GIáO dục kĩ NĂNG SốNG TRONG dạy học PHầN CÔNG dân với VIệC HìNH THàNH THế GIớI QUAN, PHƯƠNG PHáP LUậN KHOA học” ở TRƯờNG THPT TRầN NHậT DUậT, TỉNH yên bái - Pdf 41

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------

NGUYN NHT LINH

GIáO DụC Kĩ NĂNG SốNG TRONG DạY HọC PHầN CÔNG DÂN
VớI VIệC HìNH THàNH THế GIớI QUAN, PHƯƠNG PHáP LUậN KHOA
HọC
ở TRƯờNG THPT TRầN NHậT DUậT, TỉNH YÊN BáI
Chuyờn ngnh: LL&PP ging dy Giỏo dc chớnh tr
Mó s: 60.14.01.11

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Nguyn Vn C

H NI 2015

LI CM N


Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các nhà trường, các tổ chức và các cá nhân. Tôi xin
bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này.
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, Phòng Đào tạo và Phòng Sau đại học của nhà trường cùng các
thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình
học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn

PPDH

: Phương pháp dạy học

THPT

: Trung học phổ thông

UNESCO

: United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization

3

UNICEF

: The United Nations Children’s Fund

WHO

: World Health Organization


MỤC LỤC

4


DANH MỤC BẢNG

triển cảm xúc, thái độ đúng đắn trước các vấn đề liên quan đến nội dung bài
6


học cho các em.
Đặc biệt, với học sinh hiện nay, các em đang phải đương đầu với rất
nhiều nguy cơ, cám dỗ không lành mạnh của xã hội hiện đại nhưng lại
không có hoặc thiếu những kĩ năng để ứng phó với khó khăn và lựa chọn
cách sống lành mạnh, tích cực cho bản thân và xã hội. Những năm gần đây,
tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các
đô thị và thành phố lớn, đã xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây
thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là bạn học
và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh
phổ thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục
sớm,... thậm chí là tự sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống. Nhiều em
học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và k ĩ năng giao tiếp lại
rất kém, các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà vào các tệ nạn xã
hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống... Có nhiều nguyên nhân
khác nhưng nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kĩ năng sống, không
được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng sống nên học sinh phổ
thông nói chung, học sinh THPT nói riêng còn thiếu hụt những kĩ năng
sống cần thiết. Chính vì thiếu kĩ năng sống mà nhiều học sinh đã giải quyết
các vấn đề về gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến các tệ nạn, rủi ro…Vì
vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông là hết sức cần thiết,
giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình,
cộng đồng và Tổ quốc, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các
tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn
bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa, lành mạnh
Tuy đã có những công trình nghiên cứu khoa học giáo dục và xã hội,
những chương trình giáo dục ở một số Trung tâm, những đề án, dự án …

8


[16,tr.1-2]. Văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động
phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực giúp
chúng ta có định hướng rõ ràng hơn trong việc giáo dục KNS cho học sinh.
Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Vinh Hiển ký duyệt Kế hoạch Số 1088/KH-BGDĐT về Hoàn thiện bộ tài liệu
giáo dục kĩ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu
học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên toàn quốc với mục tiêu nâng
cao chất lượng và đảm bảo tính thiết thực của bộ tài liệu theo ý kiến góp ý của
các cán bộ quản lý giáo dục các cấp và giáo viên trực tiếp giảng dạy; bổ sung
nội dung hướng dẫn đánh giá kết quả giáo dục KNS và bộ công cụ đánh giá
KNS theo từng môn học và hoạt động giáo dục. Với danh mục tài liệu đính
kèm vừa bổ sung cho giáo viên nguồn tài liệu phong phú về KNS vừa có thể
lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các giáo viên trực tiếp giảng
dạy để bộ tài liệu thực sự hữu ích đối với nhà trường phổ thông. Kế hoạch trên
căn cứ vào chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua
xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực cho thấy, vấn đề KNS và
giáo dục KNS thực sự được quan tâm, đầu tư nghiên cứu, phát triển.
Năm 2010, Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phan Thanh Vân “Giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp”, đây là một đề tài khai thác thế mạnh của hoạt động
ngoài giờ lên lớp để thực hiện giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường.
Nội dung đề tài nhằm giáo dục cho các em một cuộc sống tích cực trong xã
hội hiện đại, xây dựng hoặc thay đổi hành vi ở các em theo hướng tích cực
phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở
giúp học sinh có giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp.
Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “ Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ
năng sống” khẳng định về yêu cầu cụ thể đổi mới nội dung phương pháp.

10


năng sống cho học sinh trường THPT Trần Nhật Duật
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Luận giải cơ sở lí luận phần công dân với việc hình thành thế giới
quan, phương pháp luận khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
+ Phương pháp dạy học phần công dân với việc hình thành thế giới
quan, phương pháp luận khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
trường THPT Trần Nhật Duật
+ Khảo sát ở trường THPT Trần Nhật Duật – Tỉnh Yên Bái
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh trường THPT Trần Nhật Duật
- Đề xuất một số phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
trường THPT Trần Nhật Duật thông qua giảng dạy phần Công dân với việc
hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
6. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sơ phương
pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ trương chính sách của Nhà nước
trong giáo dục; tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục; nội dung
chương trình môn GDCD ở trường THPT
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp nghiên cứu lí
thuyết, phương pháp logic và lịch sử
- Các phương pháp thực tiễn:
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Phương pháp điều tra khảo sát phỏng vấn
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp lấy ý kiến của các chuyên gia

Kĩ năng sống ( life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào
mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. Ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc
(LHQ) như WHO ( Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF ( Quỹ hỗ trợ Nhi đồng
LHQ), UNESCO ( Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của LHQ) đã
chung sức xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên.
Tuy nhiên, cho đến nay, khá niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một
định nghĩa rõ ràng và đầy đủ.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Kỹ năng sống là khả năng để có
hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước
các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (Bộ Giáo dục và Đào tạo)
[15,tr.7].
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF): Kỹ năng sống là cách
tiếp cận giúp thay đổi hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về
tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
(UNESCO): “ KNS gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là học để biết gồm
các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải
quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người gồm các kỹ năng cá
13


nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…;
Học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương
lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;
Học để làm gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng
đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…
UNESCO (2003) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực các nhân để
thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là
khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử

KNS chỉ dành cho một số đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những
thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người. Nhưng ở một
số nước khác, sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó KNS, được phát triển
cho mọi đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải
quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác
nhau của từng loại đối tượng. Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái
niệm KNS của UNESCO ( sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển
khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là
thanh thiếu niên. Điều này được lý giải bởi hai lý do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS
theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với năng lực tâm lý xã hội do đó làm giảm
đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS. Năng lực tâm lý xã hội đề
cấp đến khả năng của con người biểu hiện những các ứng xử đúng hoặc chính
xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi
trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. Nhưng, điều cần lưu ý là,
con người không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức của
cuộc sống mà con người còn cần và phải biết cách thay đổi một cách phù hợp
và mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS theo nghĩa rộng đã bao hàm
trong nó năng lực tâm lý xã hội với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung
trong việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân
sống hạnh phúc với những người khác trong xã hội. Bên cạnh đó, theo nghĩa
15


rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lí được các
tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnh hưởng
đến mọi người trong công việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro.
Đây chính là khả năng con người quản lý một cách thích hợp với bản thân,
người khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày.
Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách
phân loại KNS. Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình, tồn tại cách

thành phần: kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng
vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng,
giao tiếp có hiệu quả.
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng, tư
duy phế phán, tư sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề.
Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có
giá trị trong nghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất tương
đối. Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham
gia vào một tình huống cụ thể con người cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng
khác nhau.
1.1.1.2.Giáo dục kĩ năng sống
Khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ
xã hội và cấp độ nhà trường. Ở cấp độ nhà trường khái niệm giáo dục chỉ quá
trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện
thông qua các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục là những hoạt động do
các cơ sở giáo dục (trường học và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế
hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về
chúng. Trong các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ
đạo không chỉ trong các môn học, mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác
trong nhà trường. Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và
17


chức năng chủ đạo trong hệ thống các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo
dục được tổ chức có định hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường
hoạt động và giao tiếp có định hướng của người học. Khi tham gia các hoạt
động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những
nguyên tắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và
những biện pháp chung, nhờ vậy họ được giáo dục theo những tiêu chí chung
(tuy hoạt động của mỗi người luôn diễn ra ở cấp cá nhân).

khởi đầu của một chu trình mới, do đó các nhà giáo dục có thể tác động lên
bất ký mắt xích nào trong chu trình trên: Thay đổi thái độ dẫn đến mong
muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi
nhận thức và thái độ.
- Trải nghiệm: KNS chỉ được hình thành khi người học được trải
nghiệm qua các tình huống thực tế. Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm
việc đó, chứ không chỉ đơn thuần là nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi
học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng
điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế
- Tương tác: KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng
và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác.
Việc nghe giảng với tự đọc tài liệu chỉ giúp cho học sinh nhận thức về một
vấn đề nào đó. Nhiều KNS được hình thành trong quá trình học sinh tương tác
với các bạn học cùng lớp và những người xung quanh thông qua học tập hoặc
các hoạt động xã hội trong nhà trường. Khi tham gia hoạt động có tính tương
tác học sinh có dịp thể hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người
khác, được đánh giá và xem lại những kinh nghiệm sống cả mình trước đây
theo một cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt dộng có tính
tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu
quả.
19


- Thay đổi hành vi: Mục đích của giáo dục KNS là giúp người học thay
đổi hành vi theo hướng tích cực, giúp người học định hướng lại các giá trị,
thái độ, và hành động của mình. Bởi thay đổi thái độ hành vi và giá trị ở từng
con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời, có những thời điểm
người học sẽ quay lại những thái độ, hành vi và giá trị trước. Do đó, các nhà
giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh
duy trì hành vi mới, thói quen mới tạo động lực cho học sinh thay đổi hoặc

lý của mình: quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và
năng lực riêng, xuất hiện ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ
đó là những giá trị nổi trội và bền vững. Các em có khả năng đánh giá mặt
mạnh, mặt yếu của bản thân mình và những người xung quanh, có những biện
pháp kiểm tra đánh giá sự tự ý thức bản thân như viết nhật ký, tự kiểm điểm
trong tâm tưởng, biết đối chiếu với các thần tượng, các yêu cầu của xã hội,
nhận thức vị trí của mình trong xã hội, hiện tại và tương lai.
Học sinh THPT là lứa tuổi quyết định sự hình thành nhân sinh quan,
thế giới quan về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc cư xử. Chỉ số đầu
tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển hứng thú nhận thức đối
với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ
biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người. Lứa tuổi này, các
em quan tâm nhiều tới các vấn đề liên quan tới con người, vai trò của con
người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và
nghĩa vụ, giữa lý trí và tình cảm.
Tóm lại, sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là một giai đoạn
rất quan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn. Đây là lứa tuổi
đầu thanh niên với những đặc điểm tâm lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên,
các em đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển nhân cách. Đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh THPT là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục
21


KNS cho các em có hiệu quả. Các lực lượng giáo dục phải biết phát huy các
yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm sinh lý lứa
tuổi này để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức thích hợp, phát huy được
tính tích cực, chủ động của các em trong hoạt động giáo dục theo định hướng
của mục tiêu giáo dục KNS.
- Các yếu tố về chương trình giáo dục trung học phổ thông
Theo khoản 1, Điều 29, Luật Giáo dục năm 2005: “Chương trình giáo

triển KNS. Gia đình và xã hội chính là môi trường nơi xác lập các tình huống
diễn ra sự trải nghiệm của học sinh.
Gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con
người. Những mối quan hệ trực tiếp giữa đứa trẻ và cha mẹ là những tác động
qua lại đầu tiên trong đời sống xã hội. Trong gia đình, các em nhận được
những kinh nghiệm và KNS đầu tiên. Môi trường gia đình giúp các em có thể
học hỏi và tiếp nhận những KNS, cách giao tiếp, cách ứng xử xã hội từ cha
mẹ và các thành viên trong gia đình. Cha mẹ, ông bà hay anh chị là biểu
tượng, hình mẫu cho sự phấn đấu và hoàn thiện nhân cách của các em. Tuy
nhiên, gia đình ít dành thời gian dạy các em KNS cần thiết, ngay cả những kỹ
năng tự chăm sóc và phục vụ bản thân. Với thực trạng hiện nay, rất nhiều em
học sinh THPT ở các thành phố lớn, thị xã hoặc một số gia đình giàu có thiếu
hụt những KNS cơ bản và cần thiết, các em không biết làm bất cứ một công
việc nào cho dù là những công việc tự phục vụ nhu cầu của bản thân hay
những công việc nhà đơn giản mà đáng lẽ ở lứa tuổi này các em bắt buộc phải
biết để chuẩn bị cho bản thân những KNS cần thiết trước khi bước vào cuộc
sống của một người trưởng thành. Chính vì vậy, hướng dẫn, khuyến khích và
tạo điều kiện để các em tham gia tích cực vào công việc gia đình, chú trọng
dạy các KNS cho các em là việc làm cần thiết của các bậc phụ huynh.
Các mối quan hệ trong xã hội tác động tích cực tới việc hình thành và phát
23


triển năng lực của học sinh THPT. Xã hội là môi trường thực tế, giúp học sinh
hoàn thiện các kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần lớn trong suy nghĩ và hành
động của học sinh. Bước ra môi trường xã hội, học sinh có thể học hỏi và hình
thành cho mình những KNS cơ bản, cần thiết một cách tự nhiên. Từ những tình
huống thực tế, các em tự tìm cách giải quyết hay tìm kiếm sự hỗ trợ từ người
thân, bạn bè đều có thể hình thành KNS cho bản thân. Môi trường xã hội cũng
cần tạo điều kiện để học sinh tham gia các hoạt động hình thành năng lực cho

chủ đề gì? Xác định loại thông tin về chủ đề mà mình cẩn phải tìm kiếm là gì?
Xác định các nguồn, các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp những loại thông tin
đó; tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch đã định; sắp xếp các thông tin
đã thu thập được theo nội dung một cách có hệ thống; phân tích, so sánh, đối
chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều;
xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc các thông tin đó.
Giáo dục kĩ năng giao tiếp: kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ
ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể
một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn
trọng ý kiến người khác, ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao
gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng
thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết. Trong quá trình học tập môn
GDCD, giáo viên có thể giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng cách
đánh giá các tình huống và xử lý các tình huống bằng các hình thức nói, viết
hay trả lời bằng ngôn ngữ cơ thể. Qua quá trình rèn luyện, các em sẽ có cách
đánh giá đúng đắn, điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả hơn; dần dần
các em sẽ cởi mở hơn trong bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc. Giáo viên GDCD bằng
việc tạo điều kiện để các em giao tiếp thường xuyên sẽ điều chỉnh, giúp đỡ
các em có cách ứng xử phù hợp khi làm việc và ở cùng với những người
khác, từ đó các em cũng sẽ biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, tôn trọng tới
những người xung quanh.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status