Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình - Pdf 41

MỤC LỤC

TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHỤ LỤC.....................................................................................................ii
MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................................1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................2

CHƯƠNG I..................................................................................................5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ SỬ
DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỈNH QUẢNG BÌNH...............................................................5
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lý luận nghiên cứu cảnh quan, sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường..............................................5
1.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới..........................5
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam...........................................17
1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến cảnh quan tỉnh Quảng Bình...19

1.2. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan...............22
1.2.1. Quan niệm Cảnh quan và Cảnh quan học......................................................................22
1.2.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan tỉnh Quảng Bình..............24

1.3. Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên và bảo vệ môi trường......................39
1.3.1. Một số vấn đề về sử dụng hợp lý TNTN và BVMT..........................................................39
1.3.2. Mối quan hệ giữa cảnh quan và sản xuất lãnh thổ........................................................41

CHƯƠNG II...............................................................................................45
ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN TỈNH
QUẢNG BÌNH...........................................................................................45

3.2. Đặc điểm đa dạng cảnh quan tỉnh Quảng Bình.............................................100
3.2.1. Đa dạng cấu trúc cảnh quan tỉnh Quảng Bình.............................................................100

3.2.1.1. Cấp Lớp cảnh quan.................................................................................101
3.2.1.2. Cấp Phụ lớp cảnh quan............................................................................103
3.2.1.3. Cấp Kiểu cảnh quan................................................................................110
3.2.2. Đa dạng chức năng và động lực cảnh quan tỉnh Quảng Bình......................................111

CHƯƠNG IV...........................................................................................120
ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO MỤC ĐÍCH ĐỊNH HƯỚNG SỬ
DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỈNH QUẢNG BÌNH...........................................................120
4.1. Đánh giá cảnh quan tỉnh Quảng Bình cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp
và du lịch.......................................................................................................................120
4.1.1. Nguyên tắc, đối tượng, mục tiêu đánh giá cảnh quan Quảng Bình.............................121
4.1.2. Hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá..........................................................................121
4.1.3. Kết quả đánh giá:.........................................................................................................134

4.2. Định hướng sử dụng hợp lý nguồn TNTN và BVMT tỉnh Quảng Bình.......142
4.2.1. Quan điểm và cơ sở của việc định hướng sử dụng TNTN và BVMT Tỉnh Quảng Bình.
........................................................................................................................................................142
4.2.2. Định hướng và giải pháp phát triển các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp, du lịch tỉnh
Quảng Bình.....................................................................................................................................153

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................167
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................iii
PHỤ LỤC

ii


xã hội giữa miền Bắc và miền Nam, vì thế sự phân hoá của tự nhiên cũng như kinh
tế xã hội là hết sức phức tạp. Đây cũng là một trong những tỉnh nghèo, kinh tế xã
hội phát triển chậm so với các tỉnh khác trong khu vực và cả nước. Quảng Bình có
rừng núi, có đồng bằng duyên hải và giáp với biển, vì thế với tiềm năng vốn có
Quảng Bình có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện gồm cả công, nông, lâm,
1


ngư nghiệp và du lịch. Tuy nhiên tiềm năng để phát triển kinh tế của tỉnh còn rất lớn
nhưng vấn đề khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực mang tính bền vững lâu
dài và đồng bộ trên toàn lãnh thổ thì vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần được quan
tâm. Nhiều hoạt động kinh tế xã hội như phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị, du
lịch ở Quảng Bình trong những năm gần đây ít nhiều đã ảnh hưởng không tốt đến
môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Bình.
Trên thực tế ở Quảng Bình các công trình đã được nghiên cứu, ứng dụng vào
phát triển kinh tế xã hội chỉ dừng lại ở mức độ phục vụ cho từng mục tiêu cụ thể,
chưa có công trình nghiên cứu, đánh giá một cách tổng hợp về điều kiện tự nhiên,
tài nguyên thiên nhiên trên toàn tỉnh. Để có một cách nhìn nhận tổng thể và hoàn
thiện hơn về đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Bình, nhằm
xây dựng những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội bền vững lâu dài, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên và
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trên toàn lãnh thổ thì có thể thấy rằng vấn
đề nghiên cứu, đánh giá cảnh quan tỉnh Quảng Bình là vấn đề hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, tác giả hiện đang là giảng viên, giảng dạy Địa lý tại trường Đại
học Quảng Bình, vì vậy vấn đề vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu vào thực tiễn nghiên cứu địa lý địa phương là một hướng nghiên cứu vừa có ý
nghĩa khoa học vừa mang ý nghĩa thực tiễn lớn.
Xuất phát từ những nhìn nhận trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường tỉnh Quảng Bình” để thực hiện nghiên cứu.

quan, các yếu tố thành tạo cảnh quan tỉnh Quảng Bình. Xây dựng hệ thống phân
loại và bản đồ cảnh quan tỉnh Quảng Bình tỷ lệ 1:100.000.
- Phân tích cảnh quan tỉnh Quảng Bình làm cơ sở đánh giá tổng hợp điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mục đích phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp
và du lịch và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển trên quan điểm sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu.
4. Luận điểm bảo vệ
- Tiếp cận cảnh quan học, phân tích tính đa dạng và phức tạp trong cấu trúc,
chức năng của cảnh quan có ý nghĩa khoa học, tính hiệu quả và sự phù hợp cao
trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thổ nghiên cứu.
- Quảng Bình có tiềm năng đa dạng về tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội,
tạo nên sự phân hóa phức tạp của các cảnh quan tự nhiên từ lớp CQ đồi núi thấp
phía tây với những dạng địa hình caxtơ đến lớp CQ đồng bằng ven biển với dải cồn
cát trắng vàng, hình thành nên 6 phụ lớp gồm 130 loại CQ khác nhau. Đánh giá
tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, xác định mức độ thích nghi
của các đơn vị cảnh quan đối với các mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và du

3


lịch là cơ sở khoa học và thực tiễn tin cậy để đề xuất các định hướng, các giải pháp
phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển bền vững lãnh thổ tỉnh Quảng Bình.
5. Những điểm mới của đề tài
- Lần đầu tiên tiến hành nghiên cứu sự phân hóa đa dạng và có tính quy luật
của các thành phần tự nhiên trong hệ thống cảnh quan tỉnh Quảng Bình, từ đó xây
dựng được hệ thống phân loại cảnh quan, thành lập bản đồ cảnh quan tỉnh Quảng
Bình tỷ lệ 1:100.000.
- Đánh giá và xác lập mức độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan cho mục
đích phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp và du lịch trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình; là cơ sở đề xuất định hướng và các giải pháp cho phát triển nông, lâm

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam cảnh quan học ngày càng gắn bó với nhu
cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, các xu hướng ứng dụng ngày càng rộng rãi,
đồng thời ngày càng hoàn thiện về cả lý luận, phương pháp nghiên cứu và ứng dụng
công nghệ hiện đại. Để tiến hành NCCQ, ứng dụng vào thực tiễn sử dụng hợp lý
TNTN và BVMT tỉnh Quảng Bình, trước hết luận án nghiên cứu những vấn đề về
lý luận và phương pháp luận nghiên cứu gồm: Tổng quan các công trình đã nghiên
cứu ở trên thế giới và ở Việt Nam, các công trình ở Quảng Bình có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu; Quan điểm tiếp cận, phương pháp và quy trình nghiên cứu,
ĐGCQ phục vụ sử dụng hợp lý TNTN và BNMT.
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lý luận nghiên cứu cảnh
quan, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Cảnh quan học là một bộ môn khoa học về địa lý tự nhiên tổng hợp. Cảnh
quan học là sự kế tục của địa lý tự nhiên đại cương, giữa chúng không có ranh giới
rõ rệt, những kiến thức cơ sở của địa lý tự nhiên đại cương là điều kiện để nghiên
cứu cảnh quan học. Cảnh quan học có ý nghĩa thực tiễn lớn lao về nhiều mặt và có
quan hệ trực tiếp tới vấn đề sử dụng tổng hợp và bảo vệ TNTN. Chính vì lẽ đó Cảnh
quan học đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành một ngành quan trọng
của địa lý tự nhiên hiện đại nghiên cứu về các thể tổng hợp địa lý tự nhiên.
1.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới
1.1.1.1. Các tiền đề phát triển của học thuyết cảnh quan
Sự xuất hiện của bất kỳ học thuyết mới nào đều được chuẩn bị từ những phát
triển của nhiều ngành khoa học và nó ra đời khi có những tiền đề nhất định. Bất cứ
một khoa học nào cũng phải được chuẩn bị bằng những bước phát triển của các
khoa học trước đó và chỉ xuất hiện một cách có quy luật khi có những điều kiện
chín muồi nhất định, khoa học cảnh quan cũng không nằm ngoài quy luật này. Khi
mà các ngành địa lý bộ phận (địa chất học, khí hậu học, địa mạo học…) đã được
kiện toàn một cách sâu sắc, địa sinh vật và thổ nhưỡng học đã trở thành các lĩnh vực
khoa học độc lập; vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hướng nghiên cứu các tổng
hợp thể địa lý tự nhiên lãnh thổ đã ở vào giai đoạn phân tích các lượng thông tin địa


sự phân chia tự nhiên bề mặt đất của nhiều nhà Địa lý Nga như: V.V. Đôcutraev,
L.S. Berge, G.N.Vưxotxki, G.F.Môrôzov,...ở Đức có Z.Passarge, A.Hettner... và
một số nhà địa lý ở Anh, Pháp, Mỹ.
1.1.1.2. Những luận điểm cơ bản áp dụng để nghiên cứu cảnh quan
Cơ sở triết học của lý luận cảnh quan học coi tự nhiên là một hệ thống hoàn
chỉnh, trong đó các đối tượng, hiện tượng đều phát sinh, phát triển trong mối quan
hệ, tác động qua lại vô cùng mật thiết. Tự nhiên mà rộng nhất là lớp vỏ địa lý bao
6


gồm nhiều thành phần xâm nhập vào nhau (thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng
quyển, sinh quyển, khí quyển) và được cấu tạo từ các khu vực lớn, nhỏ được phân
hóa ra trong lịch sử phát triển hàng trăm triệu năm của Trái Đất. Các khu vực lớn
nhỏ này là các địa tổng thể hay các tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên, chúng là các khu
vực địa lý khác nhau về hình dạng bên ngoài và tính chất bên trong. Đây là đối
tượng nghiên cứu của Cảnh quan học.
Cảnh quan học có nhiệm vụ nghiên cứu các địa tổng thể, tìm hiểu mối quan hệ
biện chứng giữa các thành phần vật chất và năng lượng cấu tạo nên chúng và cả
những mối quan hệ biện chứng giữa các địa tổng thể với nhau. Để hoàn thành
nhiệm vụ này, cảnh quan học phải giải quyết hàng loạt các cặp phạm trù biện
chứng, với nhiều mâu thuẫn phức tạp.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, Cảnh quan học hiện đại bắt đầu phát triển
mạnh. Những nghiên cứu cấu trúc thiên về xác định định tính các tính chất CQ đã
sử dụng các biện pháp liên ngành, nhiều bộ môn khoa học CQ mới ra đời như: Địa
hóa học cảnh quan, địa vật lý cảnh quan, trạng thái học cảnh quan, sinh thái học
cảnh quan,…Trong quá trình sử dụng các biện pháp nghiên cứu liên ngành thì việc
sử dụng tiếp cận hệ thống, tiếp cận điều khiển, tiếp cận sinh thái,…cũng như việc
nghiên cứu các tác động kỹ thuật vào CQ đã tạo nên một bước ngoặt từ nghiên cứu
cấu trúc sang nghiên cứu chức năng, động lực trong nghiên cứu CQ.
Trong những năm gần đây, nhờ sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã giúp

Đôcutsaev không có gì khác với các đới CQ và khoa học tương quan mà ông đã cố
gắng tìm ra cơ sở cho nó, đó chính là Cảnh quan địa lý. Ông cũng cho rằng chính
V.V. Đôcutsaev với những công trình nghiên cứu rất lớn, rất sâu sắc cả về lý thuyết
và thực tiễn là người đã đặt nền móng, người đã sáng lập ra địa lý học hiện đại, sáng
lập ra Cảnh quan học.
A.N.Kraxnôv một trong những người học trò gần gũi của V.V. Đôcutsaev đã
đưa ra nhiều ý kiến và nhận thấy môn địa lý cũ thực tế đã tan rã thành nhiều môn
khoa học độc lập, vì vậy cần phải thành lập môn địa lý mới trên cơ sở của những
thành tựu mới về khoa học tự nhiên và kỹ thuật để nghiên cứu các mối liên hệ nhân
quả và những liên hệ phát sinh giữa các hiện tượng trên trái đất. Năm 1895
A.N.Kraxnôv đi tới quan điểm cho rằng, địa lý phải nghiên cứu các thể tổng hợp địa
lý, đến năm 1910 ông đã nêu lên đặc trưng của những thể tổng hợp lớn ở trên trái
đất và G.F.Môrôdôv, một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái V.V.
Đôcutsaev đã suy nghĩ đến vấn đề địa lý ứng dụng.
Học thuyết về CQ là bước tiếp theo có tính chất tự nhiên của sự phát triển các
học thuyết về thể tổng hợp địa lý và học thuyết về các đới tự nhiên của V.V.
Đôcutsaev. Sự xuất hiện của Cảnh quan học là một giai đoạn có tính quy luật trong
lịch sử phát triển của khoa học địa lý tự nhiên. Quan niệm khoa học về CQ dần dần
được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau bởi các nhà bác học Xô Viết trong
thời kỳ từ năm 1904 đến 1914.
Năm 1904, với nhiều công trình nghiên cứu ở các bộ môn địa lý khác nhau
G.I.Vưsôtxki đã đưa ra định nghĩa CQ một cách độc đáo, ông gọi CQ là “địa
8


phương” hay “châu tự nhiên”. Ông nêu lên mức độ phong phú bên trong của các
điều kiện sinh thành chính là dấu hiệu của từng địa phương, các địa phương khác
biệt nhau bởi đặc điểm kết hợp của các kiểu sinh thành (tức các bộ phận hình thái
CQ). Ông cũng có ý nghĩ thành lập các bản đồ về các kiểu sinh thành (tức bản đồ
cảnh quan), đây là cơ sở quan trọng để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp [31], [39].

9


bộ phận lãnh thổ cùng loại tương tự với nhau. Trong khi đó L.G.Ramenxki lại có
quan điểm rằng CQ là một hệ thống lãnh thổ phức tạp bao gồm những thể tổng hợp
tự nhiên cơ bản khác nhau, chúng liên hệ với nhau một cách có quy luật và phát
triển toàn vẹn, ông gọi đó là các Bì diện; Ông cũng đưa ra các khái niệm Cảnh khu
là sự tập hợp các cảnh diện thích nghi với các dạng địa hình độc lập, các khái niệm
của ông đã đề cập đến vấn đề động lực CQ. Cũng trong thời kỳ này, A.A.Grigôriep,
X.V.Kalexnik đã phát triển quan điểm rằng mỗi CQ có những đặc điểm không lặp
lại và phải được phân chia ở ngoài thực địa, gắn lý thuyết với thực địa. Tuy vậy về
phương pháp nghiên cứu CQ vẫn chưa có những bước tiến đáng kể.
Từ sau những năm 1945, Cảnh quan học Xô Viết mở rộng mạnh mẽ công tác
thực địa thành lập bản đồ CQ cũng như tăng cường nghiên cứu về lý luận. Năm
1947, N.A.Xôlntxev đã trình bày những tổng hợp lý luận đầu tiên, ông phát triển
các quan niệm về CQ trong các công trình trước đó của L.G.Ramenxki,
X.V.Kalexnik, đưa ra một nghĩa mới, rõ ràng hơn về hình thái CQ. Từ đó bắt đầu có
nhiều công trình nghiên cứu về lý luận CQ và các vấn đề liên quan như quần hệ
sinh vật, địa hoá học cảnh quan, phân vùng địa lý tự nhiên và hướng nghiên cứu
định lượng trong CQ cũng được quan tâm. Đầu tiên là các nghiên cứu của B.B.
Pôlưnôp, tiếp đó A.I. Pérelmen đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá
học trong CQ và yếu tố hoá học trong phân chia CQ. Tác giả M.A.Glazôpxkaia đã
tiến hành xây dựng những nguyên tắc phân loại địa hoá các CQ một cách cụ thể hơn
và đưa ra hệ thống phân loại các CQ địa phương. Hướng nghiên cứu địa vật lý cảnh
quan do A.L.Armand đề xuất, Ông đã sử dụng các phương pháp vật lý hiện đại để
nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên CQ [40].
Năm 1955, hội nghị chuyên đề Cảnh quan học được triệu tập ở Lêningrat và
liên tiếp sau đó là các Hội nghị khoa học về các vấn đề Cảnh quan học được tổ chức
gần như hàng năm. Từ đó các nhà nghiên cứu cảnh quan học Xô Viết đã dần hoàn
thiện lý luận, phương pháp nghiên cứu, ứng dụng Cảnh quan học, mở rộng các công

- Vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Bacglanov tiến hành nghiên cứu, đánh
giá tính đa dạng của CQ vùng Viễn Đông, Liên bang Nga, đưa ra những cơ sở khoa
học và cơ sở thực tiễn phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh quốc phòng
của đất nước.
- Ở Ucraina từ những năm 1990 trở lại đây, do nhu cầu thực tiễn phát triển
KT-XH nên hướng CQ ứng dụng phát triển mạnh. Có các công trình của Marinhich
nghiên cứu phân vùng CQST Ucraina, làm rõ quy luật, đặc điểm, quy luật phát sinh,
phát triển, đặc thù từng vùng, miền CQ cho phát triển KT-XH. Sisenko đã tiếp tục
thiết kế CQ lãnh thổ Ucraina, chú trọng CQ đồng cỏ Nam Ucraina. Các ứng dụng
trong tổ chức và quy hoạch lãnh thổ đều dựa trên bản đồ cảnh quan.
Ở Ba Lan sự quan tâm về các vấn đề CQ xuất hiện do sự ảnh hưởng của các
nhà nghiên cứu CQ Liên Xô. Năm 1959, E.Cônđratxơki đã xây dựng hệ thống phân
loại và thành lập bản đồ cảnh quan Ba Lan ở tỷ lệ 1/1.000.000. Xu hướng này cũng
được các nhà địa lý Tiệp Khắc vận dụng để nghiên cứu lãnh thổ Tiệp Khắc [33].

11


Cũng như các nước khác trên thế giới, ở Nga và các nước Đông Âu khoa học
CQ nói chung, nghiên cứu CQ và STCQ nói riêng ngày càng đi sâu vào nghiên cứu
đa dạng cấu trúc, chức năng và động lực phát triển của CQ. Bằng các phương pháp
nghiên cứu và hỗ trợ của công nghệ hiện đại, với nhiều cách tiếp cận khác nhau tuy
nhiên không ngoài mục đích NCCQ để ứng dụng vào các vấn đề phát triển KT-XH
của đất nước, các vùng miền, lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý TNTN, BVMT và phát
triển kinh tế xã hội một cách bền vững.
b) Sự phát triển của Cảnh quan học ở các nước khác trên thế giới.
Quan niệm về cảnh quan đã được nêu lên bởi một vài nhà địa lý từ đầu thế kỷ
XX như: Nhà địa lý người Anh A.Ghebecxơn năm 1905 cho rằng nhiệm vụ của Địa
lý học là sự phân chia và hệ thống hoá những thể tổng hợp và đưa ra các kiểu khu
vực thiên nhiên cơ bản của đất liền bằng cách xem xét những sự khác biệt chung

trường trên quy mô rộng. Các chủ đề nghiên cứu quan trọng trong hệ STCQ bao
gồm sự thay đổi của hệ sinh thái trong cảnh quan, sử dụng đất và thay đổi độ che
phủ đất, nhân rộng mô hình phân tích CQ có liên quan với quá trình sinh thái, bảo
tồn CQ và tính bền vững CQ [105], [106].
Thuật ngữ Sinh thái cảnh quan được Carl Troll nhà địa lý học người Đức đưa
ra năm 1939, trong công trình này Ông đã phát triển nhiều khái niệm cơ sở cho
khoa học STCQ từ việc phân tích ảnh hàng không để nghiên cứu tương tác giữa môi
trường và thảm thực vật [103].
Từ năm 1939 đến 1970, STCQ nghiên cứu trên nền tảng của Địa lý học dựa
trên việc nghiên cứu các thành phần địa lý, phát triển mạnh ở Đông Âu, Canađa và
Úc, được ứng dụng để nghiên cứu sinh thái các khu vực rộng lớn ở Nga và Canađa,
thành lập bản đồ hệ sinh thái, xây dựng các hệ thống CQ ở Nga.
Sau năm 1970, STCQ phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu với các công trình
nghiên cứu về phân loại thực vật và địa lý khu vực. Tuy nhiên các nghiên cứu này
chỉ mới tập trung nghiên cứu sự tác động của con người đối với CQ ở những khu
vực nhỏ. Những công trình nghiên cứu của các tên tuổi nổi tiếng thuộc trường phái
châu Âu như Carl Troll, Izaak Zonneveld, M.Godron hay Richard Forman đều bắt
nguồn từ Địa lý học, chủ yếu dựa trên phân tích ảnh hàng không, nhấn mạnh chủ
thể con người trong STCQ ở quy mô nhỏ và vai trò của văn hóa CQ. Ngoài ra, quan
niệm về sinh thái học cảnh quan của trường phái châu Âu còn tích hợp cả khoa học
sử dụng đất đai. Trường phái này phân loại CQ dựa trên các hệ thống “nhân tạo”
được xây dựng sẵn. Trường phái Tây Âu cũng xuất hiện từ lâu đời, gắn liền với
khoa học sinh thái hơn là khoa học cảnh quan [89], [93].
Trong khi đó, trường phái Sinh thái học cảnh quan ở châu Mỹ lại có nhiều
điểm tiến bộ hơn khi sử dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu của
mình như công nghệ viễn thám, GIS hoặc số liệu thống kê không gian. Đối lập với
trường phái châu Âu, đối tượng nghiên cứu của trường phái châu Mỹ là các hệ
thống tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như các công viên quốc gia. Các lý thuyết và mô
hình cũng được đầu tư phát triển. Trường phái này chỉ phát triển mạnh vào cuối
những năm 80 của thế kỷ trước [104], [106].

- Cũng trong năm 1984: Phiên họp đầu tiên về sinh thái học cảnh quan được
diễn ra tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội sinh thái học Hoa Kỳ.
- Năm 1986: Hội nghị sinh thái học cảnh quan Bắc Mỹ được diễn ra rại
trường đại học Georgia với 100 thành viên tham gia, do hai nhà khoa học Monica
Turner và Frank Golley chủ trì.
14


- 1986: Cuốn Landscape Ecology (Forman và Godron) được xuất bản, đây là
một trong những công trình nền tảng của lý thuyết nghiên cứu Sinh thái cảnh quan
học đầu tiên trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu sau đó đều vận dụng mô hình này
để phát triển.
- 1986: Hiệp hội quốc tế về sinh thái học cảnh quan Hoa Kỳ được thành lập.
- 1987: Tạp chí Landscape Ecology được xuất bản, do Frank Golley làm tổng
biên tập.
Từ những năm 1990 trở lại đây: Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng của STCQ
tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ứng dụng CQ và BVMT dựa trên công
nghệ nghiên cứu tiên tiến và hiện đại như Viễn thám, GIS, các mô hình không gian
để thành lập bản đồ CQ, bản đồ ĐGCQ. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu định
lượng trong phân tích, ĐGCQ mang lại các kết quả chính xác về các dữ liệu đất, các
yếu tố khí hậu, thảm thực vật và có giá trị thực tiễn lớn [100], [102], [106].
Việc phát triển lý thuyết STCQ gần đây đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa mô
hình không gian và quá trình biến đổi CQ. Một số nghiên cứu cho thấy rằng CQ có
những ngưỡng quan trọng mà tại đó quá trình sinh thái sẽ có những thay đổi lớn, ví
dụ sự thay đổi nhiệt độ và chuyển đổi hoàn toàn một số loài do yêu cầu của môi
trường sống. Bên cạnh đó STCQ còn có những nghiên cứu ứng dụng quan trọng
hình thành nên các phương pháp, khái niệm, quy trình phân tích cảnh quan trong
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa
cảnh quan và tác động của các ngành sản xuất giúp chúng ta quản lý các mối đe doạ
đối với môi trường và có biện pháp bảo tồn, sử dụng cảnh quan [86], [91], [97],

- Ứng dụng của cảnh quan trong
dự án

Đức
Áo

15


Nội dung nghiên cứu
Nhóm phương pháp:
- Phương pháp phân tích trạng
thái cảnh quan dựa trên các
nghiên cứu “base line survey”
- Định lượng phi chức năng

Quốc gia
Úc

Tác giả nghiên cứu
Lefroy et al (1991)
Dilworth et al (2000)

Đức

Leser và Klink (1988)
Zepp và Mũller (1999)

Đức


Mỹ

Úc
Anh
Mỹ
Hà Lan
Slovakia
Thụy Điển

Skanes (1996)
Vuorela (2001)
Konold (1996)
Turner (1989)
Turner et al (2001)
De Groot (1992)
De Groot et al (2001)
CSIRO (2001)
Turner et al (2001)
Costanza (2000)
Harm et al (1993)
Miklos (1988)
Mortberg và Wallentius (2000)

Mỹ

Lindsey (1999)

New Zealand
Anh
Pháp/Anh

nhiên
- Các ảnh hưởng của sự phá vỡ
cảnh quan và sự biến động dân số

Hà Lan

Hà Lan

Tóm lại, có thể thấy Cảnh quan học trên thế giới được hình thành, phát triển ở
Nga và Đông Âu vào cuối thế kỷ XIX gắn liền với việc nghiên cứu phân vùng địa lý
tự nhiên. Sau đó NCCQ được xuất hiện ở các nước khác như Đức, Tiệp Khắc, Ba
Lan... và phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới 2 cùng với nhiều khái niệm
mới trong NCCQ ra đời. Đồng thời Cảnh quan học đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố
thành tạo, thành lập bản đồ CQ. Bên cạnh đó xu hướng nghiên cứu các quần xã sinh
16


thái phổ biến ở các nước Tây Âu, xu hướng Sinh thái hoá đã xâm nhập vào CQ và
xuất hiện 2 trường phái nghiên cứu về Sinh thái cảnh quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Từ những năm 1980 trở lại đây, khoa học CQ và STCQ đã phát triển một cách
nhanh chóng về cả phương pháp nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn cùng với sự tiến
bộ của khoa học công nghệ. Cảnh quan học ngày càng đi sâu nghiên cứu đa dạng
cấu trúc, động lực, chức năng, mối quan hệ giữa CQ và sản xuất lãnh thổ, vận dụng
quan điểm ứng dụng và nghiên cứu CQ theo hướng sinh thái góp phần giải quyết
các vấn đề thực tiễn SDHL nguồn TNTN, BVMT và phát triển bền vững KT-XH.
1.1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu CQ chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận
khoa học Cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết, tùy vào từng giai đoạn phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước mà khoa học địa lý nói chung và nghiên cứu cảnh quan
nói riêng có sự vận dụng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn.

những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tiễn các vùng, miền lãnh thổ Việt Nam.
Những năm 1992 Hội Địa lý Việt nam đã có nhiều báo cáo khoa học về quan
điểm và phương pháp luận nghiên cứu STCQ như: Nguyễn Thế Thôn Bàn về Sinh
thái cảnh quan và Cảnh quan sinh thái (1993), Nguyễn Trần Cầu với Cảnh quan
học- Sinh thái học và việc nghiên cứu thành lập bản đồ Cảnh quan sinh thái
(1992),...Các báo cáo khoa học của Hội Địa lý Việt Nam năm 1995, 1996 đã nghiên
cứu về vấn đề tổ chức lãnh thổ và phân vùng lãnh thổ; Nguyễn Thế Thôn năm 2000
tiếp tục nghiên cứu “Về lý thuyết cảnh quan sinh thái”, năm 2001 đưa ra “Nguyên
tắc và phương pháp thiết kế mô hình kinh tế - môi trường trên cơ sở lý thuyết cảnh
quan sinh thái và cảnh quan sinh thái ứng dụng”.
Song song với việc nghiên cứu về lý luận là các công trình nghiên cứu và vận
dụng các vấn đề lý luận và phương pháp luận NCCQ vào thực tiễn CQ Việt Nam.
Năm 1991, Trương Quang Hải Phân kiểu cảnh quan Miền Nam Việt Nam; Năm
1993, tập thể tác giả thuộc Trung tâm Địa lý tự nhiên đã Nghiên cứu xây dựng bản
đồ cảnh quan lãnh thổ Việt Nam; Nguyễn Cao Huần, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm
Hoàng Hải đã nghiên cứu Các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam vào năm 1996;
Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh nghiên cứu xây
dựng Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
lãnh thổ môi trường Việt Nam năm 1997; Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn đã
nghiên cứu Phân loại cảnh quan nhân sinh Việt Nam (2000); Phạm Hoàng Hải
Nghiên cứu về các nguyên tắc và hệ thống phân vị cảnh quan Việt Nam (2000).
Theo hướng nghiên cứu này Phạm Hoàng Hải đã tiếp tục "Nghiên cứu đa dạng
cảnh quan Việt Nam, phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu"
năm 2006 và “Phân vùng sinh thái cảnh quan ven biển Việt Nam để sử dụng hợp lý
tài nguyên, bảo vệ môi trường”. Các công trình này đã đưa ra các hệ thống phân
loại khác nhau phù hợp với từng phạm vi lãnh thổ và mục đích nghiên cứu, đồng
thời đã cung cấp những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan
các vùng lãnh thổ Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau.

18

tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng và khắc nghiệt. Trước đây
việc nghiên cứu về lãnh thổ Quảng Bình còn rất hạn chế, chỉ có các công trình
nghiên cứu cho các lãnh thổ rộng hơn về Địa lý tự nhiên Việt Nam, dải ven biển
Việt Nam, miền Bắc Việt Nam, Bắc Trung Bộ, khu vực Bình Trị Thiên... và các
công trình có liên quan gần với nghiên cứu về ĐKTN và TNTN lãnh thổ Quảng
Bình như: Nghiên cứu Đất Bình Trị Thiên và hướng dẫn sử dụng của Tôn Thất
19


Chiểu (1986); Chương trình Đánh giá tổng hợp ĐKTN và TNTN, kinh tế xã hội tỉnh
Bình Trị Thiên của Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (1989).
Từ ngày tái lập Tỉnh trở lại đây (năm 1989), Quảng Bình được Nhà nước quan
tâm đầu tư phát triển KT-XH, khai thác tiềm năng vốn có để xoá đói giảm nghèo
tiến kịp với các tỉnh, thành khác trong cả nước. Vì vậy đã có nhiều đề tài, dự án cấp
tỉnh, cấp nhà nước nghiên cứu các vấn đề về ĐKTN và TNTN phục vụ cho mục
đích phát triển KT-XH. Đa số các công trình nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học
để phục vụ cho một mục đích sử dụng lãnh thổ cụ thể nào đó, cũng có những công
trình điều tra về các nguồn lực tự nhiên, TNTN để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ
cho nghiên cứu và phát triển các ngành kinh tế. Có thể tổng hợp một số công trình
tiêu biểu từ 1990 đến nay như sau:
Bảng 1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan về NCCQ tỉnh Quảng Bình
Thời
gian
1991
1992

1995

1996

Nghiên cứu về trữ lượng và chất lượng
mỏ khoáng sản ở Bố Trạch;
Điều tra môi trường nước nội thuỷ phục
vụ nuôi trồng thuỷ sản Quảng Bình
Điều tra cơ bản xây dựng bản đồ đất
Quảng Bình 2005- 2010
Xây dựng luận cứ khoa học để quy hoạch
và phát triển kinh tế miền Tây Q.Bình sau
khi xây dựng đường Hồ Chí Minh
Điều tra nghiên cứu tổng hợp địa chất
khoáng sản phục vụ phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường Quảng Bình
Nghiên cứu Di sản Thiên nhiên Thế giới
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
Nghiên cứu Quy hoạch phát triển kinh tế

20

Lê Đức An

Đối tượng nghiên
cứu
ĐKTN dải cồn cát

Nguyễn Thị Hiền, Khí hậu Quảng Bình
Nguyễn
Khanh
Vân - Viện Địa lý
Nguyễn Văn Phú, Quy hoạch lãnh thổ
Viện chiến lược

2005

Tên công trình nghiên cứu

Tác giả

xã hội hành lang quốc lộ 12A tỉnh Quảng
Bình
Nghiên cứu đánh giá phân hạng đất đai
tỉnh Quảng Bình theo phương pháp của
FAO-UNESCO bằng phần mềm ALES
phục vụ quy hoạch Nông-Lâm-Ngư
nghiệp bền vững
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
nuôi tôm trên cát và giải pháp khắc phục

2006

Nghiên cứu về tuyến du lịch mạo hiểm
Phong Nha – Kẻ Bàng

2006

Thu thập và chỉnh lý số liệu khí tượng
thủy văn Quảng Bình từ năm 1956 đến
năm 2005
Đánh giá sức chịu tải tới hạn của hệ sinh
thái môi trường tự nhiên - xã hội khu di
sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ
Bàng tỉnh Quảng Bình, đề xuất mô hình

Trần Nghi và nnk,
Trường ĐHKH Tự
nhiên

Điều kiện nuôi tôm
trên dải cồn cát
Du lịch mạo hiểm
Vườn Quốc gia
Phong Nha-Kẻ Bàng
Số liệu về Khí tượng,
thuỷ văn
Hệ sinh thái phục vụ
phát triển Du lịch
Vườn Quốc gia
Phong Nha-Kẻ Bàng

Các công trình nghiên cứu về ĐKTN, TNTN tỉnh Quảng Bình và một số vấn
đề ứng dụng trong việc khai thác tài nguyên để phát triển các ngành kinh tế - xã hội
của tỉnh Quảng Bình là những nguồn tài liệu quan trọng trong quá trình tác giả
nghiên cứu về các yếu tố thành tạo nên CQ tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên lãnh thổ
Quảng Bình vẫn chưa có công trình nào đánh giá một cách đầy đủ các ĐKTN và
nguồn TNTN làm cơ sở khoa học cho việc SDHL trên toàn lãnh thổ.
Công trình nghiên cứu CQ đáng lưu ý đối với Quảng Bình là đề tài Nghiên
cứu đặc điểm cảnh quan sinh thái và phương hướng sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên vùng gò đồi Quảng Bình của tác giả Nguyễn Văn Vinh, Viện Địa lý
năm 1996. Đây là một trong những tài liệu được tác giả sử dụng tham khảo về cơ sở
phương pháp nghiên cứu và ứng dụng đối với lãnh thổ nghiên cứu. Năm 1999, tác
giả cũng đã thực hiện đề tài luận văn Thạc sỹ Nghiên cứu điều kiện tự nhiên dải cồn
cát ven biển Nam Quảng Bình đề xuất định hướng cải tạo và sử dụng.
Bên cạnh đó các tài liệu nghiên cứu quan trọng cần được kể đến là nguồn báo

có thể nhóm CQ vào bậc liên kết cao hơn. Chuyển sang giai đoạn nghiên cứu sâu
cấu trúc không gian của cảnh quan, xem CQ là những hệ thống có cấu trúc không
gian phức tạp, là một hệ thống động lực hở và là hệ thống có tính chất phân bậc
lôgic, khẳng định Cảnh quan học đã tiến thêm một bước mới.
Trong quá trình phát triển, khái niệm “cảnh quan” dần dần được hoàn chỉnh,
mỗi khái niệm đánh dấu một bước phát triển của khoa học cảnh quan trên thế giới.
Lần đầu tiên L.S. Berge (1913) đã đưa ra khái niệm coi CQ như là một miền,
trong đó địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ sinh vật cũng như hoạt động của con
người được gắn kết thành một thể thống nhất, hài hòa, lặp lại một cách điển hình
trong một đới nhất định nào đó của Trái Đất. Quan điểm giải thích cảnh quan của

22


ông được các nhà địa lý Xô Viết như: L.G.Ramenxki, X.V.Kalexnik, N.A.Xontxep,
A.A.Grigôriep cùng nhiều nhà địa lý khác ủng hộ và phát triển [27, 50].
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, khoa học về CQ mới xác định rõ nhiệm vụ
và thực sự phát triển rộng rãi, hoàn thiện dần về cả lý thuyết, phương pháp luận,
phương pháp nghiên cứu.
Năm 1948, N.A.Xolsev đã phát triển trên cơ sở quan niệm của L.S.Berge, ông
đưa ra định nghĩa xác định: Cảnh quan là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh,
các thành phần địa chất, địa hình, khí hậu, đất và động thực vật có sự lặp lại một
cách điển hình và có quy luật. Năm 1962, ông đã đưa ra định nghĩa cụ thể và rõ
ràng hơn về CQ. Quan niệm này cho rằng CQ là một đơn vị cơ bản trong phân vùng
địa lý tự nhiên “…là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh,
có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu đồng nhất và
bao gồm một tập hợp các dạng địa lý chủ yếu và thứ yếu có liên kết với nhau về mặt
động lực, lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ thuộc riêng
cho cảnh quan đó mà thôi”. Với định nghĩa này, N.A.Xolsev đã xác định được cấu
trúc thẳng đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan [18],[31].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status