Nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh THPT huyện xuyên mộc tỉnh bà rịa – vũng tàu - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ TRÚC

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÍ CỦA HỌC
SINH THPT HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ QUỐC MINH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


LỜI CẢM ƠN

Người nghiên cứu đề tài xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Các Thầy (Cô) giáo trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy
trong suốt năm tháng học cao học.
- TS. Trần Thị Quốc Minh - Người hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo trong quá
trình hoàn thành luận văn.
- Ban giám hiệu và các Thầy (Cô) giáo của trường THPT Xuyên Mộc, Hòa Bình, Phước
Bửu, Hòa Hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình nghiên cứu thực trạng.
Người nghiên cứu cũng xin được cảm ơn các em học sinh của trường THPT Xuyên Mộc,
Hòa Bình, Phước Bửu, Hòa Hội đã cộng tác nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu thực trạng.
Xin trân trọng cảm ơn!




MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 1
0T

T
0

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: ........................................................................................................................ 1
0T

0T

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: ............................................................................................................... 3
0T

0T

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:....................................................... 3
0T

T
0

4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU: ........................................................................................................... 3
0T

0T

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: ............................................................................................................... 3
0T

0T

0T

1.2.1. Khái niệm tham vấn và tham vấn tâm lí: .................................................................................. 11
T
0

T
0

1.2.2. Tham vấn và các khái niệm liên quan: ...................................................................................... 14
T
0

T
0

1.2.2.1. Tư vấn và tham vấn: ......................................................................................................... 14
T
0

0T

1.2.2.2. Trị liệu tâm lí và tham vấn: ............................................................................................... 16
T
0

0T



1.3.1.2. Đặc điểm nhu cầu: ............................................................................................................ 20
T
0

0T

1.3.1.3. Các mức độ của nhu cầu: .................................................................................................. 22
T
0

0T

1.3.1.4. Sự hình thành nhu cầu: ..................................................................................................... 23
T
0

0T

1.3.2. Nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh THPT:........................................................................... 24
T
0

T
0

1.3.2.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT: .......................................................................... 24
T
0


0

0T

2.2.2. Dụng cụ nghiên cứu và cách tiến hành: .................................................................................... 32
T
0

T
0

2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng: ........................................................................................................ 32
0T

0T

2.3.1. Mức độ cần được tham vấn tâm lí trong các lĩnh vực của học sinh THPT:................................ 33
T
0

T
0

2.3.1.1. Mức độ cần được tham vấn tâm lí của học sinh THPT xét theo trường:............................. 36
T
0

T
0


0

T
0

2.3.2.3. Lí do học sinh cần được tham vấn tâm lí trong các lĩnh vực xét theo giới: ........................ 49
T
0

T
0

2.3.3. Cách thức học sinh giải quyết khó khăn, vướng mắc trong các lĩnh vực: .................................. 51
T
0

T
0

2.3.3.1.Cách thức giải quyết khó khăn, vướng mắc của học sinh trong các lĩnh vực xét theo trường:
..................................................................................................................................................... 53
T
0

2.3.3.2. Cách thức giải quyết khó khăn, vướng mắc của học sinh trong các lĩnh vực xét theo lớp và
giới tính: ....................................................................................................................................... 54
T
0

T

0T

0T

1. KẾT LUẬN: ...................................................................................................................................... 62
0T

T
0

2. KIẾN NGHỊ: ...................................................................................................................................... 63
0T

T
0

TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................. 1
0T

0T

PHỤ LỤC........................................................................................................................................ 5
0T

T
0

T
0


của học sinh THPT - lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân
cách mạnh mẽ nhất - diễn ra không hoàn toàn phẳng lặng, êm xuôi mà ở mỗi giai
đoạn phát triển thường xảy ra những lo âu, căng thẳng, xung đột riêng. Vì thế,
trong quá trình phát triển trẻ em luôn có những sự mất cân bằng với các hiện tượng
bất thường. Trong nhiều trường hợp, những hiện tượng bất thường đó chỉ là tạm
thời, là tự nhiên, thậm chí là cần thiết cho sự phát triển nhân cách. Tuy nhiên ở một
số trường hợp khác, chúng là biểu hiện của sự nhiễu loạn tâm lí ở trẻ khiến cha mẹ,
thầy cô giáo lo lắng, bực bội và nhiều khi bất lực . Nói như Bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện: “Bề ngoài trông như yên lành nhưng cái khổ hàng ngày vẫn bao trùm các
em”. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng các học sinh, sinh viên
ngày nay đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn tâm lí trong việc lựa chọn
những chân giá trị của thời đại, trong định hướng nghề, và sự lựa chọn việc làm;
trong quan hệ giao lưu và những khó khăn nảy sinh trong chính nội tại quá trình
phát triển tâm lí lứa tuổi. Vì vậy nhu cầu cần được trợ giúp và định hướng để giải
quyết những khó khăn tâm lí ở học sinh rất lớn. Nhiều mô hình trợ giúp học sinh


được thử nghiệm, trong đó tham vấn tâm lí là một trong những hình thức đang
được phát triển và kỳ vọng.
Như vậy, có thể thấy rằng những năm học ở trường THPT là quãng thời gian quan
trọng với nhiều dấu ấn trong cuộc đời học tập của con người, đây là gian đoạn có
nhiều thay đổi trong tâm lí của mỗi cá nhân. Do đó khi gặp những căng thẳng về
tâm lí, nếu học sinh được tham vấn, giải tỏa kịp thời thì những ảnh hưởng tiêu cực
của nó đến cuộc sống nói chung và đến kết quả học tập sẽ giảm đi rõ rệt. Ngược lại,
các em có thể bị stress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi lệch chuẩn. Việc ra
đời của các phòng tham vấn tâm lí ở các trường THPT là điều rất cần thiết.
Đối với học sinh THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu, là địa bàn
huyện vùng sâu nhưng kinh tế cũng đang dần phát triển, văn hoá nơi thành thị du
nhập đã tạo ra một số xáo trộn trong cuộc sống nơi đây, dẫn đến những biến động
không nhỏ tới tâm lí của các em. Các em cũng gặp phải những khó khăn tâm lí cần

4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:

Nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh THPT huyện Xuyên Mộc biểu hiện ở mức
cao, tuy nhiên có sự khác biệt về nội dung cần được tham vấn ở các trường xét
theo khối lớp và giới tính do nhiều nguyên nhân.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh THPT huyện Xuyên
Mộc, tỉnh BàRịa – Vũng Tàu.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm định hướng tổ chức công tác tham vấn tâm lí cho
học sinh THPT trên địa bàn huyện.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biểu hiện của nhu cầu tham vấn tâm lí của
học sinh THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh BàRịa-Vũng Tàu năm học 2009 -2010


7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Tổng hợp tài liệu có liên quan để hình thành cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bằng phiếu hỏi. Đây là phương pháp chính của đề tài. Chúng tôi thiết kế
2 loại bảng hỏi dành cho học sinh và giáo viên nhằm tìm hiểu thực trạng nhu cầu
tham vấn tâm lí của học sinh THPT ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh BàRịa – Vũng Tàu.
Cụ thể là khảo sát mức độ cần thiết của học sinh về tham vấn tâm lí, nhu cầu tham
vấn tâm lí ở nội dung và hình thức tham vấn…
- Phỏng vấn. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trên 10 học sinh và 10 giáo viên nhằm
tìm hiểu rõ hơn về thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh THPT, đặc biệt

này, họ đề xướng lý thuyết nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. Cuối thế kỷ XIX,
S.Freud đã đưa vấn đề nhu cầu vào Lý thuyết bản năng của con người. Theo Freud,
lực vận động hành vi con người nằm trong bản năng. Ông khẳng định rằng, tất cả
hành vi của con người đều hướng tới việc mong muốn những nhu cầu của cơ thể.
Vào những năm của thế kỷ XX đã xuất hiện một loạt các nghiên cứu về nhu cầu ở
con người. Chẳng hạn như lý thuyết động cơ hệ của K.Lewin cho rằng, những
nhân tố thực của hoạt động tâm lí của con người không chỉ xuất phát từ nhu cầu cơ
thể mà còn xuất phát từ nhu cầu xã hội {32}.
Đại diện tiêu biểu cho trường phái tâm lí học nhân văn là A.Maslow trong công
trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, con người có những nhu cầu chân chính
về giao tiếp, về sự lệ thuộc, về tình yêu, về lòng kính trọng… Những nhu cầu này
có bản chất, bản năng đặc trưng cho giống người. Như vậy, theo ông “tính người”
của nhu cầu được hình thành trong quá trình phát sinh loài người. Mọi nhu cầu
thuộc hệ thống thứ bậc đều có liên quan đến cấu trúc cơ thể của con người và được
dựa trên một nền tảng di truyền nhất định. Ông đã hình dung nhu cầu và sự phát


triển của con người theo một chuỗi liên tiếp như chiếc cầu thang gồm năm bậc từ
thấp đến cao: Nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về
sự tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. Mỗi bậc nhu cầu của con người đều phụ thuộc
vào bậc nhu cầu trước đó, nếu một nhu cầu ở bậc thấp không được đáp ứng cá
nhân đó sẽ khó có thể tiến lên bước phát triển tiếp theo. Theo ông, sau khi nhu cầu
bậc thấp được thỏa mãn thì nảy sinh đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn {32}.
Còn nhà tâm lí học người Mỹ - Herry Murray đã xây dựng bảng phân loại nhu cầu
gồm 20 loại nhu cầu {11, 172}. Ông cho rằng, nhu cầu là một động lực xuất phát
từ cơ thể và sự thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi phải có sự tác động qua lại với các tình
huống xã hội, phải có sự cải tổ nhằm mục đích đạt được sự thích ứng. Tuy chịu
nhiều ảnh hưởng của S.Freud nhưng theo ông nếu chỉ giải thích như Freud thì quá
đơn giản. Theo thuyết của ông, những nhu cầu tâm lí xác định được ở con người là
những mức độ khác nhau và cường độ mạnh yếu khác nhau ở từng người. Ở người

Dựa trên quan điểm triết học Mac-Lênin, X.L.Rubinstêin cho rằng, con người có
nhu cầu sinh vật nhưng bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vì
vậy cần xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Ông
nhấn mạnh sự cần thiết của con người về một “cái gì đó” nằm ngoài cơ thể. “Cái gì
đó” chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cầu
thông qua sự hoạt động của chủ thể. Theo ông, nhu cầu là một thành tố của động
cơ, chính là hạt nhân của nhân cách cho nên nhu cầu sẽ xác định những biểu hiện
khác nhau của nhân cách, đó là xúc cảm, tình cảm, ý chí, hứng thú, niềm tin. Vì
vậy thực tế nhu cầu là xuất phát điểm của một loạt các hiện tượng tâm lí, tuy nhiên
khi nghiên cứu về nhân cách chúng ta không nên xuất phát từ nhu cầu mà phải
khám phá ra quá trình nảy sinh và biểu hiện của nhu cầu, đồng thời phải thống nhất
các yếu tố khách quan (thuộc về đối tượng) với yếu tố chủ quan (trạng thái tâm lí
của chủ thể) trong quá trình hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Từ quan niệm trên ta thấy, nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực, vừa
mang tính chủ động. Cụ thể: Nhu cầu là sự đòi hỏi cần được thỏa mãn ở chủ thể
nhưng được thỏa mãn hay không thỏa mãn lại phụ thuộc vào hệ thống các đối
tượng trong những điều kiện cụ thể (tính thụ động của nhu cầu); mặt khác nhu cầu


sẽ thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng, phương thức, phương tiện thỏa
mãn nhu cầu – nhu cầu thúc đẩy hoạt động, kích thích hoạt động (tính tích cực của
nhu cầu). Chính từ hai mặt này mà ta thấy được sự hình thành và phát triển của nhu
cầu. Đó là sự vận động bên trong của nhu cầu theo những giai đoạn, cấp độ nhất
định.
Khi đề cập đến nhu cầu A.N.Leonchiev đã xác định hai cấp độ của nó: là trạng
thái tâm lí bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt động. Nó thể hiện trạng thái
thiếu thốn của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng để thỏa mãn nên ở cấp độ này
nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lí và tạo ra sự
kích thích chung. Kết quả, dẫn đến các hành vi tìm tòi vô hướng. Cấp độ thứ hai,
cao hơn, nhu cầu gặp gỡ đối tượng. Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích thích,

trong nhà trường là việc rất cần thiết với yêu cầu phải có chuyên viên tham vấn có
trình độ chuyên môn về tâm lí giáo dục và phải có một số phẩm chất cần thiết như:
dễ gần và thân thiện, biết thông cảm và chia sẻ, tôn trọng và giữ bí
mật…{26},{29}.
Nghiên cứu về nội dung tham vấn giới tính của học sinh nhóm tác giả Ngô Đình
Qua, Nguyễn Thượng Chí (2006) đã đưa ra kết luận là cả học sinh THCS và học
sinh THPT đều có nhu cầu được tư vấn về tâm lí - giới tính, nhưng số học sinh
THPT có nhu cầu chiếm tỉ lệ % cao hơn. Nhu cầu này chưa được người lớn đáp
ứng đầy đủ vì vậy cần phải có phòng tư vấn tâm lí giáo dục đặt tại các trường trung
học {28}.
Tác giả Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng (2006) trong nghiên cứu về tham vấn
học đường nhìn từ góc độ giới đã đề cập đến sự khác biệt về nhu cầu tham vấn của
học sinh nam và nữ. Theo nhóm tác giả, nhà tham vấn học đường cần nắm được
những mối quan tâm khác nhau giữa học sinh nam và học sinh nữ, phân tích được
các tác động của mối quan hệ tham vấn, hiệu quả giữa nhà tham vấn học đường là
nam hay nữ khi làm việc với học sinh là nam hay nữ… Từ đó đề xuất việc nâng
cao nhận thức về giới của các nhà tham vấn học đường thông qua các khóa học lấy
giới làm trung tâm trong quá trình tham vấn {8}.


Nghiên cứu về “Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinhTHPT tác
giả Nguyễn Hà Thành (2009) đã đưa ra kết luận: Tất cả học sinh THPT đều có nhu
cầu hiểu biết và được giáo dục về sức khỏe sinh sản. Học sinh THPT mong muốn
chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản được chính thức đưa vào trường học {30}.
Tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham vấn tâm lí cho học sinh ở
các trường THPT tác giả Lê Thị Minh Loan (2010) cho biết hiện nay đã có gần 50
trường phổ thông có phòng tham vấn tâm lí nhưng chủ yếu tập trung ở hai thành
phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên mức độ tiếp cận với hoạt động này
của học sinh còn khá khiêm tốn (chỉ có 0.3% học sinh thường xuyên đến phòng
tham vấn, số lượng học sinh đến tham vấn ở mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên

động của người giúp đỡ thông thường hoặc của tình nguyện viên, họ được xem
như như là người làm công tác trợ giúp. Hay những người làm công tác tham vấn
chuyên nghiệp tại các bệnh viện, trung tâm, dịch vụ xã hội hoặc các trường học với
nền tảng kiến thức về tâm lí học, công tác xã hội hoặc các ngành khác. Dưới đây
có thể dẫn ra một số cách hiểu của các tác giả trong và ngoài nước về khái niệm
này:
Theo hiệp hội tham vấn Hoa Kì (ACA, 1997): Tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc
tâm lí, sức khoẻ tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các
chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi, tập
trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn
đề bệnh lí. Định nghĩa này cũng xác định rằng quá trình tham vấn được hiểu như là
một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng, trong mối quan hệ
này nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình.
P.K.Onner cho rằng, tham vấn là một quá trình vì vậy đòi hỏi nhà tham vấn phải
dành thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ
thân chủ tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho
phép.
Richard Nelsson(1997) cho rằng mục tiêu của tham vấn là hướng tới thay đổi cách
thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ tạo nên một cuộc


sống tốt đẹp hơn. Theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp, giải quyết vấn đề
với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn và
thân chủ. Ông cho rằng tham vấn có thể được sử dụng ở những cấp độ khác nhau,
có thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lí học, cán sự xã
hội hay đơn thuần là một phần công việc của giáo viên, y tá, tình nguyện viên {9}.
Trong Từ điển Tâm lí học, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hiểu tham vấn là quá trình
các chuyên gia chẩn đoán, tìm hiểu căn nguyên và thiết lập cách xử lí đối với
những trẻ em có vấn đề về tâm lí {36}.
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: Tham vấn tâm lí là một hoạt động mà nhà chuyên

• Giai đoạn 3: Tìm kiếm cách giải quyết và giúp thân chủ lựa chọn giải
pháp thích hợp nhất.
• Giai đoạn 4: Giám sát và trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp.
• Giai đoạn 5: Kết thúc tham vấn.
Tham vấn là một hoạt động diễn ra trong một quá trình với các hoạt động xây dựng
mối quan hệ, khai thác tìm hiểu xác định vấn đề, giải quyết vấn đề.
 Tham vấn là sự trợ giúp: Trợ giúp trong quá trình tham vấn là giúp thân chủ
những công cụ, phương tiện tâm lí để họ tự giúp chính bản thân mình, củng
cố lại cái tôi của họ từ đó có đủ tự tin trong việc ứng phó với những khó
khăn trong cuộc sống. bản chất của tham vấn là phương pháp trợ giúp người
có vấn đề tự giải quyết vấn đề của chính mình chứ không phải là đưa ra lời
khuyên mà chúng ta thường hiểu. Nhiệm vụ của nhà tham vấn phải làm là
một chỗ dựa tinh thần để thân chủ có cơ hội và có đủ tự tin nhìn lại mình
một cách khách quan.
 Tham vấn là trợ giúp, khai thác tiềm năng của thân chủ để thân chủ tự giải
quyết vấn đề của mình. Khả năng thích ứng ở mỗi con người là rất lớn và
bản thân thân chủ đến với nhà tham vấn cũng có khả năng này nhưng chưa ý
thức được hoặc cố tình không ý thức được. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là
giúp thân chủ nhìn thấy tiềm năng của chính mình, đánh thức và sử dụng


chúng để xử lí tình huống mà họ đang gặp phải. Những khó khăn của thân
chủ là những vấn đề mang tính chất riêng tư và chính họ là người trong cuộc,
là người trực tiếp cảm nhận, trải nghiệm, đánh giá hậu quả của tình huống và
trực tiếp lượng giá những tác động tích cực hoặc tiêu cực do việc giải quyết
tình huống mang lại. Vì vậy chỉ có thân chủ mới là người hợp lí và có đủ
điều kiện để thực thi các chiến lược cải thiện cuộc sống cho chính bản thân
họ. Tất nhiên họ không thể làm việc một cách độc lập mà cần có sự giúp đỡ
của nhà tham vấn nhưng quyền quyết định và đứng ra thực hiện cuối cùng
phải là thân chủ. Họ phải tích cực, chủ động giải quyết vấn đề và cải thiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status