Với đặc thù từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên CNXH, trong
những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề
nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X khẳng
định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [18, tr.123]. Một
trong những nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi nhất trong giải quyết vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay là xây dựng nông thôn mới. Đây là
nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng và phát triển
giai cấp nông dân, góp phần củng cố vững chắc khối liên minh công – nông –
trí trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Quá trình xây dựng NTM ở nước ta hiện nay, bên cạnh mặt thuận lợi,
chúng ta đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn đòi hỏi
phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; trong đó HTCT, nhất là HTCTCS
có vai trò rất quan trọng. Hệ thống chính trị cơ sở là nơi trực tiếp tuyên truyền
giáo dục, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong
đó có chủ trương, chính sách về xây dựng NTM đến với người dân; HTCTCS
cũng là nơi trực tiếp lãnh đạo, quản lý, tổ chức và vận động nhân dân, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng nông thôn mới. Thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới nói chung, của quá trình xây dựng NTM nói riêng ở
nước ta hiện nay luôn gắn liền với vai trò to lớn của hệ thống chính trị cơ sở.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM của Chính phủ, vai trò của HTCTCS tỉnh
Bình Dương nhìn chung đã được phát huy tích cực. Cấp uỷ đảng, chính quyền
cơ sở đã quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt là chủ trương, chính sách xây dựng NTM; bám sát đặc điểm tình hình
địa phương, xây dựng nghị quyết, xác định các chủ trương, biện pháp lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM chặt chẽ, kịp thời; phát
2
Ở một nước với nền tảng kinh tế là một nền nông nghiệp lạc hậu đi
lên CNXH như nước ta, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn
chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ đường lối cách mạng
của Đảng. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn từ lâu đã có mối quan hệ
ràng buộc hữu cơ với nhau; là tiền đề, điều kiện cho nhau cùng vận động,
phát triển. Trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay,
nhận thức và đánh giá đúng vai trò của nông thôn và ý nghĩa của việc xây
dựng NTM đang là vấn đề thời sự và cấp thiết.
Nông thôn là địa bàn cư trú, sinh sống của nông dân với thiết chế theo cấu
trúc làng - xã; về mặt địa lý, đây là phần không gian không thuộc nội thành, nội
thị các thành phố, thị xã được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Theo quan niệm truyền thống, nói đến nông thôn là nói đến làng - xã được bao
quanh bởi luỹ tre làng với quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội đặc trưng bởi tính cố
thủ, khép kín, tự cung, tự cấp... Từ bao đời nay, làng - xã Việt Nam đã đóng vai
trò to lớn trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, làng - xã với tinh thần đoàn kết và cố kết
cộng đồng chặt chẽ, ý thức độc lập, tự chủ và lòng yêu nước sâu sắc đã là những
pháo đài kiên cố, chiến luỹ điệp trùng ngăn chặn bước tiến và đánh thắng kẻ thù
xâm lược. Trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, nhất là trị thuỷ, làng - xã cũng là
nơi huy động sức dân to lớn để hình thành nên hệ thống đê điều, kênh rạch chằng
chịt như ngày nay. Về phương diện sản xuất, nông thôn (làng - xã) cũng là nơi sản
sinh, lưu giữ và phát triển các ngành, nghề truyền thống có giá trị mà ngày nay
còn được bảo tồn, phát triển đóng góp tích cực cho công cuộc phát triển đất nước.
Cùng với quá trình tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam, làng - xã
Việt Nam cũng là nơi sản sinh và lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống
của dân tộc như: tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí tự lực, tự cường...
Nhiều thiết chế văn hoá tâm linh có giá trị như đình, chùa, miếu, đền... cũng
được xây dựng, lưu giữ, bảo tồn ở các làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó, nông
5
Sau ngày nước nhà giành độc lập, trăn trở lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là làm sao cho dân được tự do, hạnh phúc, mọi người có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành, chữa bệnh... Ở một nước với hơn 90% dân số là nông
dân thì dân thực chất chính là những người nông dân, những người mà cuộc
sống của mình gắn bó suốt đời với làng quê ở những vùng nông thôn. Vì vậy,
Người đã rất quan tâm đến đến xây dựng nông thôn mới. Theo Hồ Chí Minh,
xây dựng NTM trước hết phải xây dựng người nông dân mới - người nông dân
xã hội chủ nghĩa. Người dạy, muốn no cơm, ấm áo thì mọi người phải thi đua
tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Nông dân phải cần kiệm xây dựng hợp tác
xã nông nghiệp cho tốt, cho vững. Muốn vậy phải chú ý: "Cán bộ ban quản trị
phải công bằng, dân chủ. mọi việc phải bàn bạc với xã viên, sổ sách, tiền của
phải rõ ràng, minh bạch. Xã viên phải đoàn kết chặt chẽ, vui vẻ sản xuất, coi
công việc hợp tác xã như công việc nhà mình" [34, tr.283].
Cùng với xây dựng người nông dân mới là xây dựng đời sống mới ở nông
thôn. Một trong những quan tâm lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng đời
sống mới ở làng - xã khắp các vùng nông thôn. Theo Người, đời sống mới ở một
làng là: "Về văn hoá, phải cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm
của công dân. Về phong tục phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút sách, bợm bãi,
trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm
cho làng mình thành một làng "phong thuần tục mỹ". Về vệ sinh, đường xá phải
sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt và săn sóc cẩn thận. những
ao hồ không cần thì lấp đi cho đỡ muỗi; phải có cầu xia chung hoặc cầu xia riêng
từng nhà, đã khỏi hôi thối, ruồi nhặng lại có phân tốt" [33, tr.101].
Trong xây dựng NTM, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến công tác
xây dựng Đảng. Bởi vì, việc gì cũng phải có lãnh đạo thì mới thành công. Người
cho rằng: "Lãnh đạo dân chủ, đi sâu đi sát, mọi việc đều bàn bạc với xã viên, vì
vậy xã viên càng có tinh thần tập thể, tinh thần làm chủ nông thôn và càng hăng
hái lao động sản xuất" [34, tr.227]. Đề cập đến vấn đề lãnh đạo của Đảng ở nông
9
thương giữa trung tâm công nghiệp đô thị lớn với các tỉnh miền Đông Nam bộ
và Nam Tây Nguyên. Từ khi tái thành lập Tỉnh đến nay, kinh tế Bình Dương đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng hàng năm gấp đôi bình
quân cả nước. Bình Dương hôm nay đang là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế
đất nước với những thành tựu nổi bật về đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Về văn hoá, truyền thống, Bình Dương là vùng đất của nhiều làng
nghề truyền thống với các nghệ nhân bàn tay vàng điêu khắc gỗ, làm đồ
gốm và tranh sơn mài. Từ lâu, các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu
khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất
khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực. Trong kháng chiến, Bình
Dương cũng là địa phương có truyền thống cách mạng, vùng đất chiến
trường năm xưa gắn liền với những chiến thắng vang dội của dân tộc ta.
Quan niệm về xây dựng nông thôn mới ở Bình Dương hiện nay
Cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH của Tỉnh, nông nghiệp, nông thôn
Bình Dương cũng phát triển nhanh theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, nông thôn Bình
Dương nhìn chung vẫn còn là một nông thôn lạc hậu, nhất là những xã vùng xa
trung tâm. Thực tế đó đòi hỏi phải đặt vấn đề xây dựng NTM thành nhiệm vụ chính
trị quan trọng hàng đầu, có như vậy mới có thể sớm đưa Bình Dương thành đô thị
hiện đại, văn minh, giàu đẹp, thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020.
Quyết tâm xây dựng NTM của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Bình
Dương được thể hiện rõ thông qua những chủ trương, chính sách và việc làm cụ
thể. Ngay sau khi Trung ương ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, Tỉnh ủy Bình Dương
đã ban hành Chương trình hành động số 77-CTHĐ/TU, ngày 15/10/2008. Sau đó,
chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đã xây dựng các chương
trình, kế hoạch cụ thể theo yêu cầu nhiệm vụ để thực hiện. Trên cơ sở những nội
dung tiêu chí xây dựng NTM của cả nước trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới do Chính phủ ban hành, xuất phát từ đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội,
hướng công nghiệp, từng bước đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính
trong cơ cấu ngành nông nghiệp của Tỉnh. Ổn định cơ bản quy hoạch vùng
chuyên canh và đất sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ cho nông dân
11
mở rộng sản xuất, hình thành các trang trại, doanh nghiệp trong nông nghiệp; tạo
điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết đầu ra cho nông sản; định hình được vị
thế, xây dựng thương hiệu và quảng bá cho sản phẩm nông sản chủ lực. Xây
dựng và phát triển các mô hình hợp tác xã, tổ kinh tế hợp tác, liên kết trang trại.
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội theo phương châm xã hội hóa, tạo ra bước phát triển đột phá về hạ
tầng kinh tế - xã hội theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội toàn diện trên địa bàn. Tiếp tục thu hút đầu tư trong và
ngoài nước để phát triển công nghiệp trên địa bàn nông thôn làm nền tảng cho
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nhất là những ngành công nghiệp
chế biến nông sản, công nghiệp dùng nguyên liệu tại chỗ.
Thứ năm, về cơ chế, chính sách huy động nội lực, tiếp tục thực hiện
tốt các chính sách thu hút đầu tư, xã hội hóa, tín dụng, thương mại, thuế,…
để tạo điều kiện hỗ trợ đầu vào cho các thành phần kinh tế trong khu vực
nông nghiệp, nông thôn. Phát triển mạng lưới tín dụng, cải tiến thủ tục cho
vay, tăng cường vốn vay trung và dài hạn cho khu vực nông nghiệp, nông
thôn. Các chính sách thúc đẩy chăn nuôi gia súc, gia cầm để từng bước đưa
chăn nuôi trở thành ngành chính trong cơ cấu nông nghiệp; khuyến khích
kinh tế trang trại và kinh tế tập thể phát triển; hỗ trợ phát triển các hình thức
liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Như vậy, xây dựng NTM ở Bình Dương hiện nay là tổng thể các
hoạt động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể nhằm phát triển toàn
diện các lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn trên địa bàn tỉnh theo
hướng hiện đại: sản xuất phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả kinh tế - xã
thiết chế chính trị như: tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở, MTTQ và các
đoàn thể nhân dân. Các tổ chức này có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Mỗi
13
thành tố hợp thành trong HTCTCS có vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, song
đều vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quản lý, phát
huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân .
Tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ, chi bộ cơ sở), là nền tảng của Đảng, hạt
nhân chính trị ở cơ sở, là lực lượng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện các lĩnh
vực của đời sống xã hội ở địa phương. Theo điều lệ Đảng quy định, tổ chức
cơ sở đảng có chức năng lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, đề ra chủ trương, nghị quyết lãnh
đạo nhiệm vụ chính trị của đảng bộ và chi bộ, lãnh đạo xây dựng chính
quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng - an ninh và
các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch vững mạnh; chấp hành nghiêm
pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, liên hệ mật thiết với
nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng
của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra việc thực hiện nghị
quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra tổ chức đảng,
đảng viên chấp hành điều lệ Đảng.
Chính quyền cơ sở, bao gồm: HĐND và UBND xã, phường, thị trấn.
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.
Đồng thời, phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương. Hôi đồng nhân
dân có hai chức năng cơ bản là quyết định những vấn đề quan trọng và giám
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu
chiến binh,... được tổ chức chặt chẽ và gắn bó hữu cơ với nhau, hoạt động theo
15
nguyên tắc nhất định, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương trong xây
dựng nông thôn mới hiện nay
Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng NTM, hoạt động của
HTCTCS tỉnh Bình Dương có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương hoạt động trong
điều kiện Tỉnh có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh.
Sau khi tái lập tỉnh (01/01/1997), Bình Dương được đánh giá là một
trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ phát triển công nghiệp,
một điểm sáng về chính sách phát triển kinh tế - xã hội; giá trị sản xuất
công nghiệp tăng bình quân 20% hàng năm. Tính đến thời điểm cuối năm
2010, toàn Tỉnh có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp tập trung,
với diện tích gần 9.351 ha (gấp 2,7 lần năm 2005), hơn 1200 doanh nghiệp
hoạt động (gấp 1,8 lần năm 2005), tỷ lệ cho thuê đất bình quân đạt 60%
[12, tr.37-39]. Cùng với sự phát triển của công nghiệp, đô thị hoá ở Bình
Dương cũng diễn ra nhanh chóng. Toàn Tỉnh hiện có 112 dự án đầu tư khu
dân cư, nhà ở thương mại, với tổng diện tích 6.253 ha; trong đó, có 28 dự
án cơ bản đã hoàn chỉnh, 38 dự án đang xây dựng hạ tầng kỹ thuật, 46 dự
án đang đền bù giải toả. Đến nay, tỷ lệ đô thị hoá toàn Tỉnh ước đạt 45%
[12, tr.45]. Công nghiệp hoá và cùng với nó là đô thị hoá diễn ra nhanh
chóng đã tác động to lớn (cả tích cực và tiêu cực) đến tình hình kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội toàn Tỉnh, nhất là các vùng nông thôn, nơi mất
đất sản xuất cho các khu công nghiệp và đô thị mọc lên.
Thứ hai, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương hoạt động trong điều
trên địa bàn; mặt khác lại gây khó khăn cho việc ổn định, sắp xếp và kiện toàn
HTCTCS, nhất là công tác xây dựng nguồn cán bộ chủ chốt ở cơ sở.
Thứ tư, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương hoạt động trong điều kiện
Đảng bộ, Chính quền và nhân dân địa phương có bề dày truyền thống cách mạng.
17
Bình Dương là miền đất giàu truyền thống cách mạng. Đây là vùng đất
chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu
Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là
huyện Tân Uyên. Trong kháng chiến Bình Dương là địa bàn quan trọng chiến
lược về mặt quân sự, là căn cứ địa quan trọng của cách mạng. Chiến khu Đ đi vào
lịch sử Bình Dương và cả nước như một huyền thoại về bảo vệ lực lượng kháng
chiến trong chiến tranh. Tên gọi Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang
dội trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân miền Đông Nam bộ. Tiếp tục
phát huy truyền thống cách mạng trong kháng chiến, ngày nay, trong sự
nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng bộ,
quân và dân Bình Dương đã và đang giành được những thành tựu to lớn cả
về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng được cả nước ngưỡng mộ.
Thứ năm, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương hoạt động trong
điều kiện chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở không đồng đều, trình độ lý
luận và chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế.
Hiện nay, trình độ văn hoá, lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp
vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách trong HTCTCS tỉnh Bình Dương còn
nhiều bất cập. Theo báo cáo thống kê của Sở Nội vụ (tháng 6 năm 2010),
toàn Tỉnh có 951 cán bộ chuyên trách cấp xã. Trong đó, về trình độ văn hoá
có: 18/951 (1,89%) có trình độ tiểu học, 165/951 (17,35%) có trình độ
trung học cơ sở, 768/951 (80,76%) có trình độ trung học phổ thông; về
chuyên môn nghiệp vụ có: 477/951 (50,16%) chưa qua đào tạo, 55/951
(5,78%) sơ cấp, 255/951 (26,82%) trung cấp, 7/951 (0,75%) cao đẳng,
cũng chỉ rõ: “Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ
chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc
19
sống của cộng đồng dân cư” [16, tr.166]. Hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình
Dương vừa trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và xây dựng mọi mặt đời sống
xã hội ở cơ sở, vừa làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng; bảo đảm
cho mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính quyền cấp trên và cấp mình, trong
đó có các nghị quyết, chương trình, kế hoạch xây dựng NTM được thực hiện
một cách đầy đủ, đúng đắn, sáng tạo; phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
chăm lo đời sống vật chất - tinh thần cho nhân dân trên địa bàn.
Như vậy, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
ở Bình Dương hiện nay là chức năng, tác dụng của quá trình sử dụng các thiết
chế, cơ chế của nó một cách chủ động, có tổ chức, có mục đích nhằm tuyên
truyền giáo dục, quản lý, điều hành, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Tỉnh.
Vai trò của HTCTCS trong xây dựng NTM ở Bình Dương hiện nay
được biểu hiện cụ thể trên những vấn đề cơ bản sau:
Một là, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương là lực lượng trực
tiếp tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ
trương, chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước trên địa
bàn Tỉnh.
Công tác tuyên truyền giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng
cao nhận thức, giác ngộ chính trị và tinh thần cách mạng cho nhân dân; làm
cho nhân dân có nhận thức và hành động đúng với chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mọi chủ trương, chính sách
năng, nhiệm vụ, mỗi tổ chức trong HTCT ở địa phương đều cụ thể hoá thành
các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể. Ở cấp cơ sở, tổ chức cơ sở đảng
là nơi quán triệt các chương trình, kế hoạch của trên tới mọi cán bộ, đảng viên,
đưa nhiệm vụ xây dựng NTM vào nghị quyết thường kỳ; chính quyền cơ sở lập
21
quy hoạch, xây dựng đề án, kế hoạch xây dựng NTM của xã; MTTQ và các
đoàn thể nhân dân là nơi quán triệt, phổ biến các chương trình, kế hoạch, đề án
xây dựng NTM của cấp trên và cấp mình tới các thành viên trong tổ chức và
toàn thể nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cũng là nơi tiếp
nhận, lấy ý kiến của nhân dân về những vấn đề cụ thể của đề án xây dựng
NTM của xã phản ánh với cấp ủy và chính quyền cơ sở; thông qua đó mà tuyên
truyền giáo dục nhân dân nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, cống hiến
sức người, sức của cho công cuộc xây dựng NTM ở địa phương.
Hai là, hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Dương là lực lượng trực tiếp
quản lý, điều hành quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Tỉnh.
Quản lý xã hội là một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản của
HTCT nói chung, HTCTCS nói riêng. Trong HTCTCS, vai trò quản lý nhà
nước thuộc về chính quyền cơ sở. Chính quyền cơ sở là cơ quan đại diện nhà
nước ở cơ sở chịu trách nhiệm quản lý điều hành mọi mặt: kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương. Xây dựng NTM là một
chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh - quốc
phòng. Do vậy, quản lý điều hành quá trình xây dựng NTM luôn gắn liền với
chức năng quản lý nhà nước của chính quyền ở cơ sở.
Quản lý, điều hành quá trình xây dựng NTM là một đòi hỏi khách
quan. Nó xuất phát từ yêu cầu chung của mọi quá trình kinh tế - xã hội; từ đặc
điểm, nội dung, yêu cầu của quá trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng
NTM là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; nội dung xây dựng NTM
rất rộng, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nông thôn; yêu