Tiểu luận nhu cầu tiếp cận thông tin nghề qua các phương tiện thông tin đại chúng của học sinh THPT huyện bình liêu, tỉnh quảng ninh hiện nay - Pdf 41

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, công tác hướng nghiệp trong các trường THPT đã được
ngành GD-ĐT chú trọng hơn thông qua việc đưa môn học hướng nghiệp vào
giảng dạy như một môn học bắt buộc. Thế nhưng, trước mỗi mùa thi tuyển
sinh đại học, cao đẳng, THCN, không ít bạn vẫn băn khoăn với câu hỏi:
Chọn ngành nghề gì? Thi trường nào?... Do tâm lý lứa tuổi và cũng do
không nắm bắt được những thông tin về nhu cầu lao động một cách đầy đủ,
mà không ít học sinh đã đăng ký dự thi vào các trường ĐH, CĐ vượt quá
khả năng so với lực học của mình hoặc những trường được coi là “thời
thượng” hiện nay, nhưng khi tốt nghiệp ra trường nhiều người đã không thể
tìm được việc làm, hoặc làm không đúng ngành, nghề đã được đào tạo. Hệ
quả là tỷ lệ trúng tuyển không cao, nguồn nhân lực rơi vào tình trạng “thừa
thầy, thiếu thợ”… Trong khi đó, có rất nhiều doanh nghiệp lại không thể
tuyển được lao động vì không có nguồn.
Nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu có nguyên nhân chính là công tác
giáo dục, hướng nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu. Giáo dục hướng
nghiệp ở bậc THCS chỉ chiếm 0,91%, THPT: 1,77%, do vậy, hầu hết học
sinh phổ thông phải bước vào sự chọn lựa nghề hết sức khó khăn. Theo điều
tra của Viện Khoa học giáo dục, hằng năm ở nước ta tuyển vào bậc trung
học phổ thông trên 400 nghìn học sinh. Sau khi tốt nghiệp phổ thông có
khoảng 19,7% học sinh vào học ở các trường Đại học, Cao đẳng, 7,4% vào
các trường Trung học chuyên nghiệp và chỉ có 4,9% đi học nghề. Như vậy,
mỗi năm nước ta có 200 - 300 nghìn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học
và 50 nghìn học sinh tốt nghiệp THCS bổ sung vào lực lượng lao động xã
hội mà chưa hề được hướng nghiệp và đào tạo sau hướng nghiệp. Tính đến

1


năm 2005, một con số đáng giật mình là 80% lực lượng lao động nước ta

của phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Lê
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Viết Sự với “Khảo sát thực trạng giáo
dục hướng nghiệp ở một số trường phổ thông và trung tâm giáo dục kỹ thuật
tổng hợp - hướng nghiệp”.
…Ngoài ra, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu lớn của các tác
giả khác quan tâm đến vấn đề đào tạo hướng nghiệp này.
3. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đề tài mô tả thực trạng
tiếp cận thông tin nghề qua các phương tiện thông tin đại chúng và tiến hành
tìm hiểu nhu cầu về thông tin nghề của học sinh THPT huyện Bình Liêu.
Đồng thời đề xuất một số giải pháp góp phần thay đổi thực trạng hướng
nghiệp trong trường phổ thông ở huyện Bình Liêu hiện nay nói chung và
thực trạng thông tin nghề nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Thao tác hoá một số khái niệm liên quan: Nhu cầu, thông tin nghề,
học sinh THPT, nông thôn, hướng nghiệp.
Khảo sát thực trạng tiếp cận thông tin nghề qua các PTTTĐC của học
sinh THPT ở huyện Bình Liêu: Hoạt động thông tin nghề đã được thực hiện
hay chưa, nội dung, mức độ và hình thức hoạt động đang diễn ra hiện nay
nhu cầu thông tin nghề của học sinh.
Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy và nâng cao
hơn nữa vai trò của các PTTTĐC trong công tác hướng nghiệp cho học sinh
trường trung học phổ thông huyện Bình Liêu.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
3


4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Nhu cầu tiếp cận thông tin nghề qua các phương tiện thông tin

• Nhu cầu tiếp cận thông tin về các trường CĐ, ĐH của học sinh
luôn cao hơn nhu cầu tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo
nghề.
• Trong các hình thức của PTTTĐC thì các em mong muốn được
tiếp cận với thông tin nghề nhiều nhất là qua Internet
6.2. Khung phân tích
Thuyết minh các biến số:
• Biến độc lập: Đặc điểm cá nhân (giới tính, học lực), đặc điểm
gia đình (nghề nghiệp của bố mẹ, mức chi tiêu của gia đình).
• Biến trung gian: Thực trạng tiếp cận thông tin nghề qua các
phương tiện thuyền thông đại chúng của học sinh THPT ở
huyện Bình Liêu hiện nay.
• Biến phụ thuộc: Nhu cầu thông tin nghề của học sinh THPT ở
huyện Bình Liêu về:
+ Thông tin về các nghề đang có.
+ Thông tin về các trường Cao đẳng, ĐH
+ Thông tin về các lớp đào tạo nghề.
+ Thông tin về cách lựa chọn nghề phù hợp với bản thân.
• Biến can thiệp: Môi trường kinh tế - xã hội, các nguồn tiếp cận
thông tin nghề khác
• Khung phân tích:

5


Các nguồn tiếp cận thông tin nghề
khác như: nhà trường, gia đình,….

Đặc điểm cá nhân:
giới tính, học lực.

hiệnay

Các nghề đang có
Các trường Cao đẳng, ĐH
Các lớp đào tạo nghề
Cách lựa chọn nghề phù
hợp với bản thân

Môi trường kinh tế - xã hội

7. Ý nghĩa của đề tài.
Ý nghĩa lý luận:
Góp phần bổ sung lý luận về nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp trong
nhà trường THPT thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

6


Đề tài được tiến hành nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
của giáo dục hướng nghiệp trong trường học hiện nay bằng những đóng góp,
những khuyến nghị và các giải pháp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
học tập.
8. Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 4 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
và danh mục tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung được chia thành 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tiếp cận thông tin nghề qua các
phương tiện thông tin đại chúng.
Chương 2: Thực trạng tiếp cận thông tin nghề của học sinh THPT ở

quá trình lịch sử. Mức độ nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu về cơ
bản phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, trước hết là trình độ phát
triển kinh tế. Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất và toàn xã hội
phát triển. Đặc điểm nhu cầu của các tầng lớp nhân dân được hình thành tuỳ
theo địa vị của họ trong nền sản xuất xã hội, tuỳ thuộc vào đặc trưng nhân
khẩu, chủng tộc, dân tộc… và các điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên” .
Và “Nhu cầu được phân thành nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau.
Cơ cấu nhu cầu biến động khác nhau theo giai cấp, theo các tầng lớp dân cư,
theo các vùng lãnh thổ, tuỳ theo thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội. Xác định
nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách
phát triển kinh tế và quản lý kinh tế” . Đây là quan niệm về nhu cầu đầy đủ
và mang tính xã hội học hơn cả.
Vận dụng các quan điểm trên vào trong quá trình nghiên cứu đề tài,
nhu cầu được định nghĩa như sau: Nhu cầu là sự mong muốn được tiếp cận
với thông tin nghề của học sinh nhằm hiểu rõ về các nghề đang tồn tại từ đó
lựa chọn được nghề phù hợp với sức khoẻ, trình độ của bản thân, đáp ứng
nhu cầu lao động xã hội”.
1.2. Thông tin nghề.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào
tạo con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản
phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Như vậy thông tin nghề được hiểu đó là việc giới thiệu cho các em
học sinh về những nghề đang có hiện nay, giới thiệu về hệ thống các trường
CĐ, ĐH và các lớp đào tạo nghề ở trung ương và địa phương, cách lựa chọn
nghề phù hợp với bản thân.
1.3. Học sinh THPT.
9


Học sinh THPT là nhóm đối tượng nằm trong độ tuổi từ 16 – 18, hiện

hợp với ngành giáo dục thực hiện.
Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam IX đã nêu “Coi trọng công
tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên,
thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.
Luật giáo dục cũng khẳng định rằng: “Giáo dục THPT nhằm cung ứng
những kiến thức thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để học sinh tiếp
tục học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống”.
Năm 2001, Thủ tướng chính phủ đã đưa ra chỉ thị số 14/2001/CT –
TTg về việc “Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để thực hiện Nghị
quyết số 40/2000/GH10 của Quốc hội khoá X”. Trong chỉ thị ghi rõ: Trước
yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, sự phát triển nhanh
và mạnh mẽ của khoa học – công nghệ nói chung và khoa học giáo dục nói
riêng cần phải đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Trong chỉ
thị đã đề ra 4 mục tiêu:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Đổi mới phương pháp dậy và học, phát huy tư duy sang tạo và năng lực
tự học của học sinh phổ thông.
Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân luồng sau THCS và THPT,
chuẩn bị tốt cho học sinh học tiếp ở bậc sau Trung học và tham gia lao
động ngoài xã hội…
Chỉ thị cũng đề ra nguyên tắc cần phải đảm bảo khi đổi mới chương trình
và sách giáo khoa phổ thông, trong đó có nguyên tắc: “Chọn lọc, đưa vào
11


chương trình các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phù hợp với khả

nghề nghiêm túc.
Tăng cường việc chỉ đạo triển khai thực hiện quy chế về tổ chức và
hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp để các trung tâm
này thực hiện tốt nội dung giáo dục nghề phổ thông trong chương trình
THCS và THPT.
Các cấp quản lý giáo dục cần quán triệt chủ trương xã hội hoá giáo
dục trong chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp.
Trong phương hướng, nhiệm vụ của năm học 2004 – 2005 và giải
pháp nâng cao chất lượng toàn diện của Bộ giáo dục và đào tạo ghi rõ: “Tiếp
tục thực hiện chỉ thị số 32/2003/CT – BGD & ĐT ngày 23/07/2003 về tăng
cường giáo dục hướng nghiệp và dậy nghề nhằm góp phần thực hiện phân
luồng trong đào tạo”.
Như vậy, qua các văn kiện, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, ta có thể
thấy rằng việc hướng nghiệp với nội dung cơ bản là thông tin nghề luôn
nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của Đảng và nhà nước.

13


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TIẾP CẬN THÔNG TIN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT
Ở HUYỆN BÌNH LIÊU HIỆN NAY
1. Vài nét về địa bàn và đối tượng nghiên cứu.
1.1. Huyện Bình Liêu.
Bình Liêu là huyện miền núi ở cực Bắc của tỉnh Quảng Ninh, cách
thành phố Hạ Long 130km, cách thị trấn Tiên Yên 40km, phía Bắc có
48,2km đường biên giới giáp Trung Quốc, phía đông giáp huyện Quảng Hà,
phía Tây giáp huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp huyện Tiên
Yên.
Bình Liêu có diện tích tự nhiên 47.138ha, địa hình núi non trùng điệp.

lợi thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn của
huyện.
Về văn hoá – giáo dục: Công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân được đẩy mạnh, đặc biệt là hoạt động giáo dục đã được
chú trọng phát triển. Theo báo cáo của UBND huyện Bình Liêu năm 2008
thì lĩnh vực giáo dục đã có những bước chuyển biến mới, số học sinh yếu
kém ở THPT giảm 22,4% , tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp là 69,7% tăng 43%
so với năm trước…Tuy nhiên số học sinh khá giỏi chỉ đạt 29,9%, giảm 9,8%
so với năm học trước, số học sinh bỏ học vẫn diễn ra ở hầu hết các cấp học
và có chiều hướng gia tăng, chất lượng dậy và học đã được nâng lên nhưng
vẫn còn một số tồn tại: Năng lực chuyên môn của giáo viên còn yếu, mối
quan hệ giữa gia đình và nhà trường chưa chặt chẽ, cơ sở vật chất còn nhiều
thiếu thốn và khó khăn… nên hiệu quả giảng dậy còn nhiều hạn chế.
1.2. Trường THPT Bình Liêu.

15


Trường THPT Bình Liêu là trường cấp 3 duy nhất của huyện Bình
Liêu được thành lập năm 1984 tại khu Bình Công II, thị trấn Bình Liêu,
huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Trải qua quá trình phát triển hiện nay
trường đã có 6 lớp 10, 5 lớp 11 và 5 lớp 12 với tổng số học sinh cả trường là
635 học sinh. Đội ngũ giáo viên của trường gồm 32 giáo viên.
Cơ sở hạ tầng của trường đã đáp ứng được hoạt động dậy và học của
giáo viên, học sinh. Trường học được xây dựng gồm 3 tầng với 14 phòng
học và 2 phòng máy vi tính (có 50 máy). Các thiết bị phục vụ cho các môn
học cần thực hành như hoá, sinh, lý đã được trang bị khá đầy đủ.
Do trường THPT Bình Liêu là một trường thuộc khu vực miền núi,
điều kiện đi lại còn nhiều khó khăn nên vẫn còn một số học sinh bỏ học giữa
chừng. Tuy nhiên có những học sinh đã cố gắng học tập và thi đỗ vào các

Nghề nghiệp
Nông dân
Công nhân
Công chức nhà nước
Kinh doanh buôn bán
Hưu trí
Khác
Tổng

Cha (%)
62,7
2
24,7
6
2
2,6
100

Mẹ (%)
62,7
4
20
10
2
1,3
100

2. Thực trạng tiếp cận thông tin nghề qua các PTTTĐC của học
sinh THPT Bình Liêu
Trong những năm qua, hầu hết học sinh trong trường đã được tiếp cận

thứ ba sau mức độ tiếp cận thông tin về các trường CĐ, ĐH và thông tin về
cách lựa chọn nghề phù hợp với bản thân.
Học sinh được tiếp cận thông tin về các nghề đang có chủ yếu là qua
Tivi (chiếm 66%), ngoài ra còn được tiếp cận qua Internet (chiếm 49,3%).
Lý thuyết tiếp nhận đã chỉ ra rằng người xem Tivi nhiều sẽ có hành động và
quan điểm đồng nhất hơn là những người ít xem. Do vậy cần phát huy ưu
điểm này để các em học sinh được tiếp cận với thông tin về các nghề đang
có một cách hiệu quả nhất.
Biểu 2: Học sinh được tiếp cận thông tin về các nghề đang có qua PTTTĐC.

Qua các PTTTĐC, học sinh chủ yếu được tiếp cận với thông tin về
các nghề đang có ở địa phương (chiếm 56%) và các nghề đang có ở Việt
Nam (chiếm 55%), còn thông tin về các nghề đang có trên Thế giới học sinh
hầu như không được tiếp cận. Trong thời kỳ nước ta đang hội nhập kinh tế
quốc tế thì việc học sinh am hiểu về nghề nghiệp là rất cần thiết, do vậy các

19


PTTTĐC cần giúp học sinh tiếp cận với thông tin về các loại nghề đang có
một cách đầy đủ hơn nữa.
Cuộc khảo sát tại trường THPT Bình Liêu cho thấy mức chi tiêu của
gia đình các em học sinh chủ yếu nằm trong khoảng dưới 400 (nghìn
đồng/người/tháng) chiếm hơn 50%. Những gia đình học sinh có mức chi tiêu
trên 800 nghìn/người/tháng chiếm tỷ lệ không nhiều với 22%. Có thể thấy
mức chi tiêu của người dân ở nông thôn vẫn còn thấp, điều này cũng ảnh
hưởng một phần đến việc tiếp cận thông tin nghề của học sinh qua các PTTT
ĐC. Những học sinh sống trong các gia đình có mức chi tiêu dưới 200 nghìn
đồng/người/tháng chủ yếu được tiếp cận thông tin về các nghề đang có qua
Tivi (chiếm 23,2%) một loại phương tiện truyền thông phổ biến ở nông thôn.

Biểu 3 : Học sinh tiếp cận thông tin về các trường CĐ, ĐH qua các
PTTTĐC.

21


Mức chi tiêu hàng tháng của gia đình cũng ảnh hưởng tới việc tiếp cận
thông tin về các trường CĐ, ĐH của học sinh. Điều này thể hiện rõ: Những
học sinh sống trong các gia đình có mức chi tiêu dưới 400 nghìn
đồng/người/tháng thường được tiếp cận thông tin này qua Tivi và Đài. Còn
những học sinh sống trong các gia đình có mức sống từ 400 nghìn
đồng/người/tháng trở lên thường được tiếp cận thông tin này qua Internet.
Như vậy, qua các PTTTĐC học sinh được tiếp cận thông tin về các
trường CĐ, ĐH nhiều nhất, chủ yếu tiếp cận từ Tivi và Internet. Học sinh
sống trong những gia đình trung bình thường tiếp cận thông tin về các
trường CĐ, ĐH qua Tivi, còn học sinh sống trong những gia đình khá giả
thường được tiếp cận qua Internet.
2.3.Thực trạng tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề.
Học sinh được tiếp cận thông tin về các lớp đàp tạo nghề qua các
PTTTĐC rất hạn chế, đa số học sinh chỉ được tiếp cận 1lần/tháng. So với
các nội dung khác của thông tin nghề thì thông tin về các lớp đào tạo nghề
học sinh được tiếp cận ít nhất. Cần tạo điều kiện để các em tiếp cận với
thông tin này nhiều hơn nữa.
Đối với thông tin về các lớp đào tạo nghề học sinh được tiếp cận rải
rác qua các loại PTTTĐC, trong đó tiếp cận qua Internet là nhiều nhất
(chiếm 39,3%), qua Tivi là 37,3% , qua Báo là 36,7%, qua Đài là 26,7%.
Như vậy thông tin về các lớp đào tạo nghề đã được giới thiệu qua cả 4
PTTTĐC phổ biến hiện nay, điều này giúp học sinh tiếp cận với thông tin về
các lớp đào tạo nghề một cách dễ dàng hơn.
Qua các PTTTĐC học sinh được tiếp cận với thông tin về các lớp đào


24

Mức chi tiêu hàng tháng của người dân nông thôn còn thấp, do vậy
ảnh hưởng tới việc được tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề của học
sinh. Cuộc khảo sát tại trường THPT Bình Liêu cho thấy học sinh sống trong
những gia đình có mức chi tiêu dưới 200 nghìn đồng/người/tháng chủ yếu
được tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề qua Tivi, còn những gia đình
có mức chi tiêu từ 200-600 nghìn đồng/người/tháng thì học sinh được tiếp
cận qua Đài và Báo, những học sinh sống trong các gia đình khá giả được
tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề qua Internet chiếm đa số so với
những học sinh khác.
Như vậy, học sinh được tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề qua
các PTTTĐC còn rất hạn chế. Học sinh được tiếp cận thông tin này rải rác
qua các loại phương tiện truyền thông, chủ yếu là thông tin về các lớp đào
tạo nghề ở địa phương. Điều kiện kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng một phần
đến việc tiếp cận thông tin về các lớp đào tạo nghề của học sinh.
2.4. Thực trạng tiếp cận thông tin về cách lựa chọn nghề phù hợp với
bản thân.

23


So với các nội dung khác của thông tin nghề thì tỷ lệ học sinh được
tiếp cận từ 4lần/tháng đối với thông tin về cách lựa chọn nghề phù hợp với
bản thân xếp vị trí thứ hai (chiếm 68,5%).
Tỷ lệ học sinh được tiếp cận thông tin về cách lựa chọn nghề phù hợp
với bản thân và thông tin về các nghề đang có qua Internet là ngang nhau
(đều chiếm 49,3%) . Đây cũng là loại phương tiện truyền tải nhiều thông tin
nghề nhất so với các loại phương tiện truyền thông khác. Cần phát huy ưu

kết quả cho thấy là:
Trong nhà trường học sinh thường xuyên được tiếp cận thông tin nghề
nhất (chiếm 81,5%),

kế tiếp là trong gia đình (chiếm 80%), qua các

PTTTĐC chiếm tỷ lệ thấp nhất (với 65,8%). Như vậy nhà trường đã chú
trọng đến việc hướng nghề cho học sinh hơn là gia đình và các PTTTĐC.
Biểu 4: Mức độ tiếp cận thường xuyên với thông tin nghề của học sinh trong
nhà trường, trong gia đình và qua các PTTTĐC.

Học sinh được tiếp cận thông tin về cách lựa chọn nghề phù hợp với
bản thân nhiều nhất (chiếm tới 78,3%), còn việc tiếp cận thông tin về các
nghề đang có và thông tin về các trường CĐ, ĐH là gần như tương đương
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status