VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Thúy Hằng
NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
CỦA HỌC SINH LỚP 9 THCS QUẬN TÂY HỒ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tâm Lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. DƯƠNG HẢI HƯNG
HÀ NỘI, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô, các anh chị em, bạn bè.
Lời đầu tiên cho tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả
các thầy cô trong khoa Tâm lý học, Học viện Khoa học Xã hội đã quan tâm,
tận tình chỉ bảo và truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt 3 năm học tập tại
khoa.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn
TS Dương Hải Hưng đã luôn dành sự quan tâm, động viên tôi trong suốt thời
gian làm luận văn.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các cô
giáo chủ nhiệm, bí thư đoàn trường, các em học sinh và phụ huynh trường
THCS Hanoi Academy, THCS Chu Văn An, THCS Dreamhouse tại Quận
Tây Hồ, Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài.
Tôi xin được nói lời cảm ơn tới chị Nguyễn Thị Hằng Phương – giảng
viên trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng, đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng với sự say mê, trách nhiệm và nghiêm túc nhưng
do khả năng còn nhiều hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi những sai sót.
2.1.1. Các giai đoạn triển khai đề tài 49
2.1.2. Triển khai nghiên cứu 49
2.2. Phương pháp nghiên cứu 53
1
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 53
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 53
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3 56
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHU CẦU TƯ VẤN 56
HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 9 QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI56
3.1. Đặc điểm chọn nghề của học sinh 56
3.1.1. Dự định tương lai 56
3.1.2.Thời điểm lựa chọn nghề của học sinh 58
3.1.3. Ngành nghề lựa chọn của học sinh 58
3.1.4. Những cơ sở học sinh dựa vào khi chọn nghề 59
3.2. Mức độ hiểu biết của học sinh đối với nghề nghiệp 65
3.2.1. Sự hiểu biết của học sinh về nghề định chọn 66
3.2.2. Nhận thức về việc cần thiết chuẩn bị những phẩm chất và kỹ năng
chung 68
3.2.3. Nhận thức về việc tìm hiểu những yêu cầu của nghề đối với người lao
động của học sinh 69
3.3. Mức độ biểu hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh 70
3.3.1. Mức độ ảnh hưởng các nguồn tư vấn về thị trường lao động mà học
sinh thường tìm đến 70
3.3.2. Sự ảnh hưởng của các đối tượng đến việc chọn nghề của học sinh 71
3.3.3. Những nội dung cần thiết muốn được tư vấn 75
3.3.4. Mức độ biểu hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp theo từng mặt nội dung
76
3.4. Kết quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường THCS 78
3.4.1. Mức độ tác động của chương trình tư vấn hướng nghiệp được tích hợp
B. ĐÁNH GIÁ NGHỀ 1
B1. Những yếu tố nào là lý do chính để bạn quyết định chọn nghề? 1
B2. Khi lựa chọn nghề cho bản thân, các đối tượng có ảnh hưởng đến lựa
chọn của bạn như thế nào? 2
B3. Những yếu tố sau quan trọng như thế nào đối với bạn khi lựa chọn cho
mình một nghề trong tương lai? 2
B4. Theo bạn, bên cạnh việc tìm hiểu ngành học mà mình chọn, thì việc
chuẩn bị cho mình những phẩm chất và kỹ năng chung nhất định là quan
trọng như thế nào? 3
PHỤ LỤC II 1
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN PHỤ HUYNH 1
A. DỰ ĐỊNH NGHỀ NGHIỆP 1
A1. Hiện tại con anh/chị đang học lớp 9 và đã có dự định gì cho tương lai? 1
A2. Con anh/chị có dự định chọn cho mình một nghề cụ thể nào hay chưa? 1
A3. Con anh/chị có dự định chọn nghề cho mình từ khi nào? 1
A4. Con anh/chị đã hiểu biết đầy đủ về nghề nghiệp đã chọn hay chưa? 1
B. ĐÁNH GIÁ NGHỀ 1
B1. Những yếu tố nào là lý do chính để con anh/chị quyết định chọn nghề? 1
B2. Khi lựa chọn nghề cho bản thân, các đối tượng có ảnh hưởng đến lựa
chọn của con anh/chị như thế nào? 2
B3. Những yếu tố sau quan trọng như thế nào đối với con anh/chị khi lựa
chọn cho mình một nghề trong tương lai? 2
3
B4. Theo anh/chị, bên cạnh việc tìm hiểu ngành học mà mình chọn, thì việc
chuẩn bị cho mình những phẩm chất và kỹ năng chung nhất định là quan
trọng như thế nào? 3
C. Ý KIẾN VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN 4
4
C1. Khi chọn một nghề cho con, anh/chị có nhờ sự tư vấn bên ngoài không?. 4
STT 4
tư vấn hướng nghiệp 6
E. ANH/CHỊ VUI LÒNG CHO BIẾT MỘT SỐ THÔNG TIN CÁ NHÂN
7
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt Chữ viết tắt Xin đọc là
1 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
2 HN Hà Nội
3 NNC Người nghiên cứu
4 THCS Trung học cơ sở
5 THPT Trung học phổ thông
7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Stt Tên bảng biểu Trang
1 Bảng 2.1: Mẫu khách thể nghiên cứu 49
2 Biểu đồ 3.1: Dự định tương lai của học sinh lớp 9 53
3 Biểu đồ 3.2: Thời điểm chọn nghề 55
4 Biểu đồ 3.3: Lý do chọn nghề của học sinh 57
5 Bảng 3.1: Mức độ quan trọng của các lý do ảnh hưởng đến
việc chọn nghề
59
6 Bảng 3.2 : Hiểu biết của học sinh về nghề định chọn 63
7 Biểu đồ 3.4 : Hiểu biết của học sinh về nghề định chọn 64
8 Biểu đồ 3.5: Chuẩn bị phẩm chất, kỹ năng của học sinh 65
9 Biểu đồ 3. 6: Tìm hiểu về yêu cầu của nghề đối với người lao
động
67
10 Biểu đồ 3.7: Nguồn tư vấn về thị trường lao động 68
11 Bảng 3.3: Đánh giá về sự ảnh hưởng của các đối tượng đến việc
chọn nghề của học sinh
thấy khó khăn trong việc đáp ứng những yêu cầu của nghề đặt ra, không thấy hứng
thú và muốn gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã chọn. Điều này đã gây nên sự lãng
phí nhân lực rất lớn và phân bố nhân lực không hợp lý.
Tư vấn hướng nghiệp được xem là một vấn đề nóng hiện nay, nhất là trong
trường phổ thông. Khi được định hướng đúng đắn về nghề, con người sẽ yên tâm
với nghề mình đã lựa chọn, có thái độ chủ động, tích cực học tập, rèn luyện để có
thể hoạt động tốt lĩnh vực nghề nghiệp trong tương lai. Nếu chọn được đúng nghề
phù hợp, con người càng có nhiều cơ hội để thành đạt sau này. Nói cách khác, tư
vấn hướng nghiệp giúp cho thanh thiếu niên chọn nghề một cách có cơ sở, giúp họ có
được nhận thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp, phát huy tối đa năng lực sáng tạo,
nâng cao chất lượng cuộc sống, phù hợp với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của xã hội, tránh lãng phí về đào tạo và sử
dụng lao động hợp lý, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội bền vững của đất
nước.
Nhìn tổng quát về công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh lớp 9 hiện nay
thì vấn đề này còn nhiều nội dung chưa được quan tâm hoặc chưa được thực hiện
9
đến nơi đến chốn. Trong chương trình học của của học sinh THCS có 2 tiết/tuần và
khi gần đến kỳ thi tuyển sinh hàng năm các trường trung cấp chuyên nghiệp mới kết
hợp với các cơ quan truyền thông, các tổ chức chính trị-xã hội để tổ chức đi tư vấn
tuyển sinh ở các trường THCS. Từ thực trạng đó cho thấy, sau khi học xong THCS
có nhiều học sinh không có nguyện vọng học tiếp lên THPT không được cung cấp
những thông tin cần thiết để lựa chọn nghề. Mặt khác, với sự hiểu biết của các em
thì chưa đủ cơ sở để giúp các em học sinh lớp 9 có những quyết định đúng đắn
trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Sự hiểu biết về nghề nghiệp mà các em
chọn cũng như những yêu cầu của nghề và sự đáp ứng yêu cầu của bản thân đối với
nghề còn rất hạn chế. Điều này đã làm cho các em có những suy nghĩ sai lệch trong
việc định hướng nghề nghiệp tương lai. Chính vì vậy học sinh rất cần được sự định
hướng đúng, được tư vấn rõ ràng và đầy đủ trong việc hướng nghiệp.
Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước , việc tiếp cận
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh lớp 9.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 9 tại các trường THCS Hanoi Academy, THCS Dreamhouse,
THCS Chu Văn An.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp ở học sinh lớp 9 là khá cao, biểu hiện rõ ràng.
Tuy nhiên, các em chưa xác định được những nội dung cần tư vấn khi chọn nghề,
dẫn đến sự sai lệch trong nhận thức về nghề, trong việc chọn nghề và những hệ lụy
sau đó. Nếu có biện pháp làm thay đổi nhận thức sẽ giúp học sinh hiểu được đầy đủ
sự cần thiết phải được tư vấn, những nội dung và phương thức tư vấn thì công tác tư
vấn hướng nghiệp ở trường THCS Sẽ có kết quả tốt hơn.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nhu cầu, nhu cầu tư vấn hướng
nghiệp và nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh lớp 9.
11
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng biểu hiện và mức độ nhu cầu tư vấn hướng
nghiệp của học sinh lớp 9 quận Tây Hồ, mức độ đáp ứng của nhà trường đối với
nhu cầu này ở các em.
5.3. Đề xuất biện pháp tác động nhằm định hướng, phát triển nhu cầu tư vấn
hướng nghiệp cho học sinh.
6. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
6.1 Giới hạn về đối tượng : Mức độ biểu hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp ở học sinh
lớp 9 .
6.2 Giới hạn về khách thể : Học sinh lớp 9 hệ chính quy, không nghiên cứu học sinh
hệ vừa học vừa làm.
6.3 Giới hạn về địa bàn : Số liệu được thu thập trên 325 học sinh tại 3 trường THCS
quận Tây Hồ: Trường Chu Văn An, trường Hanoi Academy, Trường Dreamhouse và
phụ huynh của các em.
động tư vấn hướng nghiệp có hiệu quả.
13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIÊP CỦA HỌC
SINH LỚP 9
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về nhu cầu
1.1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa hành vi
J.Watson (1878 – 1958), người khởi xướng ra Tâm lý học hành vi ở Mỹ
(1913), cho rằng: “Khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể sẽ tạo ra phản
ứng tương ứng đáp lại theo công thức:
S → R
(Kích thích → Phản ứng)
Tuy nhiên, Tâm lý học hành vi đã không xét đến yếu tố tâm lý ẩn đằng sau
mỗi hoạt động, thúc đẩy hoạt động xảy ra. Hơn thế nữa, còn không đề cập, chú ý
đến tính tích cực, tính chủ thể trong đời sống của mỗi người. Cùng một kích thích
nhưng tác động vào mỗi người khác nhau là khác nhau. Như thế, chủ nghĩa hành vi
đã bỏ qua yếu tố nhu cầu của mỗi người cụ thể, đánh đồng cơ chế hoạt động của
con người với cơ chế hoạt động của cái máy. Con người là một cái máy tạo ra các
phản ứng khi có kích thích tới mình. Chính vì vậy họ đã không giải thích được
nhiều hiện tượng xảy ra trong thực tế.
Khắc phục sai lầm của J.Watson, E.Tolman người khởi xướng ra chủ nghĩa
hành vi mới đã đề cập đến vấn đề mà chủ nghĩa hành vi cổ điển đã bỏ qua, đó là cái
trung gian giữa S và R. Năm 1932, Tolman đã đưa ra khái niệm: Những loại ham
muốn thứ nhất thúc đẩy những hành động nhằm thoả mãn những nhu cầu bản năng
sinh vật để tồn tại của con người như: thức ăn, quần áo, nhà cửa… còn những ham
thích thứ hai là những kích thích sinh ra từ hoàn cảnh xã hội bên ngoài như: tính tò
mò, tính bắt chước, lòng tự trọng, liêm sỉ, tính sáng tạo …
Năm 1951 ông đưa ra hệ thống mới của nhu cầu gồm 3 loại:
- Loại 1: Nhu cầu thỏa mãn sự đói khát, tình dục, tránh đau đớn, chết.
15
quan giữa sự khao khát hùng mạnh và cảm giác kém giá trị quy định tính chất
những động cơ nảy sinh khi con người hành động. Trong quan niệm của A.Adler về
thực chất phạm trù cơ bản để cắt nghĩa hành vi của con người và động cơ của nó
cũng vẫn là một lực lượng bản năng như Freud nhưng chỉ có điều là nó mang một
nét khác.
K.Horney thì cho rằng trong con người có những sức mạnh bẩm sinh, cơ sở
của chúng nằm trong sự cô đơn từ thời thơ ấu. Các sức mạnh này được thể hiện
trong trạng thái tình cảm như: tâm trạng bồn chồn, lo lắng và nỗi khiếp sợ bẩm sinh.
Các lực này có ảnh hưởng rất lớn tới động cơ hành vi của con người.
Tuy nhiên, các tác giả của trường phái phân tâm học mới đã chú ý nhiều đến
các yếu tố xã hội, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nhưng nếu xem xét cơ bản
nó vẫn là những yêu cầu bẩm sinh có tính tất yếu mà ta không ý thức được. Như
vậy, các tác phẩm của trường phái phân tâm học cũ và mới chỉ khác nhau về hình
thức biểu hiện còn xét về bản chất thì không có gì thay đổi.
1.1.1.4. Quan điểm của tâm lý học macxit
Tâm lý học macxit khẳng định rằng về bản chất, con người là một thực thể xã
hội, nghĩa là thông qua hoạt động và giao tiếp thì nhân cách của con người mới
được hình thành và phát triển. Sự hình thành các nhu cầu thúc đẩy hành vi có liên
quan đến bản chất xã hội của tâm lý người. Kể cả nhu cầu sinh vật của con người
(trong đó có bản năng và ham muốn) cũng được xã hội hoá theo mức độ phát triển
của xã hội loài người.
D.N.Unadze đã đề cập đến khái niệm nhu cầu và ý nghĩa của nó đối với hoạt
động sống của sinh vật. Theo ông, nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực. Với ý
nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng, đề cập đến tất cả mọi cái mà cơ thể sống
cần đến cho sự tồn tại và phát triển của mình.
Ông cho rằng : chủ thể hướng vào môi trường bên ngoài nhằm mục đích thoả
mãn nhu cầu trước mắt thì một tình trạng nhất định xuất hiện, gây ra ở chủ thể tâm
thế nhất định và thông qua tâm thế này hướng dẫn toàn bộ hành vi tiếp theo của nó.
Đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật (đói, rét, tình dục…) mà
Thúc
đẩy
Hoạt động
Nhu cầu Hoạt động
Ở
Pháp, năm 1948 đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” đề cập
đến vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên. Để phát triển nhân cách toàn diện cho
học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động, thủ công và nghề nghiệp bình
đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường, đào tạo “tiền nghề nghiệp”
là cơ sở cho việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc
sống lao động. Tháng 3/1991 các nhà tư vấn hướng nghiệp trở thành nhà tư vấn
hướng nghiệp - tâm lý. Các nhà tư vấn hướng nghiệp - tâm lý được phân về
trường phổ thông và đại học là công chức nhà nước. Cùng với giáo viên và phụ
huynh học sinh theo thời điểm mong muốn, các nhà tư vấn hướng nghiệp tổ
chức thường xuyên, liên tục các kiểm tra hệ thống về sự phát hiện bằng các trắc
nghiệm tâm lý, kiến thức để đưa ra các thông tin xác đáng. Từ đó cho học sinh
những lời khuyên nhằm tránh những thiên hướng sai lệch, hướng học sinh vào con
đường thành công đúng theo nhu cầu và nguyện vọng của học sinh.
Ở Đức quán triệt nguyên tắc hướng nghiệp để chuẩn bị cho học sinh đi vào
trường đào tạo nghề tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em. Khi học sinh có nhu cầu
tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học thì giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ
sở hướng nghiệp, với những trường dạy nghề để tư vấn cho học sinh.
Ở Trung Quốc, để hoạt động hướng nghiệp thực sự có hiệu quả, Chính phủ đã
phải hoàn thiện nghiên cứu của mình về giáo dục đào tạo và đặc biệt là hướng
nghiệp, tổ chức các hội thảo quốc tế có sự tham gia của nhiều chuyên gia hướng
nghiệp trong và ngoài nước. Hội thảo quốc tế về hướng nghiệp đầu tiên được tổ
chức ở nước này vào năm 1999.
Ở Việt Nam, vấn đề tư vấn hướng nghiệp được nhiều tác giả nghiên cứu như
Nguyễn Viết Sự, Hà Thị Đức, Lưu Xuân Mới Các tác giả này đề cập đến vấn đề
nội dung tư vấn hướng nghiệp còn nghèo nàn, chưa thu hút và đáp ứng được nhu
trình chuẩn bị thông tin, kiến thức cho công tác tư vấn hướng nghiệp trong nhà
trường của các giáo viên còn mang tính tự phát, chưa có hệ thống. Tác giả cũng
nêu lên được thái độ của giáo viên đối với vai trò của tư vấn hướng nghiệp trong
nhà trường: đa số các giáo viên đều nhận biết và thông hiểu một cách thấu đáo và
19
sâu sắc tầm quan trọng của công tác này, nhận biết được sự mong mỏi của học
sinh về một ban chuyên trách tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường để giúp các
em lựa chọn nghề nghiệp, trường thì khi các em ở những năm cuối cấp. Gần như
100% học sinh đều chọn ý kiến mong muốn trong nhà trường có ban chuyên trách
về tư vấn hướng nghiệp để giúp các em trong việc chọn nghề.
Tác giả Phạm Ngọc Anh và Đỗ Thị Hoà với công trình nghiên cứu “Nguyện
vọng nghề của học sinh phổ thông và các yếu tố ảnh hưởng đến nguyện vọng đó” -
hầu hết học sinh THPT (89.4%) đều có nguyện vọng học tiếp đại học, chỉ có một
phần nhỏ các em là có nguyện vọng học nghề (4.7%) và các yếu tố ảnh hưởng
đến nguyện vọng học nghề chủ yếu phụ thuộc vào phẩm chất tâm lý, sự định
hướng của các em hoàn toàn mang tính chất chủ quan cảm tính.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên được thực trạng chọn
nghề của học sinh THPT, nêu lên được thực trạng tư vấn hướng nghiệp trong nhà
trường THPT hiện nay cùng với nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh ở năm
học cuối cấp. Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng tổng hợp được ý
kiến của học sinh với mong muốn trong nhà trường có được ban chuyên trách về
tư vấn hướng nghiệp để giúp các em trong việc chọn nghề cho tương lai. Tuy
nhiên, các tác giả chưa làm rõ những nội dung tư vấn hướng nghiệp, mức độ biểu
hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thể hiện trên từng mặt nội dung cần được tư
vấn và các tác giả cũng chưa đề cập đến vấn đề nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của
học sinh lớp 9. Kết quả của các công trình nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho các
công trình nghiên cứu tiếp theo, và cũng là cơ sở để giúp chúng tôi giải quyết các
nhiệm vụ nghiên cứu do đề tài đặt ra.
1.2. Khái quát chung về nhu cầu
1.2.1. Khái niệm chung về nhu cầu
- Con người điều chỉnh các nhu cầu của mình một cách có ý thức, vì vậy nhu
cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật. Khi điều chỉnh
các nhu cầu của mình, con người không chỉ xem xét các điều kiện bên ngoài,
màòn xem xét các chuẩn mực hành vi trong xã hội. Và sự điều chỉnh này phụ
21
thuộc vào cấu trúc tâm lý trọn vẹn của nhân cách, vào sự được giáo dục của
nhân cách.
- Nhu cầu của con người rất đa dạng so với nhu cầu của con vật (nhu cầu
vật chất gắn liền với sự tồn tại của cơ thể, nhu cầu tinh thần gồm có nhu
cầu nhận thức, nhu cầu lao động, nhu cầu thẩm mỹ…).
1.2.2. Phân loại nhu cầu
Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu theo các tiêu chí khác nhau:
- Nếu căn cứ vào tính chất và nguồn gốc phát sinh của nhu cầu, người ta
phân ra làm hai loại: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu tự nhiên là những nhu cầu bẩm sinh, di truyền như nhu cầu ăn
uống, an toàn, hít thở, tình dục, sinh sản…
Nhu cầu xã hội là những nhu cầu tập nhiễm. Trong quá trình sống và hoạt
động của con người làm nảy sinh ra các nhu cầu mới: Nhu cầu học tập,
nhu cầu lao động, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu làm thêm (nhu cầu có công
việc trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường).
- Nếu căn cứ vào mức độ của nhu cầu thì có hai loại: Nhu cầu bậc thấp và
nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu bậc thấp là nhu cầu có mức độ thoả mãn thấp. Ví dụ được ăn no,
mặc ấm…
Nhu cầu bậc cao thì sự đòi hỏi đối tượng và phương thức thỏa mãn rất
cao: ăn phải ngon, mặc không chỉ ấm mà phải đẹp, được người khác tôn
trọng, được thừa nhận…
Rõ ràng, nhu cầu bậc cao mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn mang tính cá thể. Có
những nhu cầu tự nhiên nhưng đã được xã hội hoá ở nước đó nhất định trở nên văn
minh, văn hoá như: văn hoá ẩm thực, chế biến, bày biện, thức ăn, thiết kế thời trang,
4. Nhu cầu về sự tôn trọng
5. Nhu cầu tự thân vận động
David Mecelland lại chỉ bàn tới những nhu cầu cơ bản của con người. Ông xác
định có hai loại nhu cầu thúc đẩy cơ bản:
23
5
4
3
2
1