MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................................................................1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.............................................................................................................3
4. Những luận điểm bảo vệ......................................................................................................................4
5. Những điểm mới của đề tài.................................................................................................................4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.............................................................................................5
7. Cấu trúc luận án...................................................................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG BÌNH.....................................................................6
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan, sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường..........................................................6
1.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới...................................................6
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Cảnh quan ở Việt nam...................................................18
1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến cảnh quan tỉnh Quảng Bình...........21
1.2. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan..............................................24
1.2.1. Quan niệm Cảnh quan và Cảnh quan học..............................................................................24
1.2.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan..................................................26
1.3. Vấn đề sử dụng hợp lý TNTN và bảo vệ môi trường......................................................................41
1.3.1. Một số vấn đề về sử dụng hợp lý TNTN và BVMT..................................................................41
1.3.2. Mối quan hệ giữa cảnh quan và sản xuất lãnh thổ...............................................................43
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ THÀNH TẠO
CẢNH QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH.....................47
2.1. Đặc điểm các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Bình........................................47
2.1.1. Vị trí địa lý ..............................................................................................................................47
2.1.2. Đặc điểm địa chất – kiến tạo..................................................................................................48
2.1.3. Đặc điểm địa hình...................................................................................................................51
2.1.4. Nhân tố khí hậu......................................................................................................................55
4.1.1. Nguyên tắc, đối tượng, mục tiêu đánh giá cảnh quan Quảng Bình....................................127
4.1.2. Hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá..................................................................................127
4.1.3. Kết quả đánh giá...................................................................................................................140
4.2. Định hướng sử dụng hợp lý nguồn TNTN và BVMT tỉnh Quảng Bình...........................................149
4.2.1. Quan điểm và cơ sở của việc định hướng sử dụng TNTN và BVMT Tỉnh Quảng Bình ........149
4.2.2. Định hướng và giải pháp phát triển các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp, du lịch tỉnh
Quảng Bình.....................................................................................................................................161
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................................................. 175
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................... iii
ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế xã hội của một lãnh thổ lâu dài và bền vững thì vấn đề sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và khai thác các
nguồn lực, sử dụng có hiệu quả là những vấn đề hết sức quan trọng.
Cảnh quan của một lãnh thổ luôn có những thay đổi và phân hoá phức tạp.
Các thành phần cấu tạo cảnh quan có tính độc lập tương đối, song giữa chúng có
mối quan hệ chặt chẽ tạo thành một hệ thống động lực. Hệ thống đó tồn tại trong
trạng thái cân bằng động, một thành phần nào đó trong hệ thống thay đổi có thể sẽ
dẫn đến sự thay đổi của các thành phần khác và phá vỡ hệ thống cũ tạo nên một hệ
thống mới. Nếu khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tức là tác động vào
hệ thống tự nhiên một cách phù hợp với đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển của
chúng thì sẽ bảo vệ, tái tạo được nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo được sự
phát triển bền vững của lãnh thổ. Ngược lại, nếu con người khai thác, sử dụng tự
nhiên không tuân theo những quy luật thì sẽ mang lại những hậu quả lâu dài và
không lường trước được. Vì thế, việc nghiên cứu để tìm ra những đặc trưng, quy
phát triển kinh tế xã hội chỉ dừng lại ở mức độ phục vụ cho từng mục tiêu cụ thể,
chưa có công trình nghiên cứu, đánh giá một cách tổng hợp về điều kiện tự nhiên,
tài nguyên thiên nhiên trên toàn tỉnh. Để có một cách nhìn nhận tổng thể và hoàn
thiện hơn về đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Bình, nhằm
xây dựng những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội bền vững lâu dài, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên và
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trên toàn lãnh thổ thì có thể thấy rằng vấn
đề nghiên cứu, đánh giá cảnh quan tỉnh Quảng Bình là vấn đề hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, tác giả hiện đang là giảng viên, giảng dạy Địa lý tại trường Đại
học Quảng Bình, vì vậy vấn đề vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu vào thực tiễn nghiên cứu địa lý địa phương là một hướng nghiên cứu vừa có ý
nghĩa khoa học vừa mang ý nghĩa thực tiễn lớn.
Xuất phát từ những nhìn nhận trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường tỉnh Quảng Bình” để thực hiện nghiên cứu.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Xác lập được những luận cứ khoa học trên cơ sở phân tích, đánh giá cảnh
quan phục vụ cho việc phát triển bền vững kinh tế-xã hội nhằm sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
2
1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận của cảnh quan học, cảnh quan ứng dụng,
đánh giá cảnh quan và sử dụng hợp lý nguồn tài tài nguyên thiên nhiên, những cơ sở
lý luận về phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường và việc vận dụng vào
nghiên cứu cảnh quan tỉnh Quảng Bình.
- Trên cơ sở hệ thống các đơn vị cảnh quan đã được phân chia, tiến hành đánh
giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đối với các mục đích phát
triển kinh tế nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Quảng Bình. Đồng thời căn cứ thực
tiễn phát triển kinh tế-xã hội và định hướng phát triển kinh tế tỉnh Quảng Bình trong
thời gian tới đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trên lãnh thổ
nghiên cứu nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh
Quảng Bình.
4. Những luận điểm bảo vệ
- Tiếp cận cảnh quan học, phân tích tính đa dạng và phức tạp trong cấu trúc,
chức năng của cảnh quan - kết quả sự tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên
và kinh tế - xã hội có ý nghĩa khoa học, tính hiệu quả và sự phù hợp cao trong sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thổ nghiên cứu.
- Quảng Bình có tiềm năng lớn về tự nhiên, tài nguyên và kinh tế-xã hội, có sự
phân hóa đa dạng, phức tạp của các cảnh quan tự nhiên. Đánh giá tổng hợp điều
kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, xác định mức độ thích nghi của các đơn vị
cảnh quan đối với các mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch là cơ sở khoa
học và thực tiễn tin cậy để đề xuất các định hướng, các giải pháp phát triển kinh tếxã hội theo hướng phát triển bền vững lãnh thổ tỉnh Quảng Bình.
5. Những điểm mới của đề tài
- Đánh giá vai trò các nhân tố trong quá trình thành tạo cảnh quan tỉnh Quảng
Bình, làm rõ tính thống nhất và quy luật phân hóa của các yếu tố thành tạo cảnh
quan lãnh thổ.
- Xác lập được hệ thống phân loại cảnh quan và xây dựng bản đồ cảnh quan
tỉnh Quảng Bình tỷ lệ 1:100.000.
- Phân tích đa dạng cấu trúc, chức năng cảnh quan tỉnh Quảng Bình, làm rõ
những đặc trưng và quy luật phân hóa cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu.
- Đánh giá và xác lập được mức độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan đối
với sự phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp và du lịch trên địa bàn lãnh thổ
Quảng Bình.
- Nghiên cứu, đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế nông, lâm
PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN,
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG BÌNH
Đây là chương đầu tiên của luận án, trình bày những vấn đề về cơ sở lý luận,
phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan và hướng ứng dụng vào việc sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường gồm: Tổng quan các công
trình đã nghiên cứu ở trên thế giới và ở Việt Nam, các công trình ở Quảng Bình có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu và lãnh thổ nghiên cứu; Quan điểm tiếp cận,
phương pháp và quy trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý
TNTN và BNMT tỉnh Quảng Bình .
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận
nghiên cứu cảnh quan, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường.
Cảnh quan học là một bộ môn khoa học về địa lý tự nhiên tổng hợp. Cảnh
quan học là sự kế tục của địa lý tự nhiên đại cương, giữa chúng không có ranh giới
rõ rệt, những kiến thức cơ sở của địa lý tự nhiên đại cương là điều kiện để nghiên
cứu cảnh quan học. Cảnh quan học có ý nghĩa thực tiễn lớn lao về nhiều mặt và có
quan hệ trực tiếp tới vấn đề sử dụng tổng hợp và bảo vệ TNTN. Chính vì lẽ đó Cảnh
quan học đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành một ngành quan trọng
của địa lý tự nhiên hiện đại nghiên cứu về các thể tổng hợp địa lý tự nhiên.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cảnh quan học ngày càng gắn bó với nhu
cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, các xu hướng ứng dụng ngày càng rộng rãi,
đồng thời ngày càng hoàn thiện về cả lý luận, phương pháp nghiên cứu và ứng dụng
công nghệ hiện đại.
1.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới
1.1.1.1. Các tiền đề phát triển của học thuyết cảnh quan
Sự xuất hiện của bất kỳ học thuyết mới nào đều được chuẩn bị từ những phát
triển của nhiều ngành khoa học và nó ra đời khi có những tiền đề nhất định.
Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hướng nghiên cứu các
tổng hợp thể địa lý tự nhiên lãnh thổ đã ở vào giai đoạn phân tích các lượng thông
tin địa lý, khái niệm về tổng hợp thể địa lý tự nhiên đã được hình thành nhờ sự tiến
và cả những mối quan hệ biện chứng giữa các địa tổng thể với nhau. Để hoàn thành
nhiệm vụ này, cảnh quan học phải giải quyết hàng loạt các cặp phạm trù biện
chứng, với nhiều mâu thuẫn phức tạp.
Những ý tưởng về cảnh quan học thực tế có từ trong sự phát triển của các khoa
học tự nhiên bắt đầu vào thời kỳ giữa, cuối thế kỷ XIX. Trong thực tiễn khai thác tự
nhiên phục vụ sản xuất, những từ ngữ như: đài nguyên, rừng lá nhọn, thảo nguyên,
sa mạc…được dùng để chỉ những kiểu cảnh quan khác nhau đã xâm nhập vào trong
khoa học. Đến một giai đoạn nhất định, việc xem xét một cách toàn diện và đầy đủ
các ĐKTN, TNTN của một vùng trong tiến hành sản xuất đòi hỏi cần quan tâm đến
công tác phân vùng lãnh thổ, vào cuối thế kỷ XIX công tác này càng được tăng
7
cường. Có rất nhiều công trình phân vùng địa lý tự nhiên nước Nga đóng vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của khoa học cảnh quan trong suốt cả thế kỷ, song
các công trình này chủ yếu còn mang tính chất thực nghiệm, thiếu cơ sở lý luận và
học thuyết cảnh quan chính là cơ sở lý luận đó [50, 59, 61].
Bất cứ một khoa học nào cũng phải được chuẩn bị bằng những bước phát triển
của các khoa học trước đó và chỉ xuất hiện một cách có quy luật khi có những điều
kiện chín muồi nhất định, khoa học Cảnh quan cũng không nằm ngoài quy luật này.
Khi mà các ngành địa lý bộ phận (địa chất học, khí hậu học, địa mạo học…) đã
được kiện toàn một cách sâu sắc, địa sinh vật và thổ nhưỡng học đã trở thành các
lĩnh vực khoa học độc lập, vào cuối thế kỷ XIX địa lý tự nhiên hiện đại mới thực sự
được bắt đầu mà khoa học cảnh quan là một khoa học bộ phận.
Nền móng cảnh quan học được ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở 2
chiếc nôi lớn trên thế giới là Châu Âu và Bắc Mỹ với các công trình nghiên cứu về
sự phân chia tự nhiên bề mặt đất của nhiều nhà Địa lý Nga như: V.V. Docutraev,
L.S. Berge, G.N.Vưxotxki, G.F.Môrôzov,...ở Đức có Z.Passarge, A.Hettner... và
một số nhà địa lý ở Anh, Pháp, Mỹ.
thiên nhiên. Ông là người đầu tiên trình bày về tính đới như một quy luật thế giới,
quan niệm mỗi đới thiên nhiên hay còn gọi là đới lịch sử - tự nhiên là một tổng hợp
thể thiên nhiên có quy luật, quan điểm này không tìm thấy ở các nhà khoa học trước
đó và bản thân Ông cũng không nêu lên được tên gọi cho môn khoa học mới này,
song quan niệm của Ông đã được các học trò của Ông tiếp tục nghiên cứu về cả lý
thuyết lẫn thực tiễn và mang lại những kết quả đáng kể.
A.A.Iarilôv ngay sau đó cũng đã hiểu và cho rằng, chính quan điểm trên của
Đôcutsaev đã tạo nên bản chất của địa lý học hiện đại, của cảnh quan học.
Tiếp theo Đôcutsaev, một nhà bác học, nhà nghiên cứu địa lý Nga nổi tiếng
khác là L.S.Becgơ cũng đã khẳng định: các đới lịch sử-tự nhiên của Đôcutsaev
không có gì khác với các đới CQ và khoa học tương quan mà ông đã cố gắng tìm ra
cơ sở cho nó, đó chính là Cảnh quan địa lý. Ông cũng cho rằng chính Đôcutsaev với
những công trình nghiên cứu rất lớn, rất sâu sắc của Ông cả về lý thuyết và thực tiễn
chính là người đã đặt nền móng, người đã sáng lập ra địa lý học hiện đại, sáng lập ra
cảnh quan học.
A.N.Kraxnôv một trong những người học trò gần gũi của Dôcutsaev đã đưa ra
nhiều ý kiến và nhận thấy môn địa lý cũ thực tế đã tan rã thành nhiều môn khoa học
độc lập, vì vậy cần phải thành lập môn địa lý mới trên cơ sở của những thành tựu
mới về khoa học tự nhiên và kỹ thuật để nghiên cứu các mối liên hệ nhân quả và
những liên hệ phát sinh giữa các hiện tượng trên trái đất. Năm 1895 Kraxnôv đi tới
quan điểm cho rằng, địa lý phải nghiên cứu các thể tổng hợp địa lý. Sau đó, đến
năm 1910 ông đã nêu lên đặc trưng của những thể tổng hợp lớn ở trên trái đất.
G.F.Môrôdôv là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái
Đôcutsaev, chính ông là người đầu tiên suy nghĩ đến vấn đề địa lý ứng dụng.
Học thuyết về CQ là bước tiếp theo có tính chất tự nhiên của sự phát triển học
thuyết về thể tổng hợp địa lý và học thuyết về các đới tự nhiên của Đôcutsaev. Sự
9
tạo thiên nhiên phải dựa trên bản đồ cảnh quan [50, 51].
Vào những năm 30, 40 có nhiều công trình mở rộng tìm hiểu các đồng cỏ tự
nhiên ở Liên Xô, dựa trên đó L.G.Ramenxki đã nêu hàng loạt những khái niệm mới
trong lĩnh vực lý thuyết CQ, những quan điểm cơ bản trong học thuyết cảnh quan
10
được áp dụng nghiên cứu ở các miền thảo nguyên, đài nguyên, sa mạc...Có nhiều
nhà địa lý đã chú ý tới nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận của khoa học
CQ. Đáng chú ý là công trình nổi tiếng của L.S.Becgơ năm 1931,“Các đới cảnh
quan địa lý Liên Xô”, ông đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở học thuyết cảnh
quan, chỉnh lý, bổ sung lại định nghĩa đầu tiên của mình và đưa ra những ví dụ về
CQ, nhận xét về sự tác động tương hỗ giữa các cảnh quan và giữa các thành phần
của nó, ông cũng chỉ ra nguồn gốc của cảnh quan học. Tiếp sau đó các công trình
của một số nhà cảnh quan học, trong đó có A.N. Panômarep, M.A. Pecvukhin đã
quan niệm về kiểu cảnh quan, họ quan niệm CQ hay là “kiểu lãnh thổ” là tất cả
những bộ phân lãnh thổ cùng loại tương tự với nhau. Trong khi đó L.G. Ramenxki
lại có quan điểm rằng CQ là một hệ thống lãnh thổ phức tạp bao gồm những thể
tổng hợp tự nhiên cơ bản khác nhau, chúng liên hệ với nhau một cách có quy luật và
phát triển toàn vẹn, ông gọi đó là các Bì diện ; Ông cũng đưa ra các khái niệm Cảnh
khu là sự tập hợp các cảnh diện thích nghi với các dạng địa hình độc lập, các khái
niệm của ông đã đề cập đến động lực CQ. Cũng trong thời kỳ này, A.A.Grigôriep,
Kalexnik đã phát triển quan điểm rằng mỗi CQ có những đặc điểm không lặp lại và
phải được phân chia ở ngoài thực địa. Tuy vậy về phương pháp nghiên cứu cảnh
quan vẫn chưa có những bước tiến đáng kể.
Từ sau những năm 1945, Cảnh quan học Xô Viết mở rộng mạnh mẽ công tác
thực địa thành lập bản đồ cảnh quan cũng như tăng cường nghiên cứu về lý luận.
Năm 1947 N.A.Xôlntxev đã trình bày những tổng hợp lý luận đầu tiên, ông phát
triển các quan niệm về CQ trong các công trình trước đó của Ramenski, Kalexnik,
(Ixasenko, 1991) trên cơ sở địa lý học.
Trong quá trình sử dụng các phương pháp liên ngành, cách tiếp cận hệ thống
nghiên cứu quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa các thành phần cảnh quan,
nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần vật chất sống với môi trường
đã xuất hiện một hướng nghiên cứu mới Sinh thái cảnh quan.
Từ những năm 1990 trở lại đây hướng nghiên cứu CQ ứng dụng được các nhà
địa lý Nga và các nước Đông Âu quan tâm nghiên cứu và ngày càng có nhiều ứng
dụng vào thực tế phát triển KT-XH của các vùng, quốc gia, lãnh thổ trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu CQ, CQST của Nga và một số nước như Ucraina,
Belorutxia, Litva, Ba Lan, Tiệp Khắc…đều dựa trên cảnh quan học cơ bản và thống
nhất quan điểm trong nghiên cứu CQ ứng dụng cho các mục đích khác nhau.
Có thể kể đến một số tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu từ những năm
1990 trở lại đây như sau:
- Hướng nghiên cứu Phân vùng CQ lãnh thổ Liên Bang Nga có công trình của
GS.Viện sỹ I.P.Geraximov, phân chia Liên Bang Nga thành 17 miền CQ khác nhau
và được các nhà nghiên cứu Nga sử dụng để tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng trong
các mục đích xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
- Vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, GS. Viện sỹ Bacglanov tiến hành
nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng của CQ vùng Viễn Đông Liên Bang Nga, đưa ra
những cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ phát triển kinh tế -xã hội và đảm
bảo an ninh quốc phòng của đất nước.
12
- Ở Ucraina từ những năm 1990 trở lại đây, do nhu cầu thực tiễn phát triển
kinh tế-xã hội nên hướng CQ ứng dụng phát triển mạnh. Có các công trình của Viện
sỹ Marinhich nghiên cứu phân vùng CQST Ucraina, làm rõ quy luật, đặc điểm, quy
luật phát sinh, phát triển, đặc thù từng vùng, miền CQ cho phát triển KT-XH. GS.
Viện sỹ Sisenko đã tiếp tục thiết kế CQ lãnh thổ Ucraina, chú trọng CQ đồng cỏ
13
nhà địa lý Xô Viết. Tuy nhiên sau đó họ cũng đã chú ý tới lý luận địa lý của các nhà
nghiên cứu Xô Viết về các vấn đề NCCQ và xây dựng bản đồ CQ. Nhìn chung ở
các nước TBCN, quá trình nghiên cứu tiến tới cảnh quan học xảy ra chậm, mang
tính chất tự phát, chủ quan và duy tâm.
Từ sau những năm 1980 Cảnh quan học đã có sự kết hợp với Sinh thái học
xuất hiện một hướng nghiên cứu mới là Sinh thái cảnh quan. Đây là hướng nghiên
cứu phát triển mạnh mẽ và ứng dụng vào thực tiễn bắt đầu từ các nước ở Tây Âu và
Bắc Mỹ.
c) Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới.
Sinh thái học cảnh quan là một khoa học liên ngành nghiên cứu về CQ, đặc
biệt là về thành phần, cấu trúc, chức năng của CQ. Sinh thái học cảnh quan nghiên
cứu các mô hình cảnh quan, mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong mô hình
đó, và cách thức thay đổi của mô hình cảnh quan theo thời gian, cũng như các
nguyên tắc ứng dụng trong quá trình con người cải biến cảnh quan.
Theo các nghiên cứu của Wu.J và R.Hobbs, sinh thái học cảnh quan là khoa
học nghiên cứu và cải thiện các mối quan hệ giữa quá trình phát triển đô thị và hệ
sinh thái trong môi trường và các hệ sinh thái đặc trưng. Hai ông cũng chỉ rõ đặc
điểm nổi bật nhất của hệ sinh thái cảnh quan là sự nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa
các quá trình, mô hình và quy mô, cũng như tập trung vào các vấn đề sinh thái và
môi trường trên quy mô rộng. Các chủ đề nghiên cứu quan trọng trong hệ sinh thái
cảnh quan bao gồm sự thay đổi của hệ sinh thái trong cảnh quan, sử dụng đất và
thay đổi độ che phủ đất, nhân rộng, mô hình phân tích cảnh quan có liên quan với
quá trình sinh thái, bảo tồn cảnh quan và tính bền vững cảnh quan [152, 153].
Thuật ngữ Sinh thái cảnh quan được Carl Troll nhà địa lý học người Đức đưa
ra năm 1939, trong công trình này Ông đã phát triển nhiều khái niệm cơ sở cho
khoa học Sinh thái cảnh quan từ việc phân tích ảnh hàng không để nghiên cứu
tương tác giữa môi trường và thảm thực vật [149].
năm 1985 trở lại đây Sinh thái cảnh quan học phát triển một cách nhanh chóng, có
tầm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội với một số lượng lớn các công
trình nghiên cứu cả lý thuyết và ứng dụng trong các ngành sản xuất. Lý thuyết Sinh
thái cảnh quan nhấn mạnh vai trò của các tác động của con người trong cấu trúc và
chức năng cảnh quan. Đồng thời cũng đề xuất các phương pháp để khôi phục lại
cảnh quan bị suy thoái và nhận thức một cách rõ ràng Cảnh quan sinh thái bao gồm
cả con người như những thực thể gây ra sự thay đổi trong cảnh quan [139, 145].
Từ việc nghiên cứu các đặc trưng quan trọng của Sinh thái cảnh quan là cấu
trúc và chức năng (Forman và Godron năm 1986), đến nghiên cứu xây dựng các
cách phân loại chức năng cảnh quan (De Groot năm 1992), xây dựng bản đồ các
vùng sinh thái ở các nước Hà Lan, Hoa Kỳ, Mêxicô, Canađa,… đến nay Sinh thái
học cảnh quan đi sâu vào nghiên cứu đánh giá cảnh quan, tìm ra các mối liên hệ
trong cấu trúc và chức năng cảnh quan, phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử
dụng của các đơn vị cảnh quan (Troy và Wilson năm 2006, Meyer và Grabaum năm
2008), Sinh thái cảnh quan ngày nay gắn liền nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn
[129,131,134,138].
15
Có thể điểm qua một vài cột mốc đáng nhớ của sinh thái học cảnh quan thế
giới như sau [157]:
- Năm 1972: Tổ chức khoa học đầu tiên về sinh thái cảnh quan được thành
lập ở Hà Lan mở đầu cho việc thành lập các diễn đàn trao đổi của các nhà khoa học
về CQ.
- Năm 1981: Các bài viết về sinh thái cảnh quan Bắc Mỹ của Forman và
Gordon lần đầu xuất hiện trên tạp chí Bioscience.
- Năm 1982: Hiệp hội quốc tế về sinh thái học cảnh quan (IALE) được thành
lập tại hội thảo quốc tế lần thứ 6 về nghiên cứu sinh thái ở Piestany, Tiệp Khắc cũ.
- Năm 1983: Cuộc hội thảo về sinh thái cảnh quan mang tên Allerton Park
một số loài do yêu cầu của môi trường sống. Bên cạnh đó Sinh thái cảnh quan còn
có những nghiên cứu ứng dụng quan trọng hình thành nên các phương pháp, khái
niệm, quy trình phân tích cảnh quan trong nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa cảnh quan và tác động của các ngành sản
xuất giúp chúng ta quản lý các mối đe doạ đối với môi trường và có biện pháp bảo
tồn, sử dụng cảnh quan [130, 137, 143].
Có thể kể đến một số hướng nghiên cứu cơ bản về Sinh thái cảnh quan của các
tác giả trên thế giới và các công trình nghiên cứu của họ từ những năm 1990 đến
nay như sau [140]:
Bảng 1.1. Tổng hợp các công trình nghiên cứu Sinh thái cảnh quan
Nội dung nghiên cứu
Nhóm lý thuyết:
- Cảnh quan bền vững
- Nghiên cứu thực trạng hệ thống
sinh thái
Quốc gia
Tác giả nghiên cứu
Anh
Thụy Sỹ
Haines – Young (2000)
Poschin và Haines – Young (2001)
Karr (2000)
Pimentel et al (2001)
Barkamann et al (2001)
Kutsch et al (2001)
Potschin và Haines – Young (2001)
- Đánh giá môi trường cảnh quan
Anh
Bastian và Schreiber (1999)
Grabaum (1996)
Syrbe (1996)
Treweek (1999)
Hobbs và Sauders (1993)
- Phân tích sự tác động của các
thành phần chính hay tiểu
hệ thống trong cảnh quan
- Nghiên cứu đánh giá cảnh quan
đa chức năng
Nhóm nghiên cứu sự thay đổi và
quá trình phát triển:
- Lịch sử cảnh quan học
Úc
Thụy sỹ
Waffenshmidt và Postchin (1998)
Brandt et al (2000)
Châu Âu
Brandt và Vejre
Tress et al (2001)
Hà Lan
Slovakia
Thụy Điển
De Groot (1992)
De Groot et al (2001)
CSIRO (2001)
Turner et al (2001)
Costanza (2000)
Harm et al (1993)
Miklos (1988)
Mortberg và Wallentius (2000)
Mỹ
Lindsey (1999)
New Zealand
Anh
Pháp/Anh
Mỹ
Đức
Viles và Rosier (2001)
Barr và Petit (2001)
Baudry et al (2000)
Forman (1995)
Blaschke (2000), Blaschke và Petch
(1999), Jaeger (2001)
Opdam et al. (1995)
lý luận khoa học cảnh quan của các nhà khoa học Xô Viết, tùy vào từng giai đoạn
18
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà khoa học Địa lý nói chung và nghiên cứu
cảnh quan nói riêng có sự vận dụng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn.
Trong giai đoạn đầu tiên (từ 1954 đến 1980), các công trình chủ yếu phát hiện
sự phân hóa lãnh thổ theo hướng phân vùng địa lý tự nhiên: Trước tiên là công trình
phân chia Địa lý tự nhiên Việt Nam của T.N.Sêglova (1957) đã sử dụng hệ thống
phân vị đơn giản chỉ cấp vùng và á vùng. Năm 1961, V.M.Fridlan đã tiến hành phân
vùng địa lý tự nhiên với hệ thống phân chia gồm 5 cấp trong Thiên nhiên miền Bắc
Việt Nam theo dấu hiệu của quy luật phi địa đới.
Các công trình của các tác giả trong nước giai đoạn này trước hết phải kể đến
“Địa lý tự nhiên Việt Nam” của Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập năm 1963. Các tác
giả đã đưa ra hệ thống phân vị Địa lý tự nhiên Việt nam gồm 6 cấp dựa trên cả 2
quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới nhưng chưa có chỉ tiêu cho từng cấp phân
vị vì thế nên không thể áp dụng rộng rãi. Năm 1970, Uỷ Ban Khoa học và Kỹ thuật
Nhà nước đã nghiên cứu và tiến hành Phân vùng địa lý Tự nhiên lãnh thổ Việt Nam
với hệ thống gồm 7 cấp phân vị, ngắn gọn và tương đối hoàn chỉnh, có chỉ tiêu cho
từng cấp phân vị, đây là công trình có ý nghĩa lớn trong công tác điều tra và sử dụng
lãnh thổ. Cũng trong giai đoạn này đáng chú ý là công trình “Cảnh quan địa lý miền
Bắc Việt Nam” năm 1976 của Vũ Tự Lập đã tìm ra những đặc điểm, quy luật phân
hoá của địa lý Tự nhiên Việt Nam. Đây là công trình có giá trị về mặt lý luận, trong
đó tác giả cũng đưa ra một hệ thống phân vị mà mỗi cấp có một chỉ tiêu riêng xác
định, đưa ra khái niệm Cảnh địa lý và vận dụng quan điểm tổng hợp trong NCCQ
lãnh thổ Việt Nam, phản ánh được sự thống nhất biện chứng trong các quy luật
phân hoá Địa đới và Phi địa đới trong tự nhiên lãnh thổ Việt Nam [58,65,102, 126].
Có thể nói trong giai đoạn này cơ sở lý luận về khoa học cảnh quan đã được
các nhà Địa lý Việt Nam tiếp thu có hệ thống, vận dụng một cách linh hoạt phù hợp
dựng luận cứ khoa học để phục vụ cho một mục đích sử dụng lãnh thổ cụ thể nào
đó, cũng có những công trình điều tra về các nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu và phát triển các ngành
kinh tế. Có thể tổng hợp một số công trình tiêu biểu từ 1990 đến nay theo bảng sau:
Bảng 1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan về Quảng Bình
Thời
gian
1991
1992
1995
1997
1998
1998
2000
2003
2003
2003
2003
2004
2005
2006
Tên công trình nghiên cứu
Tác giả
Nghiên cứu Quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội hành lang quốc lộ 12A tỉnh Quảng
Bình
Nghiên cứu đánh giá phân hạng đất đai
tỉnh Quảng Bình theo phương pháp của
FAO-UNESCO bằng phần mềm ALES
phục vụ quy hoạch Nông-Lâm-Ngư
nghiệp bền vững
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
nuôi tôm trên cát và giải pháp khắc phục
Nghiên cứu về tuyến du lịch mạo hiểm
Phong Nha – Kẻ Bàng
22
Lê Đức An
Đối tượng nghiên
cứu
ĐKTN dải cồn cát
Nguyễn Thị Hiền, Khí hậu Quảng Bình
Nguyễn
Khanh
Vân - Viện Địa lý
Nguyễn Văn Phú, Quy hoạch lãnh thổ
Viện chiến lược
Lê Văn Tuấn, Sở Quy hoạch các khu
Kế hoạch đầu tư
Công nghiệp
Nguyễn
Xuân
Tặng và nnk, Viện
Địa Lý
Trương
Quang
Hải
và
nnk,
Trường ĐHKH Tự
Điều kiện nuôi tôm
trên dải cồn cát
Vườn QG Phong
Nha-Kẻ Bàng
Quy hoạch quốc lộ
12A
Đánh giá đất đai
Du lịch mạo hiểm
Vườn QG Phong
Nha-Kẻ Bàng
2006
Thu thập và chỉnh lý số liệu khí tượng
thủy văn Quảng Bình từ năm 1956 đến
năm 2005
các yếu tố thành tạo nên CQ tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên lãnh thổ Quảng Bình vẫn
chưa có công trình nào đánh giá một cách đầy đủ các ĐKTN và nguồn tài nguyên
thiên nhiên làm cơ sở khoa học cho việc SDHL toàn bộ lãnh thổ tỉnh Quảng Bình.
Công trình nghiên cứu cảnh quan đáng lưu ý đối với Quảng Bình là đề tài
Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan sinh thái và phương hướng sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên vùng gò đồi Quảng Bình của tác giả Nguyễn Văn Vinh, Viện
Địa lý năm 1996. Đây là một trong những tài liệu được tác giả sử dụng tham khảo
về cơ sở phương pháp nghiên cứu và ứng dụng đối với lãnh thổ nghiên cứu. Năm
1999, tác giả cũng đã thực hiện đề tài luận văn Thạc sỹ Nghiên cứu điều kiện tự
nhiên dải cồn cát ven biển Nam Quảng Bình đề xuất định hướng cải tạo và sử dụng
cho vùng đất khắc nghiệt này.
Bên cạnh đó các tài liệu nghiên cứu quan trọng cần được kể đến là nguồn báo
cáo, số liệu được các Sở, Ban ngành trong tỉnh nghiên cứu, bổ sung, cập nhật hàng
năm như: Báo cáo hiện trạng môi trường, Báo cáo tình hình sử dụng đất, Quy hoạch
các loại rừng...UBND tỉnh Quảng Bình, Sở kế hoạch và đầu tư năm 2009 đã tiến
hành Đánh giá môi trường chiến lược, phục vụ cho dự án quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Bình đến 2020 là những nguồn thông tin đáng tin
cậy mà tác giả đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
Trong xu hướng chung ngày càng sử dụng công nghệ hiện đại trong nghiên
cứu địa lý tổng hợp, năm 2010 tác giả đã cùng tham gia với tập thể tác giả Viện Tài
nguyên - Môi trường và phát triển bền vững Huế tiến hành nghiên cứu đề tài Ứng
dụng Công nghệ GIS và Viễn thám điều tra, đánh giá tổng hợp ĐKTN và TNTN
phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Bình. Đối với đề tài này tác giả đã thừa
kế một số kết quả biên hội về ĐKTN, TNTN, các kết quả khảo sát, thực địa và phân
23