1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÍ HỌC
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG
THPT HOÀNG HOA THÁM – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Sinh viên thực hiện: Nguyễn Phương Thảo
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân
phát triển các kỹ năng nhà trường (như đọc, viết, tính toán…), những rối loạn về
cảm xúc như lo âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vô kỷ luật, bỏ học,
trốn học, trộm cắp, hung bạo…). Hậu quả là ngày càng có nhiều HS gặp không ít
khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng
như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh. Vì
vậy, những HS này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô
giáo và cha mẹ.
Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những mô hình TVTL cho
HS. Việc xây dựng mô hình TVTL cho HS trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên
3
và HS hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển
nhân cách của các em để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng
đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn. Tuy nhiên, hiện nay ở nước
ta mô hình TVTL trong trường học còn chưa được thực hiện một cách phổ biến;
một số trường phổ thông ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
(Tp. HCM) có lập các phòng tư vấn nhưng hoạt động chưa có hiệu quả cao. Riêng ở
Thành phố Đà Nẵng (Tp. ĐN), hiện nay chưa có trường phổ thông nào trên địa bàn
thành phố thành lập phòng tham vấn cho HS; tổ chức hoạt động TVTL cho HS tại
các trường phổ thông còn rất ít. Các em chưa được biết, chưa được tiếp cận nhiều
với các hình thức TVTL. Vì vậy việc tìm hiểu nhu cầu TVTL của HS là rất cần
thiết, trên cơ sở đó đánh giá nhu cầu tham vấn của HS theo các mức độ khác nhau
để từ đó xác định phương hướng tổ chức các hoạt động tham vấn nhằm đáp ứng nhu
cầu của các em.
Từ lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài: “Nhu cầu tham vấn tâm lý
của học sinh trường Trung học phổ thông Hoàng Hoa Thám – Thành phố Đà Nẵng”
để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nhu cầu TVTL của HS trường trung học phổ thông (THPT)
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
+ Phương pháp trắc nghiệm.
+ Phương pháp phỏng vấn.
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
5
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về tham vấn tâm lý
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về tham vấn trên thế giới
Dựa vào lịch sử hiện có, ngành tham vấn ở các nước phát triển là một ngành
tương đối trẻ. Trước những năm 1900, tham vấn chủ yếu là cho ý kiến, tập trung
vào việc cung cấp những phúc lợi nhân đạo căn bản cho những người kém may mắn
trong thời kỳ cách mạng Công nghiệp (Industrial Revolution). Ban đầu nó được
dành riêng cho người trẻ, liên quan đến những chương trình hướng nghiệp và những
bài học đạo đức căn bản, như làm điều đúng, sống tốt, tránh điều sai, xa lánh điều
xấu. Tư vấn thời gian đầu chủ yếu là cung cấp thông tin và hướng dẫn giáo dục.
Năm 1907, Jesse B. Davis là người đầu tiên thiết lập một cơ sở hướng dẫn có
hệ thống ở tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ. Frank Parson (1854 – 1908) là người đánh
viên công tác xã hội, những nhà tâm lý trị liệu được đào tạo về những kỹ năng tham
vấn để có thể đáp ứng nhu cầu này.
Năm 1913, Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp lần đầu tiên
được tổ chức tại Boston. Kết quả của Hội nghị này đánh dấu sự ra đời của Hiệp hội
tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ (NVGA), tổ chức tiền nhiệm của Hiệp hội tham
vấn Mỹ (ACA) sau này. Đến năm 1930, E.G. Williamson đã đưa ra một lý thuyết
tham vấn hoàn chỉnh, phân biệt rõ rệt với lý thuyết Phân tâm học đang thịnh hành
của Sigmund Freud. Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt
động tham vấn. E.G. Williamson, sau hơn 40 năm làm việc tại trường đại học
Minnesota, đã phát triển một thang đo có tên là thang đánh giá nghề nghiệp
(Minnesota Occupational Rsting Scales) nhằm phục vụ cho việc đo lường. Tuy
nhiên, lý thuyết này hiện nay không còn được sử dụng rộng rãi, một mặt vì sự ra đời
của nhiều lý thuyết mang tính ứng dụng hơn, mặt khác, do bản thân của lý thuyết
này còn có rất nhiều hạn chế. Những yếu tố như sở thích, năng lực, giá trị, những
đặc điểm tính cách của con người luôn có sự thay đổi khác nhau trong những giai
đoạn của cuộc đời, vì vậy việc xác định nghề nghiệp tại một thời điểm nhất định mà
không tính đến những sự thay đổi là một điều hạn chế.
Đến những năm 30 – 40 của thế kỉ XX, do hậu quả của chủ nghĩa phát xít
nên nhiều nhà triết học, tâm thần học, tâm lý học nhân văn đã chuyển từ Châu Âu
7
sang Mỹ và ngay lập tức những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng đến tâm lý trị liệu và
giáo dục ở quốc gia này.
Carl Rogers (1902 – 1987) đã thay đổi công việc thực hành tham vấn theo
hướng thân chủ – trọng tâm (Client – Centered), sử dụng phương pháp tiếp cận gián
tiếp khi làm việc với các cá nhân: “đặt trọng tâm nơi thân chủ”. Phương pháp tham
vấn thân chủ trọng tâm lúc đầu được gọi là liệu pháp thân chủ trọng tâm và sau đó
được gọi là phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân, hướng tiếp cận của Carl
Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việc trợ giúp thân chủ
em và người lớn. Cuốn sách này có ảnh hưởng lớn lao đến ngành, nghề tham vấn,
nó đánh dấu sự ra đời của tham vấn hiện đại.
Từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay là thời kỳ phát triển mạnh mẽ
của ngành tham vấn. Sự ra đời rầm rộ của các phương tiện hỗ trợ để đánh giá khách
quan tình trạng hiện tại của thân chủ, đó là các trắc nghiệm tâm lý dùng để đánh giá
mức độ nhận thức, hứng thú, trí thông minh, nhân cách. Chính việc cho ra đời các
trắc nghiệm khách quan đã giúp cho việc đánh giá của các nhà chuyên môn thêm
chính xác, đồng thời nâng cao uy tín của hoạt động tham vấn.
Những năm 50 của thế kỉ XX đánh dấu sự phát triển của rất nhiều học thuyết
khác nhau trong lĩnh vực tham vấn gắn liền với tên tuổi của các nhà tâm lí học
(TLH) lớn trên thế giới như: “Các giai đoạn phát triển tâm lý và trí tuệ” của Jean
Piaget (1896 – 1980); “Lý thuyết các giai đoạn phát triển tâm lý cá nhân” của
Erickson (1902 – 1994)… những lý thuyết này đã cung cấp cho các nhà tham vấn
những kiến thức cần thiết về các giai đoạn phát triển của tâm lý cá nhân, từ đó làm
nền tảng cho quá trình tương tác với đối tượng.
Tham vấn phát triển mạnh mẽ vào những năm 60 của thế kỉ XX. Bên cạnh ba
hướng tiếp cận chính là tiếp cận Phân tâm học (Freud), tiếp cận trực tiếp
(Williamson) và tiếp cận thân chủ trọng tâm (Rogers) thì thời kỳ này còn có sự ra
đời của vô số những cách tiếp cận mới như tiếp cận nhận thức của Albert Ellis
(1961), tiếp cận hành vi của Bandura (1969)… Tất cả các hướng tiếp cận tham vấn
này đã giúp ích cho sự phát triển rực rỡ của ngành tham vấn trong giai đoạn đó. Đến
những năm 70 của thế kỉ XX, tham vấn tiếp tục phát triển trong các lĩnh vực như:
tham vấn sức khỏe tâm trí cộng đồng, tham vấn học đường, tham vấn cho người
khuyết tật… Sự đào tạo các nhà tham vấn cũng có quy mô hơn, chú trọng đến các
kỹ thuật như thấu cảm, lắng nghe, đặt câu hỏi, phản hồi… nhằm phát triển mối quan
9
hệ giữa nhà tham vấn và thân chủ một cách hiệu quả. Lúc này tham vấn đã trở thành
một nghề có vị trí vững chắc trong XH.
trong việc chữa trị và làm việc với các bệnh nhân trẻ em, đặc biệt là các trẻ sơ sinh.
Tên tuổi của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cùng các cộng sự của ông ở Trung tâm
nghiên cứu tâm lý trẻ em (NT) phải được ghi nhận cùng với những cố gắng phát
triển TLH lâm sàng và tư vấn tâm lý trẻ em.
Các bác sĩ tâm thần học cũng đóng một vai trò lớn trong việc phát triển
những liệu pháp tâm lý ở Việt Nam, làm cơ sở cho TVTL như: Liệu pháp TLH
hành vi, liệu pháp TLH nhận thức, các liệu pháp gia đình, trò chơi… Từ giữa những
năm 90, với sự trợ giúp về kinh phí khoa học của nhà nước và các tổ chức khác
trong nước cũng như quốc tế, các nhà TLH Việt Nam đã tiếp cận được với những tổ
chức TLH các nước trên thế giới như: Mỹ, Úc, Canada, Pháp,…, trong số đó có rất
nhiều các nhà TLH thực hành thuộc các trường phái khác nhau: Phân tâm học, TLH
hành vi… Những cuộc đối thoại về chuyên môn, nghề nghiệp, định hướng phát
triển khoa học tâm lý đã củng cố thêm những điều kiện cần thiết cho sự hình thành
một phân ngành khoa học mới ở Việt Nam với khái niệm TLH tham vấn và trị liệu
TLH.
Hiện nay ở nước ta cũng đã bắt đầu có một số sách về TVTL đã được xuất
bản như: “Tư vấn tâm lý căn bản” của Th.S Nguyễn Thơ Sinh (Nhà xuất bản Lao
Động, 2006), “Tư vấn tâm lý học đường” do Kiến Văn – Lý Chủ Hưng biên soạn
(Nhà xuất bản phụ nữ, 2007)… Và cũng có nhiều quan điểm khác nhau về TVTL
được in trên các sách, tạp chí như:
- Th.S Bùi Thị Xuân Mai, trường Cao đẳng Lao động – Xã hội, “Tham vấn –
một dịch vụ XH cần được phát triển ở Việt Nam” đăng trên tạp chí TLH, số 2/
2005, chủ yếu bàn về các cách hiểu khác nhau của khái niệm tham vấn và những
yếu tố cơ bản của tham vấn, qua đó cho thấy được sự cần thiết của việc phát triển
ngành tham vấn ở Việt Nam.
- PTS. Nguyễn Thị Phương Hoa, Viện Tâm lý học, “Về tâm lý học tư vấn”,
tạp chí TLH số 2/ 1999, trình bày khái niệm, đối tượng của TLH tư vấn cũng như sự
ra đời của TLH tư vấn ở Việt Nam và triển vọng phát triển TLH tư vấn ở nước ta
trong những năm sắp tới.
Năm 2004, Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học
Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động
nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động tham vấn học đường.
12
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em Tp.
HCM và sự hỗ trợ của UNICEF, văn phòng tư vấn trẻ em Tp. HCM đã tổ chức hội
thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học”, cũng
nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và
những nhà lãnh đạo các trường học. Ngày 18 tháng 02 năm 2006, Hội thảo khoa
học quốc gia “Tư vấn tâm lý – giáo dục lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển”
đã được tổ chức tại Tp. HCM. Trong hội thảo cũng đã đề cập đến vấn đề tham vấn
học đường như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ HS và nhà trường trong hoạt
động giáo dục. Sở Giáo dục – Đào tạo Tp. HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt
đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham gia của các
nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và phụ huynh HS. Ngoài ra, chuyên mục tham vấn
học đường do báo Phụ nữ Tp. HCM khởi xướng (ThS. Nguyễn Thị Oanh phụ trách)
cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ huynh và các
trường học. Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả
Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc.
Đến nay, vấn đề tham vấn học đường tại Việt Nam đã trở thành một đề tài
nóng bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em HS, phụ huynh, nhà trường, các
nhà tâm lý – giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổ chức phi
chính phủ. Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật
sự được định hình.
1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về nhu cầu
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu về nhu cầu trên thế giới
Đầu tiên phải kể đến chủ nghĩa hành vi do nhà TLH Mỹ J. Watson (1878 –
1958) sáng lập. Bài báo với tên gọi “TLH từ góc nhìn của nhà TLH hành vi” vào
nước uống, không khí… qua đó phủ nhận tính XH, bản chất XH của nhu cầu, quy
gán nhu cầu nội tâm và nhu cầu XH đều do yếu tố sinh vật tạo ra.
Một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong
nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay là thuyết
Phân tâm học. Nó gắn liền với tên tuổi của thiên tài Sigmund Freud (1856 – 1939)
và đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Trong quá trình nghiên cứu của mình,
ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của
con người”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các
nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. S. Freud cho rằng, toàn bộ sức mạnh
14
tác động ở phía sau những nhu cầu cấp bách của của cái ấy và biểu hiện những nhu
cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần là xung lực. Theo ông, những xung lực này
có bản chất sinh học và rất đa dạng. Nói cách khác, xung lực bắt nguồn từ những
nhu cầu cơ thể. Trong tất cả xung lực vốn có của cá nhân, chỉ có hai xung lực cơ
bản: tính dục (Eros) và phá hủy (Thanatos). Khi phân tích các xung lực Eros, ông
cho rằng Eros mạnh hơn Thanatos; từ đó Freud đi đến khẳng định, nó không phải là
thứ nhu cầu tính dục nói chung, mà đó là xung lực khát dục (Libido), tức là những
khoái lạc tính dục của cá nhân. Theo cách hiểu của S.Freud, Libido giống như sự
đói ăn nói chung. Con người đói, tức là nhu cầu tiêu thụ thức ăn cần phải được thỏa
mãn, cũng vậy, con người khát dục khi có nhu cầu nhục dục cần được thỏa mãn.
Xung lực Libido chính là sự tạo ra khoái lạc nhục dục do nhu cầu tính dục được
thỏa mãn [20, 259]. Việc thỏa mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự
nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ
dẫn đến hành vi mất định hướng của con người.
Một trong những nhà TLH nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới là
Erich Fromm (1901). E. Fromm cho rằng cơ chế tự nhiên và XH trong con người là
vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách. Nó biểu hiện sự mong muốn vươn
tới cái hài hòa toàn diện của con người. Ông cho rằng nhu cầu tạo ra cái tự nhiên
Bốn mức nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt. Còn ở mức
thứ năm, ông chia thành các nhu cầu nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo
và nhu cầu hiểu biết, ông gọi là nhóm các nhu cầu phát triển. Sự phân chia này tùy
theo thang bậc nhưng nó không phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tùy
theo điều kiện cụ thể. Ông cho rằng nhu cầu sinh lý là mạnh nhất, còn nhu cầu được
thể hiện mình là nhu cầu yếu nhất. Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được lệ
thuộc là nhu cầu vừa cấp thấp vừa cấp cao. Các nhu cầu cấp thấp thường được ưu
tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loại,
cũng như phát triển của cá nhân. Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu cầu
đó. Nếu nhu cầu cấp thấp không được thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể
thực hiện được. Con người sống trong điều kiện nghèo nàn thì chỉ chú ý đến điều
kiện thỏa mãn nhu cầu sinh lý và an toàn. Sống trong điều kiện giàu có khi nhu cầu
cấp thấp không còn đáng lo lắng nữa thì người ta chú ý đến nhu cầu cấp cao. Nhu
cầu được thể hiện mình là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềm năng của cá nhân.
16
Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người vì mỗi người đều có tiềm năng riêng khác
nhau. Có người có nhu cầu tự thể hiện trên lĩnh vực văn chương, người khác thì có
nhu cầu lãnh đạo…Những nhu cầu này không bị sự kiểm soát của XH, nhưng
không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này bởi vì còn những nhu cầu khác chưa
thực hiện được [2, 79].
Maslow đã chứng minh rằng, tính XH nằm trong chính bản tính của con
người. Con người có những nhu cầu chân chính về giao tiếp, tình yêu, lòng kính
trọng… Đó là những nhu cầu đặc trưng cho giống người. Tính người của các nhu
cầu được hình thành trong quá trình phát sinh loài người. Mọi nhu cầu trong hệ
thống nhu cầu đều có liên quan với cấu trúc cơ thể của con người và đều dựa trên
một nền tảng di truyền nhất định [22, 89].
Sau Cách mạng tháng Mười, nền TLH ở Liên Xô đã có bước phát triển mạnh
cầu. Theo ông, con người có nhu cầu sinh vật nhưng bản chất con người là sản
phẩm của XH loài người, vì vậy cần xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con
người với nhân cách. Chính vì vậy, ông đã nhấn mạnh mối quan hệ lẫn nhau của
con người với tự nhiên, đó là mối quan hệ nhu cầu, nghĩa là sự cần thiết của con
người về một cái gì đó nằm ngoài cơ thể con người. X.L. Rubinstein cho rằng TLH
không nên xuất phát từ nhu cầu mà phải tiến dần và khám phá ra nhiều biểu hiện đa
dạng của nó. Ông chính là người đầu tiên khám phá ra quá trình nảy sinh nhu cầu.
Trong nhu cầu con người xuất hiện sự liên kết con người với thế giới xung quanh và
xuất hiện sự phụ thuộc của cá nhân đối với thế giới.
A.N. Leonchiev (1903 – 1979) cho rằng nhu cầu có nguồn gốc trong hoạt động
thực tiễn. Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng. Trong mối
quan hệ giữa đối tượng thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho rằng đối tượng tồn
tại một cách khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu
hụt hay đòi hỏi. Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thỏa mãn nhu cầu
mới xuất hiện và lộ diện ra. Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng.
Với tính chất là một cá nhân, chủ thể sinh ra đã có nhu cầu nhưng với tính chất
là sức mạnh nội tại thì nhu cầu được thực hiện trong hoạt động. Nói cách khác, lúc
đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, thì lập
tức xảy ra sự biến hóa của nhu cầu, không còn là nhu cầu trước nữa. Sự biến đổi nội
dung cụ thể của đối tượng nhu cầu cũng kéo theo sự biến đổi các phương thức để
thỏa mãn các nhu cầu [2, 131]. Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì
18
như vậy sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động. Mối liên hệ giữa hoạt động
với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động. Theo
A.N. Leonchiev, cuộc sống là hệ thống các hoạt động thay thế nhau. Mặt khác nếu
nhìn nhận khởi thủy nhu cầu làm nảy sinh hoạt động thì sẽ không giải thích được
nguồn gốc của nhu cầu. Bởi vì nhu cầu của con người về cơ bản có nguồn gốc từ
thế giới khách quan, nó nảy sinh thông qua hoạt động của mỗi người. Tất nhiên đến
Viện Tâm lý học, 2008.
- Vũ Kim Thanh, “Tư vấn tâm lý – một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng”,
Khoa Tâm lý – Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2001.
- Dương Thị Diệu Hoa – Vũ Khánh Linh – Trần Văn Thức, “Khó khăn tâm
lý và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT”, trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
2007.
- Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trung học cơ sở và THPT, nghiên
cứu của khoa Tâm lý – Giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005.
- Phạm Thị Thúy Hạnh, “ Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trung học
cơ sở”, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, 2007.
- Triệu Thị Hương, “ Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên Học viện Cảnh
sát nhân dân”, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, 2006.
- Nguyễn Thị Thu Hòa, “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THPT Thành
phố Điện Biên”, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, 2005.
- Võ Thị Ngọc Châu, “Nghiên cứu nhu cầu thành đạt và quan hệ của nó với
tính tích cực nhận thức của sinh viên”, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, 1999.
- Hoàng Thị Thu Hà, “ Nhu cầu học tập của sinh viên Đại học Sư phạm Hà
Nội”, Luận văn Tiến sĩ Tâm lý học, 2003.
- Đàm Thị Quế Anh, Khóa luận tốt nghiệp “Nhu cầu tham vấn tâm lý của
sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng”, 2009.
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề
1.2.1. Lý luận về nhu cầu
1.2.1.1. Khái niệm nhu cầu
Vấn đề nhu cầu đã được nhiều nhà TLH nghiên cứu, và cho đến nay cũng có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhu cầu.
20
Theo Từ điển TLH của Nguyễn Khắc Viện thì nhu cầu là “Điều cần thiết để
bảo đảm tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu,
Nhìn chung, các quan niệm về nhu cầu đã trình bày ở trên đều có sự tương
đồng ở nhiều điểm:
- Khẳng định nhu cầu của con người và XH là một hệ thống đa dạng, bao
gồm nhu cầu tồn tại (ăn uống, duy trì nòi giống, tự vệ…), nhu cầu phát triển (học
tập, giáo dục, văn hóa…), nhu cầu chính trị, tôn giáo… Nhu cầu của con người xuất
hiện như những đòi hỏi khách quan của XH, do XH quy định, đồng thời nhu cầu
mang tính cá nhân với những biểu hiện phong phú và phức tạp.
- Nhu cầu là hình thức tồn tại của mối quan hệ giữa cơ thể sống và thế giới
xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực, mọi hoạt động của con người đều là
quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó. Do vậy, nhu cầu
được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại
và phát triển của mình. Nhu cầu khi được thỏa mãn sẽ tạo ra những nhu cầu mới ở
mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thỏa mãn nhu cầu thì phát triển, và
nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa. Và như vậy, nhu cầu vừa được coi là tiền đề, vừa
được coi là kết quả của hoạt động. Nhu cầu là tiền đề của sự phát triển.
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhu cầu và trong
khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn:
“Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự
đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [28].
1.2.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau:
- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Khi chủ thể gặp đối tượng được ý thức
là có giá trị để thỏa mãn nhu cầu của mình và có điều kiện thực hiện phương thức
thỏa mãn thì nhu cầu đó trỏ thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm vào đối
tượng. Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối
với đời sống cá nhân và đời sống XH càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng
nhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển. Đối tượng của nhu cầu nằm
ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu. Bản thân đối
tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi
nhu cầu. Nói cách khác, mọi nhu cầu đều là hình thức đặc biệt của sự phản ánh
những điều kiện sống bên ngoài.
Nội dung của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thỏa mãn nó. C. Mác
viết: “Đói là cái đói song cái đói được thỏa mãn bằng thịt chín với cách dùng dao
23
vào nĩa thì khác hẳn với cái đói bắt buộc phải nuốt bằng thịt sống với cách dùng tay,
móng và răng”.
Nhu cầu của con người cũng phụ thuộc vào những điều kiện và phương thức
sinh hoạt của gia đình và XH. Cho nên muốn cải tạo những nhu cầu xấu xa ở con
người trước hết phải cải tạo cơ sở XH đã làm nảy sinh ra nó. Muốn làm nảy sinh
những nhu cầu tốt phải tạo ra những điều kiện và phương thức sinh hoạt tương ứng
với nó.
- Nhu cầu có tính chu kì: khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn không có
nghĩa là nhu cầu ấy đã chấm dứt mà nó chỉ tạm thời lắng xuống sau một thời gian
lại tiếp tục tái diễn, nếu người ta vẫn còn sống và phát triển trong điều kiện và
phương thức sinh hoạt kiểu cũ, sự tái diễn đó thường có tính chất chu kì. Tính chất
chu kỳ này là do sự biến đổi có tính chất chu kỳ của hoàn cảnh xung quanh và của
cơ thể gây ra.
- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật: nhu cầu
của người mang bản chất xã hội. Điều này được thể hiện ở đối tượng, phương thức
thỏa mãn nhu cầu, tính ý thức trong việc thỏa mãn nhu cầu.
1.2.1.3. Phân loại nhu cầu
Có nhiều cách phân loại nhu cầu:
- Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần:
+ Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất tự nhiên chính
đáng, tất yếu như các điều kiện ngoại cảnh, địa lý, các cơ sở và yếu tố vật chất đảm
bảo cho con người và XH có thể tồn tại và phát triển được. Ví dụ: nhu cầu ăn, ở,
mặc… [3, 53].
thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức
được nó là gì. Nói cách khác, lúc này chủ thể đang trải nghiệm sự thiếu hụt nhưng
chưa xác định được đối tượng gây ra sự thiếu hụt đó. Khi chủ thể đã ý thức được
đối tượng nhu cầu, nghĩa là sự trả lời được câu hỏi “thiếu hụt cái gì” thì nhu cầu
chuyển sang mức độ cao hơn đó là ý muốn.
+ Ý muốn: ở mức độ ý muốn chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng
khả năng thỏa mãn nhu cầu. Mục đích của hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu,
nghĩa là lúc này chủ thể ý thức được đối tượng của nhu cầu và cả về mục đích động
25
cơ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu. Tuy nhiên chủ thể vẫn tiếp tục tìm kiếm cách
thức và các điều kiện để thỏa mãn nhu cầu. Ở mức độ này chủ thể xuất hiện những
trạng thái rung cảm khác nhau biểu hiện sự mong muốn. Niềm mơ ước ý muốn sẽ
kết thúc đầy đủ về cách thức và các phương tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu ý định.
+ Ý định: là mức độ cao nhất của nhu cầu. Lúc này chủ thể đã ý thức đầy đủ
cả về đối tượng cũng như cách thức điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu; xác định rõ
khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động. Ở mức độ ý định, nhu cầu đã có
hướng và đã được động cơ hóa, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hành động. Lúc này nhu
cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thỏa mãn
nó. Đồng thời chủ thể cũng có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động. Ở mức
độ cao nhất của nhu cầu, chủ thể không chỉ ý thức rõ về mục đích động cơ mà còn
cả về những phương thức để đạt tới mục đích đó.
- Căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hiện ở ba mức độ: lòng ham muốn,
lòng say mê, đam mê.
- Ngoài ra nhu cầu còn được biểu hiện ở hai mức độ cao, thấp khác nhau:
+ Mức độ thấp: chủ thể nhận thức được đối tượng của nhu cầu nhưng nhu
cầu chưa đủ mạnh để thúc đẩy con người hoạt động.
+ Mức độ cao: nhu cầu đã đủ mạnh, trở thành nội lực thúc đẩy con người
hoạt động.