Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam
Nguyễn Viết Tuấn
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Năm bảo vệ: 2006
Abstract: Khái quát những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất. Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thời gian qua.
Đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật chuyển nhượng
quyền sử dụng đất: cần nhanh chóng có quy định thống nhất đối với việc cấp giấy
chứng nhận cho hai loại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản có trên đất. Nhà nước
cần có quy định để điều tiết thị trường quyền sử dụng đất. Hoàn thiện pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần tiến hành song song với cải cách thủ tục hành
chính. Quy định rõ các nghĩa vụ tài chính: xác định thu nhập phải chịu thuế và đảm
bảo công bằng giữa các chủ thể chịu thuế từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Keywords: Chuyển nhượng, Hợp đồng, Pháp luật dân sự, Quyền sử dụng đất, Đất
Content
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai được xác định là tài sản vô giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
địa bàn phân bổ các khu dân cư, các ngành kinh tế, là bộ phận cơ bản của lãnh thổ quốc gia,
là thành phần quan trọng bậc nhất của môi trường sống.
Đất đai có giá trị như vậy nên con người luôn luôn có mong muốn tác động vào nó
thường xuyên và tích cực để tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ đời sống cho
mình. Sự chuyển dịch đất đai từ chủ thể sử dụng này sang chủ thể sử dụng khác là một quy
luật vận động tất yếu. Luật đất đai 1993 cho phép chuyển quyền sử dụng đất là một bước đột
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý nghiên
cứu thực trạng của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, qua đó có đưa ra những đánh giá hoặc thậm chí làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các
quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói chung. Nay trên cơ sở đó, tác giả có sự
tổng hợp và kế thừa để nghiên cứu một cách có hệ thống, từ đó phân tích và đưa ra những
nhận định, đánh giá của mình về các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở nước ta.
Từ đánh giá thực trạng của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực
tiễn của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra trong nền kinh tế thị trường của
thời gian vừa qua, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về lĩnh vực này, tôi thấy rằng việc
nghiên cứu một cách có hệ thống và phân tích các quy định của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất để đưa ra biện pháp hoàn thiện nó có ý nghĩa rất lớn trong tình hình hiện
nay.
3. Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Pháp luật hiện hành quy định nhiều loại quan hệ chuyển dịch quyền sử dụng đất như
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, tặng cho, góp vốn,
thừa kế quyền sử dụng đất. Tác giả lựa chọn nghiên cứu một loại quan hệ được coi là phổ
biến và quan trọng nhất - quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá, những quy định về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất để góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Để đạt được mục đích trên tác giả đã đi sâu phân tích các khái niệm cơ bản, có liên
quan đến vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng và phân tích các nội dung của hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
13/5/2002 (Phần báo cáo này nằm trong khuôn khổ tham luận của đồng chí
Nguyễn Thị Kim Ngân, ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính tại hội
thảo của Ban kinh tế trung ương tổ chức tại Hà Nội ngày 14 và 15/5/2002).
3.
Bộ luật dân sự Việt Nam (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.
Bộ luật dân sự Việt Nam (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5.
Bộ luật Hồng Đức.
6.
Chính phủ (1999), Nghị định số 17/1999/NĐ-CP 29/03/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng
giá trị quyền sử dụng đất, Hà Nội.
7.
Chính phủ (2001), Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 về thủ tục
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, thế
chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, Hà Nội.
23. Quốc hội (2000), Luật sửa đổi, bổ sung thuế chuyển quyền sử dụng đất, Hà Nội.
24. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và phương hướng
nhiệm vụ công tác năm 2006 của ngành tòa án nhân dân, Hà Nội
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam
Nguyễn Viết Tuấn
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Năm bảo vệ: 2006
Abstract: Khái quát những vấn đề lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất. Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thời gian qua.
Đề xuất phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật chuyển nhượng
quyền sử dụng đất: cần nhanh chóng có quy định thống nhất đối với việc cấp giấy
chứng nhận cho hai loại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản có trên đất. Nhà nước
cần có quy định để điều tiết thị trường quyền sử dụng đất. Hoàn thiện pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần tiến hành song song với cải cách thủ tục hành
chính. Quy định rõ các nghĩa vụ tài chính: xác định thu nhập phải chịu thuế và đảm
bảo công bằng giữa các chủ thể chịu thuế từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Keywords: Chuyển nhượng, Hợp đồng, Pháp luật dân sự, Quyền sử dụng đất, Đất
Content
mở đầu
Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra với
nhiều phức tạp. Tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật vẫn diễn ra khá
phổ biến. Đây cũng là lý do chứng minh cho sự cần thiết để nghiên cứu tìm hiểu bản chất
pháp lý hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất so với những hợp đồng dân sự khác. Sự
nhận thức đúng đắn đầy đủ các quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
cấp thiết trong hoạt động thực tiễn khi thực hiện pháp luật và vận dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử của Toà án.
Những điều trình bày trên đây chính là lý do của việc chọn đề tài "Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" làm luận văn
thạc sĩ của học viên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý nghiên
cứu thực trạng của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, qua đó có đưa ra những đánh giá hoặc thậm chí làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các
quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói chung. Nay trên cơ sở đó, tác giả có sự
tổng hợp và kế thừa để nghiên cứu một cách có hệ thống, từ đó phân tích và đưa ra những
nhận định, đánh giá của mình về các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở nước ta.
Từ đánh giá thực trạng của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực
tiễn của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra trong nền kinh tế thị trường của
thời gian vừa qua, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về lĩnh vực này, tôi thấy rằng việc
nghiên cứu một cách có hệ thống và phân tích các quy định của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất để đưa ra biện pháp hoàn thiện nó có ý nghĩa rất lớn trong tình hình hiện
nay.
3. Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Pháp luật hiện hành quy định nhiều loại quan hệ chuyển dịch quyền sử dụng đất như
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, tặng cho, góp vốn,
thừa kế quyền sử dụng đất. Tác giả lựa chọn nghiên cứu một loại quan hệ được coi là phổ
References
1.
Nguyễn Mạnh Bách (1997), Luật dân sự Việt Nam lược giải, các hợp đồng dân sự thông
dụng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2.
Báo cáo về tổng kết chính sách đất đai, kiến nghị về sửa đổi Luật đất đai, ngày
13/5/2002 (Phần báo cáo này nằm trong khuôn khổ tham luận của đồng chí
Nguyễn Thị Kim Ngân, ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính tại hội
thảo của Ban kinh tế trung ương tổ chức tại Hà Nội ngày 14 và 15/5/2002).
3.
Bộ luật dân sự Việt Nam (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.
Bộ luật dân sự Việt Nam (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5.
Bộ luật Hồng Đức.
6.
Chính phủ (1999), Nghị định số 17/1999/NĐ-CP 29/03/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển
17. Luật đất đai Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. C.Mác (1973), Tư bản, tập 1, quyển 1, Nxb Sự thật, Hà Nội.
20. Phạm Hữu Nghị (2001), "Luật Đất đai năm 1993 qua hai lần sửa đổi, bổ sung", Nhà
nước và Pháp luật, (10).
21. Phạm Hữu Nghị (2002), "Về thực trạng chính sách đất đai ở Việt Nam", Nhà nước và
pháp luật, (8).
22. Quốc hội (2005), Luật nhà ở, Hà Nội.
23. Quốc hội (2000), Luật sửa đổi, bổ sung thuế chuyển quyền sử dụng đất, Hà Nội.
24. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và phương hướng
nhiệm vụ công tác năm 2006 của ngành tòa án nhân dân, Hà Nội
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.