Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn bùi ngọc tấn - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGÔ THỊ DUNG

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÙI NGỌC TẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGÔ THỊ DUNG

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÙI NGỌC TẤN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Dục Tú

Hà Nội - 2016



1.2.2 Người kể chuyện cái tôi – nhân vật chính ........................................................18
1.2.3 Người kể chuyện cái tôi - nghe chuyện ............................................................19
1.3 Ngƣời kể chuyện hàm ẩn ..................................................................................20
1.3.1 Người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri ...........................................................20
1.3.2 Người kể chuyện tựa vào điểm nhìn nhân vật ..................................................23
1.4 Sự đan xen hai dạng thức trần thuật ...............................................................29
Chƣơng 2: KẾT CẤU VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI NGỌC TẤN....34
2.1 Kết cấu ................................................................................................................34
2.1.1 Khái quát về kết cấu .........................................................................................34
2.1.2. Kết cấu tuyến tính............................................................................................35
2.1.3. Kết cấu đảo ngược ..........................................................................................42
2.1.4. Kết cấu tâm lý..................................................................................................44
2.2 Nhân vật .............................................................................................................60
2.2.1 Khái quát về nhân vật truyện ngắn ..................................................................60
2.2.2 Các kiểu nhân vật .............................................................................................61
1


2.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật .........................................................................71
Chƣơng 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN ..........82
BÙI NGỌC TẤN .....................................................................................................82
3.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn ...................................................82
3.1.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ ....................................................................................83
3.1.2 Ngôn ngữ đời thường, sử dụng khẩu ngữ, tiếng lóng ......................................85
3.1.3 Vận dụng ngôn ngữ dân gian ...........................................................................88
3.1.4 Tổ chức những câu ngắn ................................................................................89
3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn .................................................93
3.2.2 Giọng trữ tình, chiêm nghiệm ..........................................................................97
3.2.3 Giọng lạnh lùng, khách quan .........................................................................100
KẾT LUẬN ............................................................................................................104

Tác giả sinh năm 1934, mất năm 2014, quê ở Thủy Nguyên, Hải Phòng. Bùi
Ngọc Tấn bắt đầu viết báo, viết văn từ năm 1954 khi vừa tròn 20 tuổi. Tác giả là
phóng viên báo Tiền Phong (1954-1959) với bút danh Tân Sắc. Sau đó, ông làm
biên tập cho báo Hải Phòng (1960-1968). Ông có thời gian “đi tập trung cải tạo 5

3


năm” (1968-1973). Sau đó, ông làm việc tại Quốc doanh đánh cá Hạ Long 20 năm
(1974-1994).
Sự nghiệp văn chƣơng của Bùi Ngọc Tấn có nhiều trắc trở, nhà văn có một
khoảng thời gian dài ngừng cầm bút (1975-1990). Con đƣờng viết văn của tác giả
chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một, từ năm 1954 đến năm 1968, giai đoạn hai, từ
năm 1990 cho đến 2014. Có thể nói quãng thời gian đi cải tạo đã để lại nhiều ám
ảnh trong cuộc đời nhà văn. Bùi Ngọc Tấn từng tuyên bố với bạn năm 1974 “Mình
bẻ bút rồi. Đoạn tuyệt hẳn đấy.” Nhƣng nhƣ Dƣơng Tƣờng nhận xét “Những năm
tháng hoạn nạn – theo quy luật bù trừ của tạo hoá? Đã tạo cho Bùi Ngọc Tấn hội
nhập – thậm chí đồng hoá – vào môi trƣờng dƣới đáy, giàu thêm bao trải nghiệm
trên mọi cũng bậc trầm luân của nhân sinh và hoà đồng với những thân phận phó –
ngƣời (sous – homes) sau này trở thành tiêu mẫu cho những nhân vật của anh. “ [69,
tr. 6 ]. Và Bùi Ngọc Tấn lại tiếp tục viết để hoàn thành nghiệp văn.
Các tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn đƣợc nhiều bạn đọc biết đến nhƣ:
-

Một thời để mất - hồi ký (1995)

-

Những người rách việc - truyện ngắn (1996)


4


Với Bùi Ngọc Tấn, văn chƣơng phải viết về sự thật, phải giản dị và chân thành
nhƣ từng hơi thở của cuộc sống. Văn chƣơng là một lao động cực nhọc. Văn
chƣơng còn đầy rẫy chông gai và hiểm nguy. Ngƣời nghệ sỹ là “những ngƣời mang
nghiệp chƣớng”, mang sự nhếch nhác trần ai của ngƣời làm nghề. Nhà văn phải
“bấm chân xuống đáy đời mà bƣớc.” Dù vậy, Bùi Ngọc Tấn vẫn yêu văn chƣơng
bằng cả tấm chân tình bởi nhƣ ông từng tâm sự trong bài viết Bùi Ngọc Tấn – Người
chăn kiến “Văn chƣơng là thế. Dìm không xuống, kéo không lên. Nó tồn tại bằng
giá trị tự thân. Sống bằng cái gì mình có.” [71]
Hiếm có nhà văn nào lại nhìn đời với sự đôn hậu và bao dung nhƣ Bùi Ngọc
Tấn. Dƣơng Tƣờng nhận xét “Đọc Bùi Ngọc Tấn, tôi thêm tin rằng sự sa đoạ tâm
hồn trƣớc thử thách của số mệnh không phải là tội tổ tông truyền. Cái lớn lao của
Bùi Ngọc Tấn là ở chỗ tất cả những vùi dập cay nghiệt của số phận không hề làm
anh hằn học, chua chát mà chỉ thêm bao dung. Phải là một tâm hồn rất quảng đại
mới có thể nói về những nghiệm sinh ê chề của mình với một chất u – mua độ
lƣợng và lạc quan đến thế” [69, tr. 7]
Văn của Bùi Ngọc Tấn rất đẹp. Con ngƣời “đổi buồn lấy vui” ấy tâm niệm,
viết để sống nhẹ hơn, viết để sống tốt hơn. Ông thuộc về kẻ yếu, kẻ ở tầng đáy “Văn
nghệ, theo tôi, quý trƣớc hết vẫn là ở cái lòng nhân, là tình yêu thƣơng con ngƣời.
Với tôi, mỗi lần viết là để mình đƣợc tốt hơn lên…Với tôi, văn chƣơng thuộc về
những kẻ yếu, những ngƣời bất hạnh, những ngƣời đau khổ, những ngƣời ở tầng
đáy, những ngƣời chịu đựng lịch sử. Tôi viết về họ, phụng sự họ” [25]
Bùi Ngọc Tấn là ngƣời biết “chƣng cất cái đau thành hy vọng, thành tiếng
cƣời. Đó là hóa học của nhân bản hay có khi là bí quyết đạt đạo của những bậc
hiền” (Dƣơng Tƣờng). Ông là một nhà văn theo đúng nghĩa “văn chƣơng là cuộc
đời”, một nhà văn chân chính.
Với ông, văn chƣơng là một lao động nghiêm túc “Tôi viết dàn trải lắm. Phần
chữa vất vả hơn phần viết. Giai đoạn trƣớc, trời nóng quá, tôi đã phải lấy nƣớc đá ra

chia sẻ. Tuy vậy, các tác giả có nhận xét khái quát về truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn.
Đầu tiên phải kể đến bài viết của Dƣơng Tƣờng trên báo Văn nghệ số 49
ngày 04/12/1999, sau đƣợc chọn làm lời giới thiệu trong lần xuất bản cuốn Truyện
ngắn Bùi Ngọc Tấn (NXB Hải Phòng, 2003). Bài viết với tiêu đề Bùi Ngọc Tấn và
hóa học của nhân bản. Dƣơng Tƣờng chỉ ra đó là những truyện ngắn ngồn ngộn
6


chất sống. Ông lý giải chính những năm tháng hoạn nạn đã giúp Bùi ngọc Tấn có thêm sự
trải nghiệm, có thêm chất liệu sống cho những trang viết của mình. Chúng không hề làm
cho nhà văn hằn học, chua chát mà ngƣợc lại càng thêm bao dung, lạc quan.
Tiếp đến là bài viết của Vũ Quốc Văn Tân sắc Bùi Ngọc Tấn, một nhà văn
đặc sắc in trên báo Tiền phong ngày 25/12/2005. Tác giả bài viết sau khi giới thiệu
về cuộc đời của Bùi Ngọc Tấn, về cuốn hồi ức văn học Một thời để mất, đã có
những nhận xét về các truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn. Tác giả cho rằng đọc truyện
nào cũng đầy ắp vốn sống, ngồn ngộn chi tiết và lấp lánh tài hoa, gợi mở. Bùi Ngọc
Tấn có lối viết văn lạ, dung dị mà hiện đại, viết về con ngƣời bình thƣờng với sự
trân trọng và thƣơng xót. Truyện nào cũng xúc động. Đặc sắc là cái chất hóm hỉnh
đôi khi trào lộng rất riêng, không giống ai. Bùi Ngọc Tấn còn khéo léo ngay trong
cách đặt tên cho tác phẩm của mình.
Thu Hà có bài viết hàm súc, cô đọng chỉ ra những đặc trƣng của Bùi Ngọc
Tấn trong bài Sự giản dị mạnh mẽ đăng trên Tuổi trẻ online ngày 31/10/2011. Bài
viết nhận xét sự giản dị trong câu chữ và ý tƣởng, trong mọi vấn đề của tập truyện,
về tuyến nhân vật, những trải nghiệm cảm xúc ấn tƣợng. Tác giả cho rằng nhà văn
đã thực sự đến đích trên con đƣờng văn của mình.
Bài viết Thư kí thời đại: nhà văn Bùi Ngọc Tấn của Nguyễn Văn Tuấn đăng
trên buingoctan.wordpress.com ngày11/04/2012 giới thiệu hai tác phẩm của Bùi
Ngọc Tấn là Viết về bè bạn và Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn. Tác giả bài viết nhận xét
tập truyện này là một trò chuyện với vô cùng. Đề tài của tập truyện là cuộc sống nhà
tù và ám ảnh sau khi ra tù, những hoàn cảnh éo le, những câu chuyện thƣơng tâm

b. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu vấn đề nghệ thuật tự sự của truyện ngắn
Bùi Ngọc Tấn qua 20 truyện ngắn đƣợc tuyển tập trong hai cuốn Truyện ngắn Bùi
Ngọc Tấn (NXB Hải Phòng, 2003) và Người chăn kiến (NXN Hội Nhà văn và Nhã
Nam, 2010)
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Tư liệu
Về mặt tƣ liệu, ngƣời viết cố gắng tìm hiểu đề tài qua sách, báo, nguồn
internet.

8


4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dự kiến sử dụng một số phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp phân tích
- Phƣơng pháp tổng hợp
- Phƣơng pháp so sánh
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp loại hình
5. Dự kiến đóng góp của luận văn
Ngƣời viết mong muốn luận văn sẽ đóng góp một cách tƣơng đối đầy đủ và hệ
thống về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn trên các khía cạnh:
ngƣời kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, kết cấu và nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu.
Từ đó, góp phần vào việc nhìn nhận những đóng góp của truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn
vào truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng, văn xuôi nói chung.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung
luận văn của tôi gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Ngƣời kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Bùi

Quan niệm đồng nhất ngƣời kể chuyện và tác giả dần dần đƣợc xóa bỏ. Ngƣời
kể chuyện chính là hình tƣợng do nhà văn sáng tạo nên, mang nhiệm vụ trần thuật
và chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng. Ngƣời kể chuyện có thể mang tƣ tƣởng của
nhà văn, thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của ngƣời nghệ sỹ về thế giới khách
quan nhƣng tuyệt đối không bao giờ đƣợc đồng nhất hai khái niệm này. “Ngƣời kể
chuyện là hình tƣợng ƣớc lệ về ngƣời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất
10


hiện khi nào câu chuyện đƣợc kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể
là hình tƣợng của chính tác giả (ví dụ “tôi” trong Đôi mắt), dĩ nhiên không nên đồng
nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng
tạo ra (ví dụ: ngƣời điên trong Nhật ký người điên của Lỗ Tấn), có thể là một ngƣời
biết một câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều ngƣời kể
chuyện” [40, tr. 221].
Vai trò của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm rất lớn, giúp đem lại cho tác phẩm
một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trƣờng
xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con ngƣời và đời sống trong
tác phẩm thêm phong phú, sáng tạo.
Sách Lý luận văn học nêu “Thông thƣờng, tác phẩm tự sự nào cũng xuất hiện
ngƣời kể chuyện với tƣ cách là một nhân vật trung gian có nhiệm vụ kể lại đầu đuôi
diễn biến của toàn bộ câu chuyện. Ngƣời kể chuyện có mặt ở mọi thời điểm, mọi
nơi chốn và luôn luôn ẩn hiện trên từng trang sách.” [15, tr. 253].
Theo Genette, dựa vào việc tồn tại của ngƣời kể chuyện đƣợc báo hiệu nhƣ thế
nào trong văn bản, ngƣời ta phân biệt ngƣời kể chuyện giấu mặt và ngƣời kể chuyện
lộ diện. Một ngƣời kể chuyện lộ diện (overt narrator) là anh/cô ta tự nhắc đến mình
ở ngôi thứ nhất (“Tôi”, “Chúng tôi”); ngƣời trực tiếp hoặc gián tiếp hƣớng đến
ngƣời nghe; một ngƣời sẵn sàng biểu hiện thái độ thân thiện với ngƣời đọc bất cứ
lúc nào cần đến. Ngƣời kể chuyện giấu mặt (covert narrator), ngƣợc lại, là một
ngƣời không bày tỏ những đặc điểm công khai nhƣ đã nêu trên. Cụ thể là anh ta/cô

Trong bài Phối cảnh và điểm nhìn trong văn bản nghệ thuật, tác giả Đào Duy
Hiệp đã trích dẫn trong Từ điển bách khoa về các khoa học và ngôn ngữ của hai tác
giả Oswald Ducrot và Tzvetan Todorov “Thuật ngữ cách nhìn hay điểm nhìn dựa
vào mối quan hệ giữa ngƣời kể chuyện và thế giới đƣợc thể hiện. Truyện kể đƣợc
tạo nên từ nơi bắt đầu điểm nhìn” [24, tr. 106]. Tác giả cũng sơ đồ hóa ba kiểu điểm
nhìn của Genette. Trong đó, focalisation zéro là điểm nhìn biết tuốt, focalisatinon
interne là điểm nhìn đƣợc đặt vào bên trong nhân vật (interne fixe : cố định, interne
variable : biến đổi, interne multiple : đa bội) và focalisation externe là điểm nhìn
bên ngoài.
Ngƣời kể chuyện toàn tri ứng với điểm nhìn zero. Ngƣời kể chuyện mang sức
mạnh toàn năng, thông suốt, tƣờng tận hết mọi chuyện không chỉ ở hiện tại mà còn
12


có khả năng tái hiện lại quá khứ và dự báo trƣớc tƣơng lai. Với vai trò nhƣ thƣợng
đế, Chúa trời, ngƣời kể chuyện biết hết mọi chuyện nhân sinh, vũ trụ. Ngay cả đời
sống nội tâm phức tạp, thầm kín của con ngƣời cũng đƣợc anh ta thâu tóm và kể lại
một cách trung thực. Độ bao quát hiện thực của ngƣời kể chuyện bao giờ cũng lớn
hơn hết thảy mọi nhân vật. Con mắt của ngƣời trần thuật có mặt ở khắp mọi nơi,
mọi lúc, xoáy sâu vào từng chi tiết nhỏ của đời sống để kể lại cho độc giả. Nhờ vậy
mà mọi hiện thực đều đƣợc phơi bày một cách rõ nét. Điều này dƣờng nhƣ đang trở
thành một hạn chế lớn của kiểu ngƣời kể chuyện toàn tri và điểm nhìn zero. Ngày
nay, dạng ngƣời kể chuyện này không đƣợc nhiều nhà văn sử dụng vì nó tạo ra tâm
lý nhàm chán cho độc giả. Con ngƣời hiện đại luôn đƣợc xem là một thực tế phức
tạp và khó hiểu. Bởi vậy, mọi câu chuyện đƣợc viết ra đều phải tạo cho ngƣời đọc
hứng thú khám phá, một thái độ biết hoài nghi, phủ nhận. Nhƣng kiểu ngƣời kể
chuyện toàn tri với điểm nhìn zero lại không thể thực hiện đƣợc điều đó khi mọi chỗ
trống đều đƣợc lấp đầy, mọi hiện thực đều đƣợc phơi bày khiến độc giả rơi vào
cảm giác tẻ nhạt, thiếu hứng thú, nó tạo ra một lớp độc giả lƣời biếng.
Ngƣời kể chuyện bên trong gắn với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn của nhân

trần thuật. Điều này cho thấy nỗ lực đổi mới ở thể loại truyện ngắn của tác giả trên
phƣơng diện trần thuật. Hơn nữa, việc lựa chọn ngôi trần thuật và điểm nhìn trần
thuật giúp nhà văn chuyển tải những thông điệp tới độc giả.
1.2 Ngƣời kể chuyện tƣờng minh
1.2.1 Người kể chuyện cái tôi – dẫn chuyện, chứng nhân
Theo thống kê của ngƣời viết, 8/20 truyện ngắn xuất hiện "tôi". Trong đó, 7/8
truyện ngắn, ngƣời kể chuyện xƣng tôi đóng vai trò dẫn truyện, chứng nhân. 1/8
truyện ngắn, ngƣời kể chuyện xƣng tôi đóng vai trò nhân vật chính. Điều này cho
thấy việc sử dụng cái tôi – chứng nhân chiếm ƣu thế nhiều hơn so với cái tôi - nhân
vật chính.
Trong văn bản, ngƣời kể chuyện lộ diện, hoàn toàn xác định, kể lại câu chuyện
có thể của chính mình, có thể của nhân vật khác mình đƣợc nghe hay trực tiếp
chứng kiến. Truyện ngắn lúc này đƣợc trần thuật theo ngôi thứ nhất. Lý thuyết trần
thuật của Genette đã chỉ ra trần thuật ngôi thứ nhất đƣợc kể bởi một ngƣời kể
chuyện hiện diện trong tác phẩm với tƣ cách một nhân vật. Đó là một câu chuyện về
những sự kiện mà bản thân anh/cô ta tự trải nghiệm. Một câu chuyện về trải nghiệm

14


cá nhân. Nhân vật xƣng tôi vừa là nhân vật, vừa là ngƣời kể chuyện, kể lại những
trải nghiệm của chính mình và của những nhân vật khác. Nếu ngƣời kể chuyện là
nhân vật chính thì anh/cô ta là một cái tôi – vai chính, nếu anh/cô ta là vai phụ thì
anh/cô ta là cái tôi - chứng nhân.
Trong Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Bích Thu đã cho rằng một
trong những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 là nghệ thuật trần thuật với sự xuất
hiện của “tôi”. Tác giả bài bài viết nhận định “Các nhà văn rất chú trọng đến các
khía cạnh truyền đạt giọng điệu cái tôi của mình trong tác phẩm khiến hình thức kể
chuyện ở ngôi thứ nhất xuất hiện ngày càng nhiều. Kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật
ngƣời kể chuyện xƣng tôi kể chuyện về bản thân hay về ngƣời khác nhƣng không lộ

Người mua nhà của bố mẹ tôi là câu chuyện về nhân vật "cô Thoan" nhƣng lại
đƣợc bắt đầu bằng suy nghĩ của nhân vật "tôi" về quyết định hệ trọng : bán ngôi
nhà, bán mảnh vƣờn của bố mẹ để lại. Điểm nhìn bên trong xoáy sâu vào nhân vật
"tôi". Những kí ức về tuổi thơ, về năm tháng đã qua ùa về. Với nhân vật tôi, căn
nhà, mảnh vƣờn ấy còn là chốn cƣ ngụ cuối cùng, là quê hƣơng, là tất cả. Đây là nơi
"tôi" tìm về khi muốn quên đi thực tại. Phải bán đi ngôi nhà và mảnh vƣờn là sự lựa
chọn bất đắc dĩ. Chính những dòng suy tƣ của nhân vật tôi là duyên cớ dẫn đến câu
chuyện về cô Thoan. Các sự kiện đƣợc tái hiện qua lời kể trực tiếp của nhân vật
xƣng tôi hiện diện trong tác phẩm. Nhân vật tôi ở đây có mối quan hệ "họ hàng" với
nhân vật chính. Tôi đã chứng kiến quá trình đổi đời của cô Thoan. Tôi kể lại câu
chuyện về cuộc đời cô Thoan, từ lúc cô Thoan còn nghèo khó đến khi cô có cơ số là "lâu
la" trong nhà. Nhân vật tôi gợi mở, quan sát, nhìn nhận, đánh giá về các sự kiện. Ngƣời
kể chuyện đã khéo léo dẫn dắt câu chuyện để làm nổi bật nhân vật chính.
Trong truyện ngắn Lạc đội hình, nhân vật tôi có tham gia vào diễn biến câu
chuyện ở mối quan hệ “đồng hƣơng” với nhân vật chính. Đẩu đƣợc miêu tả tỉ mỉ,
chi tiết về ngoại hình “ngƣời dây”, về tính tình “lƣơng thiện”, về cuộc đời nghèo đói
trớ trêu, về sự lạc đội hình. Tuy vậy, nhân vật tôi chỉ kể lại câu chuyện một cách
khách quan, không đi sâu vào nội tâm nhân vật. Đẩu suy nghĩ thế nào và dự tính ra
sao, nhân vật tôi không tiết lộ. Ngay cả cái nghèo của anh cũng đƣợc trần thuật
khách quan thông qua cuộc trò chuyện. Ngƣời kể chuyện xƣng tôi dẫn dắt mạch
truyện, hƣớng độc giả theo từng sự việc. Nhân vật tôi am hiểu tƣờng tận tính cách

16


lƣơng thiện của “đồng hƣơng”, những lý do khiến Đẩu lạc đội hình. Tôi hoàn toàn
có danh xƣng, có chỗ đứng trong tác phẩm.
Trong Làng có 99 cái ao, cây da 99 cành và ông đại tá về hưu, nhân vật tôi kể
về ông đại tá về hƣu Nguyễn Trung Chiến. Sau khi khái quát về cái làng của mình,
nhân vật tôi đã trình bày rõ nhân vật mà mình sắp kể “Câu chuyện tôi đang kể đây

phần tốt đẹp đã mất đi trong con ngƣời hiện đại đƣợc nhà văn trăn trở.
Chọn lựa cách trần thuật theo ngôi thứ nhất với cái tôi giữ vai trò dẫn chuyện,
chứng nhân, Bùi Ngọc Tấn thể hiện dụng ý riêng. Câu chuyện trở nên khách quan
hơn, chân thực hơn, giàu sức thuyết phục hơn. Hơn nữa, trong vai trò ngƣời dẫn
chuyện xƣng tôi, ngƣời kể chuyện dễ dàng dẫn dắt độc giả vào câu chuyện, vào thế
giới nhân vật của mình. Ngƣời kể chuyện đƣa ra những quan điểm riêng, đánh giá,
nhận xét. Từ đó thuyết phục ngƣời đọc theo quan điểm của mình. Các sự kiện trở
nên đa dạng, sinh động hơn và đƣợc soi chiếu trên nhiều góc độ.
1.2.2 Người kể chuyện cái tôi – nhân vật chính
Trong 8 truyện ngắn xuất hiện ngƣời kể chuyện xƣng tôi, chỉ có duy nhất 1
truyện ngắn ngƣời kể chuyện xƣng tôi đóng vai trò nhân vật chính. Tôi vừa là ngƣời
dẫn truyện, vừa tham gia trực tiếp vào diễn biến truyện. Đó là truyện Ngưu tất, hồng
hoa, nga truật.
Truyện có dung lƣợng ngắn gọn (gần 4 trang), xoay quanh câu chuyện giữa
tôi, Bình và anh hộ tịch. Nhân vật tôi là một trong ba nhân vật chính trong chuyện.
Các sự việc diễn ra theo sự trần thuật của nhân vật tôi. Đứng từ góc nhìn của tôi,
chắc chắn giữa Bình và anh hộ tịch có điều gì đó quan trọng. Và tôi mặc sức suy
diễn, thậm chí nghĩ rằng ngƣời bạn thân của mình là chỉ điểm. Diễn biến cốt truyện
theo điểm nhìn của nhân vật tôi, gia tăng tình tiết truyện. Nhân vật tôi suy xét, đánh
giá tình hình qua từng bƣớc. Cốt truyện lên đến đỉnh điểm khi ngƣời dẫn truyện
"nhân vật tôi" với những dòng nội tâm sâu sắc "Trời ơi. Chẳng lẽ Bình lại làm chỉ
điểm. Đó mới thực sự là điều kinh khủng nhất. Không. Không thể. Sao lại không
thể. Chuyện gì kia ? Chuyện gì ngay trƣớc mắt kia ???" [67, tr. 54]. Chỉ đến khi nút
thắt đƣợc mở, nhân vật tôi mới thở phào. Hoá ra, đó chỉ là một sự hiểu lầm.
Khi ngƣời kể chuyện xƣng tôi đóng vai trò nhân vật chính, điểm nhìn bị thu
hẹp lại. Thế giới nội tâm của nhân vật chính đƣợc soi chiếu từng ngõ ngách. Ngƣời
kể chuyện để độc giả biết nhân vật đang suy nghĩ gì, quá khứ, hiện tại, dự tính

18


19


nghe câu chuyện cùng độc giả. Ngƣời kể chuyện Hiếu dặn dò ngƣời kể chuyện,
nghe chuyện “tôi” có trách nhiệm kể lại cho độc giả biết câu chuyện này.
Truyện ngắn Một ngày dài đằng đẵng đƣợc trần thuật theo ngôi thứ ba. Phải
đến khi kết thúc truyện, nhân vật tôi mới xuất hiện và lý giải nguồn gốc câu chuyện.
Tôi đóng vai trò là ngƣời nghe chuyện, kể lại câu chuyện mình đƣợc nghe cho độc giả.
Lúc này, mặc dù ngƣời kể chuyện xƣng tôi nhƣng thực ra nó là cái tôi nghe chuyện.
Đây là điểm độc đáo của truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn. Việc hoán đổi vị trí nhƣ
vậy tạo nên sự bất ngờ riêng cho câu chuyện. Các sự kiện hiện lên khách quan hơn.
Đồng thời, độc giả có thêm sự tin tƣởng vì ngƣời nghe chuyện đóng vai trò chỉ kể
lại câu chuyện mà mình đã đƣợc nghe nhƣ một nhiệm vụ cần thực hiện. Họ đƣợc
nhân vật chính trao phó sứ mệnh “Sếp hãy viết về Trung sĩ của tôi. Và phải viết
đúng nhƣ thế.” [67, tr. 222]. Bên cạnh nghĩa vụ kể lại câu chuyện đƣợc nghe theo
lời dặn dò, ngƣời kể chuyện đóng vai trò ngƣời nghe chuyện còn lồng vào những
suy nghĩ riêng của mình. Nhờ đó, bộc lộ thái độ của nhà văn với sự việc. Trong hai
truyện ngắn, nhà văn có hai thái độ khác nhau. Ở truyện thứ nhất, nhà văn thấy nuối
tiếc những điều tốt đẹp trong con ngƣời đã mất mát theo sự đổi thay của thời cuộc
và ƣớc gì điều mình nghe không phải là sự thật. Ở truyện thứ hai, lồng vào một câu
chuyện vui trên đƣờng chuyển trại là những lo lắng có thật của ngƣời tù về số phận,
về tƣơng lai của mình. Đó còn là nỗi ám ảnh về thời gian của những ngƣời tù. Đây
cũng là ám ảnh của chính tác giả về những ngày tháng khủng khiếp đó. Ở một nơi
mà mọi thứ đều ngƣng lại, duy chỉ có suy nghĩ con ngƣời. Nó không chết đi mà vón
cục lại, mòn ra, gỉ đi. Tâm hồn con ngƣời chai cứng dần. Có những vết thƣơng có
thể chữa lành theo thời gian nhƣng cũng có những vết thƣơng không thể nào nguôi
ngoai trong lòng ngƣời.
1.3 Ngƣời kể chuyện hàm ẩn
1.3.1 Người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri
Ngƣời kể chuyện hàm ẩn có mặt ở khắp nơi, ở mọi thời điểm, thông tƣờng

chuyện lại chen vào những lời bình luận “Chứ chẳng một hoa hậu, á hậu toàn quốc
nào hơn đƣợc chúng. Có đôi mắt hoa hậu nào long lanh trong trẻo hơn mắt chúng?
Có làn da hoa hậu nào mịn màng mơn mởn nhƣ làn da chúng? Có vẻ mặt hoa hậu
nào sáng tƣơi nhƣ gƣơng mặt chúng? Và cho dù có những cái răng cửa gẫy chƣa kịp
mọc lại hay chỉ mới nhi nhí thật đấy, nhƣng vẫn cứ đẹp” [67, tr. 78] Dù không để lộ

21


danh tính nhƣng ngƣời kể chuyện cho thấy cái nhìn của một ngƣời lớn tuổi dành
cho các em. Đó là một cái nhìn hồn hậu bao dung của ngƣời từng trải. Không chỉ
thông tƣờng mọi việc ở hiện tại, ngƣời kể chuyện hàm ẩn còn đƣa ra nhận định
tƣơng lai “Bé ơi. Đừng khóc. Đời các con chỉ mới bắt đầu.”. Đây chỉ là cú vấp đầu
đời của các em, sau này các em còn phải trải qua nhiều thử thách. Trên cƣơng vị của
một ngƣời đi trƣớc, một ngƣời lớn tuổi hơn, ngƣời kể chuyện coi đó là điều tất yếu
trong cuộc đời và thầm dặn dò, an ủi các em.
Một tối vui là câu chuyện hài hƣớc đƣợc trần thuật lại bởi ngƣời kể chuyện
hàm ẩn. Ngƣời kể chuyện không tiết lộ mình nhƣng ngƣời đọc có thể cảm nhận
ngƣời kể chuyện là một nhân vật đang chứng kiến toàn bộ câu chuyện, thậm chí
tham gia vào phiên toà xét xử chuột ấy. Từng chi tiết, từng lời nói đƣợc quan sát
một cách kỹ lƣỡng. Ngƣời kể chuyện hàm ẩn am tƣờng mọi chuyện, kể lại một cách
khách quan sự việc trong buồng giam. Thái độ của ngƣời kể chuyện đầy chân thành,
cảm thông, có chút xót xa “Đêm nay ngƣời ta chìm vào giấc ngủ với những điều
buồn cƣời và thích thú đến thế. Sau này mỗi khi ôn lại cái đêm thiên tải nhất thì –
nghìn năm có một ấy, Quảng lại khẳng định chất giọng Thịnh cốc lúc đó là chất
giọng tê no, cũng nhƣ giọng của Quảng khi tuyên án đúng là mi mi nơ trầm hùng
[67, tr. 127]. Buổi tối ấy đã trở thành một kỉ niệm đẹp đối với ngƣời tù. Ngƣời kể
chuyện hàm ẩn là ngƣời có trải nghiệm, am hiểu từng suy nghĩ của ngƣời tù, am
hiểu mọi sự việc diễn ra trong tù.
Trong Một cái hôn dài ngƣời kể chuyện hàm ẩn trần thuật câu chuyện về tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status