yên

FSH

LTH

LH
Thể vàng

Prolactin có tác dụng kích thích tuyến vú phát triển và tiết sữa. Ngoài ra, nó
còn có tác dụng trong thời kỳ đầu có thai giúp cho thể vàng tồn tại trong buồng
trứng. Một số ý kiến khác cho rằng sự tiết ra prolactin của tuyến yên thực hiện
được nhờ kích thích thần kinh vùng dưới đồi thị và các phản xạ có điều kiện ở tử
cung đã có thai. Ngược lại, nếu tử cung không có thai thì tuyến yên không tiết ra
prolactin.
Oxytoxin là loại hormone do thuỳ sau tuyến yên tiết ra, Oxytoxin có tác
dụng đặc biệt là kích thích sự co bóp của tử cung, tăng cường sự co bóp của
tuyến sữa.
1.1.2.2. Kích tố buồng trứng, nhau thai và prostaglandine
Buồng trứng của gia súc cái ngoài chức năng tạo trứng còn tiết ra một số
loại hormone như: Estrogen, progesteron.
* Oestrogen
Oestrogen gồm 3 loại Oestradial, oestron và oestriol, trong đó oestradial có
tác dụng mạnh nhất, oestriol yếu nhất. Chúng có tính chất giống nhau đều là các
Steroid. Hoạt tính sinh lý mạnh nhất vẫn là oestradial, nó tồn tại dưới hai dạng

10


đồng phân α và β, trong đó oestradial 17β có hoạt tính sinh học mạnh hơn cả, lớn
hơn oestradial 17α tới 40 lần và hơn oesteron 10 lần.
Công dụng của oestrogen là kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, làm
cơ quan sinh dục tăng sinh và tiết dịch, giúp gia súc cái có những biểu hiện động
dục. Bằng thực nghiệm đã chứng minh rằng khi cho oestrogen vào cơ thể con cái
làm tăng khối lượng của dạ con và buồng trứng là do kết quả của sự tăng tổng hợp
protit và axit nucleic.
* Progesteron
Khi bao noãn chín, trứng rụng khỏi nang trứng tại nơi đó mạch quản và tế
bào sắc tố vàng phát triển thành thể vàng. Khi còn tồn tại và hoạt động thể vàng

axit béo không no, trong phân tử có chứa 20 nguyên tử hyđro nằm trong thành
phần photpholipit của màng tế bào. Tuỳ theo cách sắp đặt của các nguyên tử ở các
vị trí khác nhau, tùy cách kết hợp 2 nhóm hyđroxit và nhóm xeton mà chia thành 4
chất Prostaglandin. Tập hợp trong 4 nhóm chính được đặt tên là A, B, E, F, trong
đó 2 nhóm E và F có đặc tính sinh học mạnh nhất.
Từ năm 1966, Prostaglandin đã được bào chế tại các xí nghiệp lớn và được
sử dụng. Nguời ta đã tiến hành thử nghiệm dùng Estrumeta.
Prostaglandin để điều hoà chức năng sinh sản của bò cái và cừu cái (chất
này được tổng hợp tương tự như prostaglandin) giá trị của nó là hiệu lực mạnh gấp
100 lần (PGF2α) tự nhiên nhưng ảnh hưởng tới co rút cơ trơn tử cung chỉ bằng khi
dùng PGF2α tự nhiên (Lê Xuân Cương, 1993).
Tác dụng sinh học lớn nhất của Prostaglandin trong chăn nuôi là điều khiển
chức năng sinh sản. Người ta biết rằng thể vàng đóng một vai trò chủ chốt trong
việc điều khiển chu kỳ sinh dục của động vật.
Progesteron của thể vàng ức chế tiết kích dục tố của hệ thống
Hypothalamus và tuyến yên. Trong một thời gian dài người ta không rõ cơ chế nào
mà tới thời gian nhất định (thường là cuối chu kỳ sinh dục) thì thể vàng thoái hoá
và giảm lượng Progesteron. Tới năm 1966 (Baheoch) mới xác định được rằng chất
prostaglandin tăng lên trong dạ con vào cuối chu kỳ sinh dục đã gây ra sự tiêu biến
thể vàng. Ngày nay đã được nhiều nhà khoa học xác nhận trên nhiều loại vật nuôi
chung. Sự phát hiện này mở ra nhiều biến đổi cơ bản trong công nghiệp chăn nuôi
bởi vì khi tiêm prostaglandin (PGF2α) ngoại sinh cho phép kiểm tra chu kỳ sinh
dục, gây thoái hoá thể vàng vào bất kỳ giai đoạn nào của chu kỳ sinh dục và qua
cơ chế điều khiển ngược lại, tuyến yên sẽ thúc đẩy sự phát triển noãn bao ở buồng
trứng sẽ gây ra động dục và rụng trứng. Điều này tạo ra khả năng gây động dục

12


đồng loạt để tiến hành phối giống cho gia súc bằng thụ tinh nhân tạo trong cùng

được cân đối về protein, axit amin, khoáng, đường, vitamin....cho gia súc từng

13


giai đoạn cụ thể. Nếu khẩu phần thiếu khoáng đa lượng hay vi lượng cũng sẽ gây
rối loạn sinh sản. Đặc biệt, nếu cung cấp cho bò thiếu phốt pho thường xuyên thì
buồng trứng những con này sẽ nhỏ, sau khi đẻ thường chỉ động dục một lần, nếu
không phối kịp thời thì sau cai sữa mới động dục trở lại.
Còn khẩu phần cung cấp thiếu kẽm sẽ dẫn đến thiếu vitamin A. Nếu thiếu
vitamin A khi đó niêm mạc trong cơ thể sẽ khô cứng và sừng hoá, đặc biệt nếu
niêm mạc đường sinh dục bị sừng hoá làm cho hợp tử khó làm tổ, khó bám dính
vào niêm mạc tử cung dễ dẫn đến sảy thai. Do vậy, nếu cung cấp một lượng kẽm
đầy đủ và thường xuyên sẽ làm tăng độ mắn đẻ và làm giảm tỷ lệ chết của phôi
(Nguyễn Trọng Tiến và cs., 1991).
Ngoài P, Zn thì các nguyên tố Mg, Cu, Co, Mn, I cũng như Ca, Na, K và
một số nguyên tố khác cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình sinh sản ở động
vật nói chung và bò sữa nói riêng.
Thiếu Mg nội bào làm giảm hoạt tính bắp thịt từ đó làm kéo dài quá trình
sinh đẻ của gia súc làm nhau thai ra chậm sinh ra viêm tử cung từ đó chậm sinh.
Đồng và sắt trong cơ thể nằm ở những liên kết chức năng. Đồng giúp hấp
thu sắt và tổng hợp Hemoglobin tham gia vào chuyển huyết sắc tố điều tiết chức
phận da, lông. Những hợp chất của đồng kích thích trung tâm sinh dục bằng cách
thay đổi hoạt lực oxytoxin vào đảm bảo một biểu hiện động dục hoàn chỉnh.
Khi thiếu Mn, sự thành thục về tính ở bò chậm, có những chu kỳ không rụng
trứng. Ở động vật có chửa có thể gây chết thai trong bụng, đẻ con chết hoặc thai sinh
ra có sức sống kém (Nguyễn Trọng Tiến và cs., 1991).
* Tổ chức phối giống
Đây là khâu rất quan trọng trong sinh sản đặc biệt là công tác tổ chức phối
giống, nó ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và đẻ của gia súc cái. Các nhà nghiên cứu


Cân bằng
năng
lượng

Pha thể
vàng kéo
Năng suất sữa
cao

Vật chất
khô ăn vào
giảm

Động dục
ngầm

Chậm
động dục
sau đẻ

Tỷ lệ thụ
thai giảm

Sinh đôi

Bệnh tật trao
đổi chất tăng

Chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status