Nghiên cứu nồng độ homocystein, acid folic và vitamin b12 huyết tương ở bệnh nhân nhồi máu não - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN,
ACID FOLIC VÀ VITAMIN B12 HUYẾT TƯƠNG
Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2017


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não (ĐQN) gây tử vong đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư, là
nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. Theo Go A.S. và CS (2013), hàng năm ở Mỹ có
795.000 người bị đột quỵ, khoảng 610.000 bị đột quỵ lần đầu và 185.000 người bị đột quỵ
tái diễn. Tỷ lệ tử vong do ĐQN năm 2009 là 38,9/100.000 dân, chi phí điều trị là 38,6 tỷ đô
la Mỹ [73].
Đột quỵ não được chia thành hai thể lớn là đột quỵ nhồi máu não (ĐQNMN) và đột
quỵ chảy máu não (CMN). Đột quỵ NMN chiếm khoảng 87%, chảy máu não 10% và xuất
huyết dưới nhện là 3% ở Mỹ [73]. Đột quỵ NMN có ba nguyên nhân chính: do huyết khối
động mạch não, tắc động mạch não và co thắt động mạch não [14], [34]. Hẹp động mạch
nội sọ do xơ vữa động mạch (XVĐM) là cơ chế phổ biến nhất của ĐQNMN trên thế giới.
Xơ vữa động mạch nội sọ là nguyên nhân đột quỵ của 30-50% người châu Á và 8 -10%

2. Đánh giá nồng độ homocystein, acid folic và vitamin B12 huyết tương ở bệnh nhân
nhồi máu não và nhóm chứng.
3. Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ homocystein với acid folic và vitamin B12
huyết tương ở bệnh nhân nhồi máu não.

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về đột quỵ não
1.1.1. Định nghĩa và phân loại đột quỵ não
1.1.1.1. Định nghĩa
Đột quỵ não hay còn gọi là tai biến mạch máu não là một hội chứng thiếu sót chức
năng não, thường là khu trú hơn lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử
vong, loại trừ nguyên nhân do chấn thương sọ não [10], [34].
Đột quỵ nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động mạch não bị hẹp hoặc bị
tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do động mạch đó phân bố giảm trầm trọng gây hoại
tử, rối loạn chức năng, biểu hiện các hội chứng và triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp
với vùng não bị tổn thương [14], [34].

1.1.1.2. Phân loại đột quỵ não của TOAST [9], [12]
Đột quỵ não có hai thể chính:


4
+ Thể nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ, nhũn não):
- Huyết khối động mạch não.
- Nhồi máu não ổ khuyết.
- Tắc mạch não.
+ Chảy máu não:
- Chảy máu trong nhu mô não.
- Chảy máu não có tràn não thất.

1.1.2.2. Dịch tễ học đột quỵ não ở nước ngoài
Nghiên cứu của Feigin V.L. và CS (2014), các tác giả đã sử dụng dữ liệu
từ nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2010 (Global Burden of
Diseases = GBD), để đưa ra dữ liệu về gánh nặng đột quỵ theo từng vùng và
toàn cầu trong giai đoạn 1990-2010. Tổng hợp từ 119 nghiên cứu (58 nghiên
cứu từ các nước có thu nhập cao và 61 từ các nước có thu nhập thấp và thu
nhập trung bình). Từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ mắc đột quỵ chuẩn hóa
theo tuổi giảm đáng kể 12% (95% CI 6-17%) ở các nước có thu nhập cao, và


6

tăng 12% (-3 đến 22%) ở quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Tỷ lệ
tử vong giảm đáng kể trong cả quốc gia có thu nhập cao (37%, 31-41%) và
những nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình (20%, 15-30%). Trong
năm 2010, con số tuyệt đối của những người bị đột quỵ lần đầu là 16,9 triệu,
người bị đột quỵ sống sót (33 triệu), tử vong liên quan đột quỵ (5,9 triệu).
Năm 2010, có 5,2 triệu (31%) người đột quỵ là ở trẻ em (tuổi

279

Bắc Karelia

1985-1990

65.139

813

204

Lithuania

Kaunas

1986-1990

147.671

1.653

422

Trung Quốc

Bắc Kinh

1985-1990


1985-1990

196.459

1.568

729

Đức

Karl-Mark-

1985-1989

212.565

1.532

470

Đan Mạch

Glastrup
Stadt

1985-1990

133.416


Nga
Phần Lan

Thụy Điển

Thành

Năm công

phố/vùng

bố

Novosibirsk

1982-1987

cộng đồng
50.391

Moscow

1985-1990

Kuopip

trung bình

*Nguồn: theo Thorvaldsen P. và CS (1997) [132].


TL%
Nhồi máu não
71,0
Tắc ĐM lớn
6,0
Tắc ĐM-ĐM
4,0
Nhồi máu ổ khuyết
19,0
Tắc mạch do tim
14,0
Không xác định
28,0
Chảy máu não
26,0
Khác
3,0

Lausanne

TOAST

n=1000
TL%
80,0
23,0
16,0
13,0
16,0
12,0

5,0

27,0
22,0
23,0

16,0
29,0
36,0

10,0

3,0

*Nguồn: theo MehmetA.T. và CS (2004)[104]

1.1.3. Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ nhồi máu não
Yếu tố nguy cơ (risk factor) của ĐQN là những đặc điểm của một cá thể hoặc một nhóm
cá thể, có liên quan tới khả năng mắc đột quỵ cao hơn một cá thể hoặc một nhóm cá thể khác
không có các đặc điểm đó [6].


9
Việc phát hiện và khống chế các YTNC là một khâu chủ chốt trong chiến lược dự phòng
ĐQN. Tỷ lệ ĐQN tăng ở nhóm người có YTNC. Có thể tác động lên các YTNC bằng chế độ
ăn uống, tập luyện, tổ chức cuộc sống hợp lý, dùng thuốc dự phòng. Các YTNC lại có tác
dụng riêng rẽ từng YTNC hoặc phối hợp nhiều YTNC cùng lúc. Các YTNC có thể rất đa
dạng và khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, tập quán, khí hậu,... của từng nước,
từng vùng [19], [88].



4. Bệnh tim mạch khác và bệnh 4. Béo phì
còn ống thông động mạch.
5. Giảm vận động
5. Rối loạn lipid máu
6. Rối loạn đông máu
7. Tăng homocystein
8. Đái tháo đường
9. Migraine
10. Nhiễm khuẩn
11. Ngừng thở khi ngủ
12. Bệnh thận
13. Bệnh động mạch
14. Bệnh khác

6. Chế độ ăn
7. Liệu pháp
hormon
8. Stress
9. Yếu tố kinh tế xã
hội
10. Sự tương tác
nhiều yếu tố khác
nhau.

*Nguồn: theo Lindgren A. (2014) [99]

Bảng 1.4: Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được của đột quỵ
thiếu máu não trong cộng đồng
Yếu tố nguy cơ

Béo phì

18

1,8 - 2,4

Hẹp động mạch cảnh (50%)

2-8

2

Uống rượu say trên 5lần/ngày

2-5

1,6

1

5 – 17

Rung nhĩ

*Nguồn: theo Straus S.E. và CS (2002) [127]

Một số yếu tố nguy cơ chính có thể thay đổi được:
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp (HA) được coi là nguy cơ hàng đầu trong
cơ chế bệnh sinh của đột quỵ não. Tăng HA lâu dài gây tổn thương thành
mạch, hình thành các mảng xơ vữa, tạo huyết khối tắc mạch, tạo thành các

độc lập liên quan tới tăng HA tâm thu ở người lớn. Kết luận cho thấy Hcy có
liên quan với HA tâm thu OR = 2,1 (CI 95%; 1,1 -3,8) và p = 0,019 [129].
- Hút thuốc lá: hút thuốc lá một nguy cơ quan trọng và phổ biến với
nguy cơ tương đối (RR) là 1,5 cho tất cả các thể đột quỵ, đối với ĐQNMN thì
RR là 2. Một nghiên cứu cho thấy hút thuốc lá có nguy cơ cao với đột quỵ
thiếu máu ở người trẻ và nguy cơ tăng hơn ở phụ nữ so với nam giới. Tăng
nguy cơ đột quỵ gấp hai lần với người hút thuốc lá nặng (hút >40 điếu thuốc/
ngày) so với người hút thuốc nhẹ (dưới 10 điếu thuốc/ ngày) [104], [116].
Cơ chế của đột quỵ liên quan đến thuốc lá thì phức tạp và đến nay còn
chưa hiểu biết đầy đủ. Nhưng cơ chế chính đó là làm phát triển xơ vữa động
mạch. Hút thuốc lá làm tăng triglicerid, giảm HDL-cholesterol; gốc tự do
trong khói thuốc lá gây hậu quả oxy hóa LDL-cholesterol từ đó tăng quá trình
xơ vữa động mạch. Mặt khác thuốc lá còn làm tăng sự kháng insulin [104].
- Rối loạn chuyển hoá lipid: có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa
lipid và đột quỵ não. Khi cholesterol tăng 10% thì nguy cơ tim mạch tăng lên
20% thông qua xơ vữa động mạch, sự giảm HDL-cholesterol cũng làm tăng
nguy cơ các bệnh tim mạch trong đó có ĐQN. Mức HDL-cholesterol thấp và
triglycerid cao kết hợp với tăng HA sẽ làm gia tăng gấp đôi nguy cơ ĐQN.
Nghiên cứu HHS (Helsinski Heart Study,1997) trên 4.081 người tuổi 40 đến
55 điều trị gemifibrozil và giả dược, theo dõi trong 5 năm thấy hạ lipid máu


12

làm giảm 34% đột quỵ não [19], [21].
- Bệnh tim: rung nhĩ là YTNC mạnh của đột quỵ não, nguy cơ độc lập
gấp 5 lần với mọi lứa tuổi. Tần suất rung nhĩ xuất hiện ở người trên 65 tuổi là
5,9%, sau 55 tuổi thì tỷ lệ rung nhĩ tăng gấp hai lần. Tỷ lệ đột quỵ phụ thuộc
vào sự tăng rung nhĩ, từ 1,5% ở tuổi 50-59 và tăng lên 23,5% ở lứa tuổi 8089. Tỷ lệ nhồi máu não do bệnh van tim từ 15-20%, các huyết khối từ tim gây
nghẽn mạch não là 15-20% [19], [73]. Thuốc chống đông Warfarin làm giảm

do tim và tắc mạch từ động mạch tới động mạch lên 4 đến 7 lần. Uống rượu
mức trung bình khoảng một đến hai cốc/ngày (
nghiệm xác định tăng Hcy máu đã ảnh hưởng trên lớp nội mạc và cơ trơn mạch máu trước
khi bị thuyên tắc mạch. Một sự kết hợp giữa tăng Hcy máu trung bình và rối loạn chức
năng mạch máu đã được đề cập đến rất nhiều trong những công trình nghiên cứu gần đây ở
động vật và người. Homocystein máu có thể làm suy giảm chức năng mạch máu thông qua
các cơ chế bao gồm stress oxy hoá hoặc thay đổi methyl của tế bào. Mặc dù tăng Hcy máu
trung bình có thể điều trị hiệu quả bằng cho uống acid folic và vitamin nhóm B [53].

Sơ đồ 1.1: Tổn thương nội mạc do homocystein, chất bảo vệ oxyt nitơ
*Nguồn: theo Filip C. và CS (2012)[70].
(Hcy ức chế một số yếu tố tốt và kích thích một số yếu tố gây hại như ảnh hưởng của quá
trình huyết khối, co thắt mạch. Mô tả yếu tố hoạt động tổ chức tPA, ADMA tương ứng với
dimethyl Arginin không đối sứng)
Hậu quả tổn thương rất sớm là rối loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu.
Tế bào nội mạc mạch máu có thể bị tổn thương do LDL-cholesterol, các gốc tự do, tăng
huyết áp, đái tháo đường, homocystein, hoặc các yếu tố nhiễm khuẩn. Các bạch cầu đơn


16
nhân trong máu và lympho T dính chặt vào các vị trí của tổn thương nội mạc mạch máu và
thường di trú dưới nội mạc mạch máu, nơi đó các bạch cầu đơn nhân bắt nguồn từ các đại
thực bào được chuyển thành các tế bào bọt chứa đầy lipid. Hậu quả tổn thương được gọi là
giải chất béo. Sự giải phóng của các yếu tố tăng trưởng và hoá hướng động từ các tế bào
nội mạc mạch máu, kích thích đại thực bào tăng sinh nhanh và di trú các tế bào cơ trơn nội
mạc mạch máu, từ đó hình thành một mảng sợi. Các tiểu cầu đến bám các vị trí của nội
mạc mạch máu bị tổn thương và giải phóng các yếu tố hóa hướng động và tiếp tục phát
triển vữa xơ. Từ mảng tổn thương XVĐM có thể làm bít tắc lòng mạch máu, hoặc có thể
gây lấp mạch do các cục máu đông hay do mảng vữa xơ bị vỡ [50], [53], [131].
LDL

Tăng cholesterol

fibrin
- Giảm tính thấm

Đảo lộn chu
kỳ tế bào

Lão hóa sớm

Thoái hóa
mạch máu

Chết theo
chương trình

Sơ đồ 1.2: Quá trình rối loạn chức năng tế bào nội mô
*Nguồn: theo Goligorsky M. S. (2005)[74].

Adachi H. và CS (2000), muốn xem tăng Hcy máu có phải là một YTNC độc lập gia
tăng độ dày thành lớp áo trong, lớp áo giữa lan rộng ở động mạch cảnh hay không? Đã tiến
hành một cách ngẫu nhiên quần thể có thói quen ăn uống khác nhau trong số 1.111 trường
hợp (452 nam, 659 nữ), tuổi trung bình (63 ± 10 năm), kết luận rằng tăng nồng độ Hcy
máu TB của người Nhật ở phía Tây là một YTNC độc lập gia tăng độ dày thành động mạch
cảnh (bao gồm lớp áo trong và lớp áo giữa) có ý nghĩa thống kê (p
tính, tăng huyết áp, cholesterol, hút thuốc lá, creatinine, và các biện pháp dinh dưỡng). Kết
luận của nghiên cứu, rằng tăng nồng độ Hcy mức vừa có liên quan với đột quỵ, sa sút trí
tuệ căn nguyên mạch và bệnh Alzheimer. Đây không phải do các yếu tố nguy cơ tim mạch,
tình trạng dinh dưỡng, hoặc kiểu gen MTHFR [103].
Selhub J. và CS (1996), nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ Hcy huyết tương,
tình trạng vitamin và hẹp động mạch cảnh ngoài sọ trong nghiên cứu cộng đồng
Framingham. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng Hcy máu là 29,3%, nguy cơ hẹp động
mạch cảnh trên 25% do tăng Hcy máu (≥ 14,4 µmol/L) với OR = 2,1 (95% CI; 1,5 – 3,0)
và p
vitamin này được biết đến từ lâu với chức năng tham gia tạo máu, chuyển hóa tế bào thần
kinh và tổng hợp nhân tế bào (acid folic). Tuy nhiên các vitamin trên còn liên quan đến quá
trình XVĐM. Đó là chức năng gián tiếp thông qua việc tham gia vào chu trình chuyển hóa
Hcy ở gan. Vitamin B12 và acid folic tham gia vào cấu tạo enzym methionin synthase, một
enzym giúp chuyển hóa thoái dáng Hcy thành methionin. Vitamin B6 vai trò là coenzym
của enzym CBS, hoạt động của enzym này giúp chuyển hóa Hcy thành cystathionin, sau
đó chuyển thành cystein. Các nghiên cứu bổ sung vitamin B12, B6 và acid folic làm giảm
nồng độ Hcy máu [48], [118].


20

Sơ đồ 1.4: Chuyển hoá homocystein ở gan
*Nguồn: theo Robert S.R. và CS (2015)[117].
Thiếu vitamin B12, vitamin B6 hoặc acid folic máu sẽ làm giảm quá trình thoái
giáng homocystein, từ đó gây tăng Hcy máu. Như vậy ba vitamin nhóm B trên gián tiếp
gây XVĐM thông qua vai trò của Hcy, một chất đã được khẳng định là nguyên nhân làm
tổn thương nội mạc động mạch và phát động tiến trình XVĐM. Quá trình XVĐM phát
triển dần hình thành mảng xơ vữa, gây hẹp lòng mạch, huyết khối và cuối cùng là tắc động
mạch não gây nhồi máu não [67], [74], [89].
Nghiên cứu của Salemi G. và CS (2009), đánh giá nồng độ Hcy, cystein, glutathion,
acid folic và vitamin B12 trong pha cấp của ĐQNMN do xơ vữa động mạch. Tác giả
nghiên cứu trên 50 BN đột quỵ NMN do huyết khối trong 48 giờ đầu và 49 ca khỏe mạnh.
Kết quả cho thấy nồng độ Hcy và cystein cao có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng;
đồng thời nồng độ acid folic và vitamin B12 giảm hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê
[118].
Theo Henry O.R. và CS (2012), nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ Hcy với
vitamin B12 và acid folic trong nghiên cứu tim mạch Jackson. Nghiên cứu trên 5.129
người Mỹ gốc phi, tuổi từ 21-94, trung bình 55 ± 13 năm, tỷ lệ nam giới 37% và nữ là
63%. Kết luận, cứ tăng 10 tuổi thì nồng độ Hcy tăng 0,8 µmol/L với p
thái oxy hóa khử thiol huyết tương, hoặc ức chế các enzym như methionin synthase [67].

1.2.4.2. Khiếm khuyết di truyền
Đột quỵ não xảy ra ở những bệnh nhân trẻ với tăng Hcy máu do sự thiếu hụt CBS.
Nghiên cứu của Kelly P.J. và CS cho thấy, tăng Hcy máu có thể dẫn đến chứng XVĐM và
huyết khối tĩnh mạch. Sự thiếu hụt các enzym tham gia vào quá trình chuyển hoá của Hcy


22
gây gia tăng nồng độ Hcy máu, trong đó thiếu CBS chiếm tỷ lệ cao nhất. Thiếu CBS thể
đồng hợp tử có nồng độ Hcy máu lúc đói rất cao (trên 100 µmol/L, có thể đến 400
µmol/L), có Hcy niệu. Thể đồng hợp tử có các triệu chứng lâm sàng như thuỷ tinh thể lạc
chỗ, dị dạng xương, chậm phát triển tâm trí, huyết khối lấp mạch, xơ vữa động mạch sớm
và nặng với tỷ lệ tử vong cao; thể này rất hiếm gặp. Thể dị hợp tử thường gặp hơn với
nồng độ Hcy máu khoảng 20-40 µmol/L. Thiếu hụt đồng hợp tử N5, N10 MTHFR có thể
bền vững với nhiệt hoặc không bền vững với nhiệt. Những nguyên nhân di truyền khác gây
tăng nồng độ Hcy máu bao gồm thiếu methionin synthase và rối loạn chuyển hoá vitamin
B12 [67].

1.2.4.3. Thiếu hụt dinh dưỡng
Sự chuyển hoá của Hcy máu có liên quan đến acid folic, vitamin B12 hoặc vitamin
B6. Vì vậy, khi cơ thể thiếu các chất này nguyên nhân thường là do dinh dưỡng thì nồng độ
Hcy máu tăng. Theo Selhub, hai phần ba các trường hợp tăng nồng độ Hcy máu có liên
quan đến tình trạng thiếu ít nhất một trong các vitamin này. Việc bổ sung acid folic,
vitamin B12 và vitamin B6 có thể đưa Hcy máu về mức bình thường [121].
Selhub J. và CS ( 2000), đã chứng minh các acid folic, vitamin B12 và vitamin B6
rất cần thiết cho chức năng bình thường và tồn tại hoạt động tốt của não. Các dữ liệu cho
thấy rối loạn chức năng thần kinh và tâm lý trong tình trạng thiếu hụt vitamin và trong
những trường hợp thiếu hụt bẩm sinh chuyển hoá của một các bon. Thiếu hụt thường
xuyên vitamin ở những người lớn tuổi trong các nghiên cứu mới đây đã cho thấy có sự kết

methionin ở gan. Tăng nồng độ Hcy máu làm tăng sản phẩm có tính oxy hóa, một trong
những yếu tố quan trọng làm tổn thương nội mạc động mạch và gây xơ vữa động mạch.
Các nghiên cứu đã khẳng định tăng Hcy máu mức độ vừa là một YTNC độc lập của bệnh
tim mạch và đột quỵ não. Vitamin B12 và acid folic đóng vai trò là coenzym, xúc tác quá
trình chuyển hóa Hcy thành methionin. Khi thiếu acid folic và vitamin B12 gây tăng nồng
độ Hcy máu, từ đó gián tiếp gây XVĐM và đột quỵ não.

1.3. Vai trò của acid folic trong cơ thể
1.3.1. Lịch sử, nguyên nhân và nhu cầu acid folic trong cơ thể
1.3.1.1. Lịch sử phát hiện acid folic:
Acid folic là một vitamin nhóm B, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1930 bởi
Wills và Mehta, gọi là yếu tố Wills. Axit folic được đặt tên vào năm 1941 khi phân lập từ rau
bina, được chứng minh là một yếu tố tăng trưởng cho vi khuẩn Streptococcus lactis. Có
nhiều tên gọi khác đã được đưa ra như axit pteroylglutamic, folate, vitamin B9. Các hợp chất
sau đó đã được tổng hợp ở dạng tinh khiết vào năm 1943 bởi Bob Stokstad. Acid folic tổng
hợp có khác acid folic tự nhiên trong ba khía cạnh: (1) dư lượng glutamate bổ sung, (2) giảm
tới DI- hoặc tetra-hydroforms, và (3) đơn vị cacbon đơn bổ sung. Acid folic bây giờ được sử
dụng để biểu thị các hợp chất hóa học bị oxy hóa hoàn toàn, không có mặt trong các thực
phẩm tự nhiên. Thuật ngữ "folate" được sử dụng để biểu thị nhóm lớn các hợp chất tổng hợp
có tính hoạt động tương tự vitamin, bao gồm folate tự nhiên và acid folic [81].


24

Hình 1.2: Công thức cấu tạo của acid folic
*Nguồn: theo Chen Chunming và CS (2002)[63].
1.3.1.2. Nguyên nhân thiếu acid folic:
+ Dinh dưỡng thiếu acid folic và nghiện rượu: phần lớn nguyên nhân thiếu acid folic là do
chế độ dinh dưỡng, do thức ăn thiếu acid folic hoặc do nghiện rượu. Cơ thể dự trữ lượng nhỏ
acid folic (5 – 10 mg), nếu khẩu phần ăn thiếu acid folic trong 4-5 tháng có thể phát triển bệnh

trưởng thành và phân chia tế bào. Nó có vai trò quan trọng ở nhiều mức khác nhau.
Vitamin B giúp cơ thể chuyển hóa glucid, lipid và protein. Phức hợp các vitamin cần thiết
cho sức khỏe như da, tóc, mắt và gan. Chúng còn giúp hoàn chỉnh chức năng hệ thần kinh,
đặc biệt là phát triển ống thần kinh trong giai đoạn phát triển bào thai. Thiếu acid folic có
thể gây ra các bệnh của hệ tạo máu, bệnh thần kinh, rối loạn tâm thần và bệnh lý mạch
máu:

1.3.2.1. Vai trò trong hệ thần kinh và tâm thần:
Các nghiên cứu khác đã tìm thấy mối liên quan giữa thiếu hụt acid folic và các bệnh
tâm thần bao gồm cả tâm thần phân liệt và rối loạn tâm thần. Nghiên cứu của Bottiglieri và
CS (1994), cho thấy một tỷ lệ cao hơn các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân cao tuổi bị thiếu
hụt acid folic. Nghiên cứu tiềm năng về tiêu thụ acid folic tại Hoa Kỳ (2005) và nồng độ
acid folic trong máu ở Italy, đã đưa ra bằng chứng của lượng acid folic thấp là một yếu tố
nguy cơ của sa sút trí tuệ. Acid folic chống giảm trí nhớ (Alzheimer): nhiều nghiên cứu
khuyến cáo để giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer ở những người có tuổi nên sử dụng
khoảng 0,4 mg acid folic/ngày. Giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Acid folic
làm tăng thính lực, kết quả của chương trình bổ sung acid folic vào bột mì của Mỹ và Hà
Lan cho thấy ở hai quốc gia này, tỉ lệ người suy giảm thính lực do tuổi tác ít hơn hẳn so với
các quốc gia khác. Vitamin B và acid folic còn có tác dụng giúp chống lại chứng đau nửa
đầu (migraine) [100].

1.3.2.2. Vai trò trong chức năng tạo máu:
Acid folic rất cần thiết cho sự tạo thành tế bào hồng cầu. Tạo ra những tế bào máu,
thiếu acid folic dẫn đến thiếu máu hồng cầu to. Thiếu acid folic trong khẩu phần ăn của
người mẹ mang thai sẽ ảnh hưởng quá trình tạo máu và phát triển thai nhi, gây ra những
nguy cơ cho trẻ sơ sinh như thiếu cân, khiếm khuyết ống thần kinh (nứt ống thần kinh,
thiếu một phần não, hở cột sống).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status