Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Câu 1: Quan điểm cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. So sánh chủ trương
cứu nước của hai ông.
a. Quan điểm cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu theo quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu” nên ngay từ đầu ông
đã kiên trì chủ trương giành độc lập bằng con đường bạo động. Vì vậy Phan Bội Châu tích
cực vận động quần chúng nhân dân và đưa học sinh du học để đào tạo về quân sự nhằm tạo
thành lực lượng đông đảo tổ chức bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân
tộc, xây dựng chế độ chính trị dựa vào dân lúc đầu ông chủ trương nền quân chủ lập hiến, sau
chuyển sang tư tưởng cộng hòa.
Một đặc điểm nổi bật khác của chủ trương cứu nước của Phan Bội Châu là tranh thủ sự
giúp đỡ của nước ngoài (chủ yếu là Nhật Bản) để giành độc lập dân tộc. Ông đã thực hiện kế
hoạch “xuất dương cầu viện”. Phan Bội Châu và các hội viên hội Duy Tân đã cầu viện Nhật
Bản là nước đồng văn, đồng chủng thông qua việc thực hiện phong trào Đông Du đưa sinh
viên Việt Nam sang du học Nhật Bản để được đào tạo về văn hóa và quân sự cần thiết cho
công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước.
Khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh kịch liệt phê phán chủ trương bạo động, cầu
ngoại viện “bất bạo động, bạo động tấc tử”, “bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”. Mà ông lại
chọn con đường cải cách duy tân thực nghiệp, tư tưởng chủ đạo của ông là mở rộng dân chủ,
đề xướng dân quyền. Ông khái quái chủ trương của mình là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu
dân sinh”.
Đối với Phan Bội Châu thì nên cầu viện Nhật Bản nhưng Phan Châu Trinh thì lại khác,
ông chủ trương tạm thời dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến, giành lại quyền lực cho nhân
dân, sau đó đánh đổ đế quốc, giành lại độc lập dân tộc. Ông đòi chính phủ Pháp cải cách
chính sách cai trị “cởi trói cho chúng tôi để chúng tôi kén chọn hiền tài, thân sĩ rộng đường ăn
nói, dân yên nghiệp làm ăn”.
b. So sánh chủ trương cứu nước của hai ông:
giống nhau: cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều ý thức được nỗi đau mất nước,
nỗi khổ cực của kiếp sống nô lệ nên đã tham gia hoạt động nhằm mục đích đánh đuổi quân
xâm lược và thực dân Pháp giành lại độc lập dân tộc, cả hai ông đoạn tuyệt với những tư
tưởng quân chủ, đoạn tuyệt với con đường cứu nước nằm trong ý thức phong kiến mà đi theo
lực khai hóa”, vận động những người cùng
chí hướng thức tỉnh dân chúng tuyên truyền
tư tưởng dân quyền.
Hoạt động
Năm 1904, thành lập hội Duy Tân nhằm đánh Khởi xướng cuộc vận động Duy tân ở Trung
đuổi giặc Pháp, giành độc lập, giành độc lập kì. Cuộc vận động duy tân diễn ra với nhiều
thành lập chính thể quân chủ lập hiến ở Việt hình thức, mở trường học, học các môn: toán,
Nam.
cách trí, vệ sinh, sử - địa thể dục với nội dung
Tổ chức phong trào Đông Du.
mới. Tuyên truyền mở rộng công thương
Tháng 6/1912, thành lập Việt Nam Quang nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, phê phán quan
Phục Hội nhằm mục đích đánh đuổi giặc lại, đả phá phong tục lạc hậu, thực hiện đời
Pháp, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt sống mới: mở các hội buôn, thành lập các
công ty làm nghề thủ công. Cuộc vận động
Nam.
Duy Tân đi sâu vào quần chúng làm bùng lên
phong trào chống đi phu, đòi giảm sưu thuế ở
Trung kỳ (1908).
Tóm lại, sự khác nhau này có thể hiểu rõ thông qua nhận xét cua Phan Bội Châu về
quan điểm của Phan Châu Trinh “ông muốn trước hết muốn đánh đổ quân chủ để làm cơ sở
Trang 2
phu đã kết hợp nhiều biện pháp mới về kinh
tế, chính trị, ngoại giao, tiến hành nhiều cải
cách sâu rộng trong quần chúng.
Đóng góp của phong trào:
Hầu hết các phong trào chống Pháp trong giai Phong trào cải cách duy tân của các sĩ phu đã
đoạn này đều thất bại nhưng nó đã nêu cao các tác động mạnh mẽ đến nhiều tầng lớp
được tinh thần đấu tranh buất khuất kiên nhân dân trong xã hội, góp phần khơi dậy tinh
cường và truyền thống yêu nước nồng nàn thần dân tộc. Tuy thất bại nhưng nó đã tạo
của dân tộc ta. Nó góp phần thúc đẩy phong tiền đề, để lại những bài học lịch sử quý giá
trào đấu tranh cứu nước trong giai đoạn sau.
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc theo hướng
mới phù hợp với Việt Nam và thời đại.
Câu 3: tại sao nói phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đánh dấu một bước phát triển
mới của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.
Trang 3
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Lực lượng tham gia: Trào lưu dân tộc chủ nghĩa theo hướng dân chủ tư sản không
những được sự ủng hộ của tầng lớp nhân dân, nông dân mà còn cả những lực lượng giai cấp
xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản, công nhân cùng đông đảo những người yêu nước.
Tư tưởng, mục tiêu: hầu hết các sĩ phu cấp tiến ở giai đoạn này đều đã đoạn tuyệt với
tư tưởng quân chủ, với con đường cứu nước nằm trong ý thức phong kiến và đi theo con
đường dân chủ tư sản, đánh Pháp khôi phục độc lập dân tộc và đất nước theo con đường tư
bản chủ nghĩa, mong muốn nước nhà tiến kịp các nước văn minh trên thế giới. Do tiếp thu
được những tư tưởng mới:
nghiệp, làm thầu khoán.
Địa chủ phong kiến có thế lực về kinh tế và chính trị, cấu kết với Pháp để bóc lột thống
trị nhân dân ta. Tuy nhiên có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ bị TDP chèn ép nên có tinh thần
chống đế quốc.
b. giai cấp nông dân.
Số nông dân không có ruộng đất chiếm tỉ lệ cao. Ở Bắc Kì, Trung Kì có trên 50% số hộ,
Nam Kì có 70% số hộ không có ruộng.đất.
Nông dân phải nộp tô cho địa chủ, phải đóng nhiều thứ thuế vô lí cho nhà nước thực
dân, nặng nề nhất là thuế đinh, thuế điền.
Nạn thiên tai bão lụt mất mùa đói kém thường xuyên xảy ra làm cho đời sông nông dân
bị bần cùng, kiệt quệ, người nông dân phải bỏ làng đi kiếm sống. họ bị tước đoạt tất cả các
quyền về kinh tế, chính trị, học tập.
Một số bộ phận nông dân buôn bán trở nên giàu có gọi là tầng lớp Phú Nông, họ cùng
với giai cấp địa chủ nắm quyền thống trị
Mâu thuẩn giữa nông dân với đế quốc, phong kiến ngày càng gay gắt.
c. giai cấp tư sản
Gaii cấp tư sản Việt Nam có quyền lợi gắn bó và phụ thuộc vào TDP, nhưng cũng bị
Pháp chèn ép. Họ bị ngăn cấm hoạt động chính trị.
GCTS Việt Nam vừa gắn bó với Thực dân, tư bản nước ngoài, vừa có mối quan hệ với
phong kiến.
Tư sản Việt Nam chia làm 2 bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc
Tư sản mại bản: những người có quan hệ, có quyền lợi kinh tế gắn với thực dân, tư
bản ngoại quốc cùng với Pháp chống lại dân tộc.
Tư sản dân tộc: bị thực dân chèn ép, thế lực yếu ớt. họ có tinh thần dân tộc, chống đế
quốc những không triệt để.
d. Giai cấp tiểu tư sản
Gồm nhiều tầng lớp như: trí thức, viên chức, thợ thủ công, buôn bán nhỏ, dân nghèo
thành thị…
Giai cấp TTS tăng nhanh về số lượng, đời sống của họ khó khăn, bấp bênh vì chính sách
sưu thuế nặng nề, giá cả đắt đỏ, thu nhập thấp, nhiều người bị phá sản thất nghiệp.
3/2/1930 tại Hương Cảng (TQ) Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại biểu các đảng dự hội nghị
hợp nhất. Hội nghị tán thành hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng lấy tên là ĐCS
VN.
Cương lĩnh của Đảng: vạch ra con đường cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn.
Giai đoạn 1:
Thực hiện cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ thực dân Pháp va phong kiến, giành
độc lập dân tộc xây dựng chính phủ công nông binh, đe lại ruộng đất cho người nghèo.
Lực lượng chính của cách mạng là công nông.
Trang 6
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Giai đoạn 2: Thực hiện cách mạng XHCN
Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam do ĐCS VN lãnh đạo lấy CN Mác – Lenin
làm nền tảng. Đảng phải liên minh với giai cấp tầng lớp yêu nước tổ chức họ đấu tranh.
Ý nghĩa: Cương lĩnh của Đảng là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn sáng tạo
trong việc vận dụng CN Mac – Lenin giữa những vấn dề dân tộc và giai cấp giữa CN yêu
nước với CN quốc tế vô sản, nêu cao tư tưởng độc lập tự do và dân chủ.
b. Nội dung luận cương chính trị của Đảng (10/1930)
Tháng 10/1930 Hội nghị Trung ương Đảng lần nhất họp tại Hương Cảng (TQ) đổi tên
Đảng là ĐCS Đông Dương, thông qua luận cương chính trị của Đảng do Trần Phú soạn thảo:
Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền sau khi thắng
lợi thì tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN.
Nhiệm vụ chống Đế quốc với phong kiến gắn liền nhau. Lực lượng chính của
cách mạng là công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Biết lợi dụng thời cơ dùng bạo động để giành chính quyền.
Cách mạng Đông Dương là bộ phận cách mạng thế giới, phải liên hệ với vô sản
và các dân tộc thuộc địa.
Hạn chế:
Chưa xác định được mâu thuẩn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không nêu lên
Từ tháng 10/1930 – 5/1931, phong trào công nhân tiếp tục nổ ra, tiêu biểu ở Hà Nội,
SG. Công nhân tổ chức bãi công , mít tinh, biểu tình. Phong trào đấu tranh của nông dân sôi
nổi ở Nam Kì, tiêu biểu như Bến Tre, Bạc Liêu, Long Xuyên…
b. Phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh:
Ngày 1/5/1930, nổ ra cuộc biểu tình của công nhân ở Vinh cùng với nông dân các
huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc.
Tháng 6,8,9/1930 phong trào đấu tranh phát triển mạnh ở cả thành thị và nông thôn, có
sự kết hợp chặt chẽ giữa công nhân với nông dân. Khầu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế,
gắn chặt với quyền lợi chính trị.
Nhiều cuộc biểu tình đã dẫn đến bạo lực, nông dân từ các làng kéo đến huyện lị. tỉnh lị.
Họ thả tù nhân, đốt giấy tờ, sổ sách. Bọn lính Pháp đàn áp các cuộc biểu tình.
Ngày 12/9/1930, nông dân ở Hưng Nguyên, Nam Đàn tổ chức biểu tình vũ trang kết
hợp với cuộc bãi công của nhân ở Bến Thủy – Vinh, gồm 30 ngàn người. TDP đàn áp dã man
cuộc biểu tình giết chết 217 người. Phong trào chuyển sang vũ trang khởi nghĩa, phá huyện, lị
của bọn thực dân. Chính quyền của bọn thực dân, phong kiến ở nhiều huyện lị bị tiêu diệt,
nhiều xã bị tan rã. Bọn địa chủ và cường hào phản động bị trừng trị.
Nhiều địa phương, chi bộ Đảng đứng ra xây dựng chính quyền Xô – Viết, thi hành
chính sách mới:
Chính trị: Thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
Trang 8
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Kinh tế: Chia ruộng đất công cho dân nghèo, bãi bõ các thứ thuế vô lí, tu sửa
đướng xá, phòng lụt.
Xã hội: Tổ chức học chữ quốc ngữ, xóa bỏ các phong tục tập quán, lạc hậu, giữ
vững an ninh trật tự xã hội.
Thành lập các tổ chức chính trị như: nông hội, đội tự vệ, đoàn thanh niên cộng
sản, phụ nữ giải phóng, hội cứu tế đỏ…
Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Đảng ta và quần chúng cách mạng tiến tới tổng
khởi nghĩa sau này
Câu 7: Tại sao nói cao trào 1930 – 1931 đỉnh cao là Xô viết – Nghệ tĩnh là cuộc tổng diễn
tập lần nhất:
Đây là bước chuẩn bị đầu tiên cho thắng lợi của cách mạng tháng tám bởi vì:
Qua phong trào giai cấp vô sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương đã khẳng định
quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo của mình. Thực tiễn đã khẳng định tính chất
đúng đắn của đường lối chiến lược mà Đảng đề ra.
Qua cao trào, nông dân đã thể hiện lòng tin vào giai cấp công nhân, hình thành khối
liên minh công nông vững chắc. Cùng với sự ra đời của Đảng Cộng sản, khối liên
minh công nông là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đây là bài học được
quán triệt trong quá trình đấu tranh sau này.
Cao trào 30 – 31 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đã đem lại cho quần chúng công
nông niềm tin ở lực lượng cách mạng của mình, ở năng lực làm chủ đất nước và vận
mệnh dân tộc của mình.
Trong quá trình đấu tranh, đội ngũ cán bộ được thử thách và rèn luyện.
Qua cao trào đã khẳng định sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhờ
đó, Đảng ta được công nhận là một chi bộ của Quốc tế cộng sản.
Với những ý nghĩa hết sức to lớn ấy, phong trào 30 – 31 là cuộc tổng diễn tập đầu
tiên cho Cách mạng tháng Tám. Đánh giá Xô viết – Nghệ Tĩnh NAQ viết: “Tuy đế quốc Pháp
đã dập tắt phong trào đó trong biển máu nhưng Xô viết Nghệ Tĩnh đã chứng tỏ một tinh thần
oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại
nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cách mạng tháng tám thắng lợi sau này.
Câu 8: Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, trong những năm 1930 – 1939
Tháng 7/1936 Hội nghị BCH Trung ương ĐCS Đông Dương đề ra đường lối và phương
pháp đấu tranh trước mắt là: chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh,
đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Kẻ thù trước mắt là bọn phản động thuộc địa và tay sai
của chúng. Tạm gác khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và “Tịch thu ruộng đất chia cho dân cày
nghèo”.
Về tổ chức: thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, nhằm tập
khắp nơi trong cả nước. Công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi tự do nghiệp đoàn.
Nông dân đòi giảm sưu thuế. Tiểu thương, tiểu chủ bãi thị, đòi giảm thuế, công chức đòi tăng
lương.
Năm 1937 có khoảng 400 cuộc bãi công của công nhân, 150 cuộc đấu tranh của nông
dân, các cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ ở Hà Nội, Hải Phòng,..
Đấu tranh nghị trường: tháng 8/1937 ĐCS tham gia vận động bầu cử vào viện dân biểu
Trung kì, Hội đồng dân biểu Bắc kì, Hội đồng Quản hạt Nam kì. Đưa những người tiến bộ
vào bộ máy chính quyền thực dân, nhằm đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, vạch trần
chính sách phản động của thực dân Pháp.
Trang 11
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí: từ năm 1937, báo chí công khai do ĐCS Đông Dương
lãnh đạo phát triển nhanh chóng, là vũ khí đấu tranh cách mạng, tuyên truyền đường lối, quan
điểm, tập hợp, hướng dẫn phong trào đấu tranh quần chúng.
Báo chí cách mạng được xuất bản trong cả 3 miền, nhiều nhất ở Bắc kì, các tờ báo có
tiếng Việt vừa có tiếng Pháp.
Nhiều sách chính trị, lí luận, tác phẩm văn học hiện thực được xuất bản công khai.
Đấu tranh chóng bọn Tơrốtkit bọn chúng dùng chiêu bài cách mạng để lừa bịp quần
chúng, chia rẽ Mặt trận dân tộc thống nhất, phá hoại tổ chức Đảng. Vì vậy, ĐCS Đông Dương
đấu tranh kiên quyết giúp quần chúng thấy rõ bộ mặt phản động của bọn Tơrốtkit, ngăn chặn
sự phá hoại của chúng.
Tính chất, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệp của cao trào dân chủ 1936 - 1939
Tính chất phong trào:
Phong trào 1936 – 1939 là cuộc đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa
bình. Đây là phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chức, do ĐCS Đông Dương lãnh đạo.
Chính quyền thực dân buộc phải nhượng bộ một số chính sách đối với nhân dân.
Đây là phong trào đấu tranh trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính trị, hình thức
đấu tranh phong phú.
ngừng. Qua thực tiễn đấu tranh, Đảng đã xây dựng một đội quân chính trị hùng hậu
gồm hàng triệu người ở cả thành thị và nông thôn tập hợp trong một mặt trận thống
nhất rộng rãi. Cũng qua đấu tranh mà quần chúng cách mạng được tôi luyện và thử
thách dày dạn.
Phong trào cách mạng 36 – 39 còn để lại nhiều bài hoc kinh nghiệm quý giá cho giai
đoạn cách mạng sau. Đó là bài học về tổ chức, tập hợp quần chúng đấu tranh, bài học
về sử dụng hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú.
Phong trào cách mạng 36 – 39 đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa Đảng và
quần chúng cách mạng bước vào thời kì đấu tranh trực tiếp giành chính quyền. Vì vậy
đây là cuộc tổng diễn tập lần II chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám 1945.
Câu 10 : Đảng ta đã tiến hành công cuộc khởi nghĩa cách mạng 8/1945 cuộc chuẩn bị
cho tổng khởi nghĩa như thế nào ?
a. Về chính trị :
Đảng xuất tiến xây dựng lực lượng mọi mặt, trước hết xây dựng các đoàn thể Việt Minh
trên toàn quốc.
Tại Cao Bằng: mặt trận Việt Minh ra tờ báo”Việt Minh độc lập” nhắm giáo dục, động
viên quần chúng tham gia các tổ chức cứu quốc. 1/1942, ra tờ báo cứu quốc, cơ quan tuyên
truyền đường lối chính sách của mặt trận Việt Minh.
Cuối 1941, ở Cao bằng có nhiều xã, tổng toàn dân tham gia mặt trân Việt Minh. 1942,
có 3/9 châu bộ máy chính quyền địch chỉ tồn tại về hình thức, thực tế quyền hành do Việt
Minh nắm giữ.
Trang 13
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Phong trào Việt Minh phát triển từ Cao Bằng lan rộng ra nhiều tỉnh ở Bắc Kì, Trung Kì,
Nam Kì. Mặt trận Việt Minh có ba hình thức cơ bản là : “thanh niên cứu quốc”, “phụ nữ cứu
quốc”, “nông dân cứu quốc”.
Ở Nam kì, cán bộ và quần chúng lập ra các tổ chức quần chúng như “nhóm công nhân
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Về chủ trương đối ngoại, Đảng ta tranh thủ sự ủng hộ bên ngoài. Giao thiệp với chính
phủ kháng chiến Trung Quốc. Tháng 8/1942, Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc nhằm tranh
thủ sự viện trợ từ bên ngoài.
Trung ương Đảng xây dựng các khu an toàn gần Hà Nội. Cơ quan đầu não của Đảng
chuyển về xuôi, theo dõi và chỉ đạo phong trào.
Năm 1943, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Đảng ta chủ trương
đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
25/2/1943, Ban thường vụ trung ương họp, bàn việc mở rộng dân tộc thống nhất và xúc
tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Khi tổ chức huấn luyện các đội tự vệ, đội du kích, phổ biến
kinh nghiệm về khởi nghĩa và chiến tranh du kích.
Nghị quyết nêu rõ, phải dựa vào quần chúng đấu tranh chống Nhật – Pháp áp bức, nhằm
rèn luyện tập dượt họ. Xâu dựng lực lượng cách mạng ở thành thị, vận động công nhân tham
gia khởi nghĩa.
Năm 1943 – 1944, ở Bắc Kì các đoàn thể Việt Minh được xây dựng ở cả nông thôn và
thành thị. Ở Hà Nội, tổ chức Việt Minh được thành lập trong nhiều nhà máy, trường học, khu
phố.
Nhiều cuộc bãi công của công nhân nổ ra ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì. Ở
một số tỉnh Bắc Kì nông dân đấu tranh chống cướp thóc, cướp đất.
Ở Bắc Sơn – Vũ Nhai, cứu quốc quân hoạt động mạnh mở rộng căn cứ ra nhiều huyện
thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang.
Ở Cao Bằng, khắp nơi chuẩn bị khởi nghĩa, thành lập thêm các đội tự vệ, du kích, mở
các huấn luyện quân sự, chính trị. Khu căn cứ mở rộng ra các tỉnh Hà Giang, Bắc Cạn, Lạng
Sơn.
Hai trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và Cao Bằng đã được nối liền nhau bằng
một hành lang chính trị, những căn cứ liên hoàn.
7/5/1944, tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “ sửa soạn khởi nghĩa”. 10/8 kêu gọi toàn dân
“Sắm sửa vũ khí, đuổi thù chung”. Nhân dân khắp nơi, hăng hái chuẩn bị vũ khí, huấn luyện
đã phát động phá kho thóc của Nhật.
Đông đảo nhân dân vùng dậy tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Bắc kì các tỉnh
Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phú Thọ…quần chúng đã phá các kho thóc, gạo của Nhật.
Ở Trung kì có các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quãng Bình nhân dân phá
kho thóc cứu đói.
Ý nghĩa: phong trào phá kho thóc cứu đói nhằm tập hợp quần chúng đấu tranh, kết hợp
đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang, chuẩn bị tổng khỡi nghĩa.
Phong trào đấu tranh ở thành thị và các khu công nghiệp:
Phong trào đấu tranh ở thành thị gồm: công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, thanh
niên, học sinh tham gia. Phong trào phá kho thóc cứu đói diễn ra sôi nổi ở Hà Nội, Hải Phòng.
Trang 16
Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam
Phong trào công nhân phá hoại kinh tế địch, chế tạo vũ khí, lấy vũ khí địch cung cấp
cho chiến khu. Ở Quảng Yên công nhân một số mỏ khởi nghĩa. Ở Hà Nội, Huế, SG, công
nhân tổ chức diễn thuyết tuyên truyền gây thanh thế cho Việt Minh.
Thanh niên, học sinh ở Hà Nội tổ chức mít tinh, tuyên truyền, bất hợp tác với Nhật,
hưởng ứng phong trào Việt Minh. Ở Huế sinh viên tham gia tổ chức Việt Minh, vào đoàn thể
cứu quốc.
Ở SG và các tỉnh Nam bộ xuất hiện phong trào thanh niên tiền phong để tập hợp, rèn
luyện quần chúng yêu nước chuẩn bị khởi nghĩa.
b. Tổng khởi nghĩa tháng tám 1945:
Thời cơ tổng khởi nghĩa:
Ngày 15/8/1945 Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tại Đông Dương quân Nhật
hoang mang lo sợ, chính phủ bù nhìn rệu rã, các tầng lớp trung gian ngã hẳn về cách mạng.
Thời cơ giành chính quyền đã tới.
Ngày 12/8/1945 Ủy ban chỉ huy Lâm thời khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. 13/8
thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban khởi nghĩa ra quân lệnh số 1, chính thức phát
Cách mạng tháng tám là sự kiện trọng đại của dân tộc. Lật đổ ách thống trị của TDP và
phát xít Nhật, lật nhào chế độ phong kiến Việt Nam ngự trị gần chục thế kỉ.
Một nhà nước mới được xây dựng ở nước ta, nước VNDCCH. Nhân dân ta từ nô lệ trở
thành người chủ đất nước.
Mở ra kỉ nguyên mới của dân tộc, kỉ nguyên độc lập, tự do.
Cách mạng tháng Tám góp phần cùng nhân dân thế giới đánh bại chủ nghĩa phát xít,
đem lại hòa bình. Giáng đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân toàn thế giới.
Là thắng lợi đầu tiên của nước thuộc địa, tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân. Cổ
vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức trên thế giới.
Linhlilom
Trang 18