Tích cực giáo dục kỹ năng sống trong dạy học sinh học 10 - Pdf 31

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm
ơn cô giáo - Thạc sỹ. An Biên Thùy, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em
trong suốt quá trình làm đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, đặc biệt các thầy cô
trong tổ bộ môn phương pháp dạy học thuộc khoa Sinh - KTNN, các bạn sinh
viên đã tạo điều kiện về mọi mặt để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu
của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của trường THPT Xuân
Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc, đã nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ em trong quá
trình thực hiện đề tài này.
Mặc dù đã cố gắng nhưng đề tài của em không tránh khỏi những sai
sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô, các
bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Hồ Thị Hồng Gấm

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG/SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU

1

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

3

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu

3

5. Giả thuyết khoa học

3

6. Phương pháp nghiên cứu

3



5

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

5

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

7

1.2 . Cơ sở lí luận của đề tài

10

1.2.1. Khái niệm KNS, giáo dục KNS

10

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

1.2.2. Các thành tố cấu trúc của giáo dục KNS cho học sinh


QUA TÍCH HỢP GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC
2.1. Sinh học và vấn đề giáo dục KNS cho học sinh THPT

43

2.1.1. Vị trí, vai trò và nhiệm vụ môn Sinh học 10
2.1.2. Bản chất và nguyên tắc của giáo dục KNS cho học sinh THPT

44

thông qua dạy môn Sinh học
2.1.3. Phương thức tích hợp

46

2.1.4. Địa chỉ tích hợp

48

2.2 . Các bước cơ bản thực hiện một bài tích hợp giáo dục KNS

65

CHƯƠNG 3: THAM VẤN Ý KIẾN CHUYÊN GIA

70

3.1. Nội dung

70

DANH MỤC VIẾT TẮT
STT

VIẾT TẮT

DỊCH NGHĨA

1

Unicef

Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc

2

KNS

Kĩ năng sống

3

THPT

Trung học phổ thông

4

HIV

Tên 1 loại virut


10

KTDH

Kĩ thuật dạy học

11

QĐDH

Quan điểm dạy học

12

GV

Giáo viên

13

HS

Học sinh

14

VSV

Vi sinh vật


Bảng 3.a

Nhận thức của GV về bản chất, sự cần thiết của việc giáo dục
KNS cho học sinh THPT/ Tr 35

Bảng 3.b

Quan điểm của GV về mục đích GD KNS cho HS THPT/ Tr 36

Bảng 3.c

Cơ sở vận dụng các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh/ Tr 37

Bảng 3.d

Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục KNS cho HS/ Tr 39

Hình 1

Biểu đồ các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh/ Tr 39

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn các giá trị, phải đương đầu với những khó
khăn, thách thức và những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục KNS,
nếu thiếu KNS các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối
sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Mà các
em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự
phát triển của đất nước trong những năm tới. Nếu không có KNS các em sẽ
không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và
đất nước.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng để có thể thích ứng với xã hội hiện
đại học sinh cần được trạng bị nhiều KNS khác nhau, đó cũng chính là một
trong những đích quan trọng của quá trình giáo dục. Như người Việt Nam
chúng ta thường nói giáo dục phải đồng thời dạy chữ đi đôi với dạy người.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, môn Sinh học là môn khoa học
thực nghiệm giúp học sinh nhận thức được đặc điểm hình thái, cấu tạo của cơ
thể sống của các sinh vật và cơ thể con người trong mỗi quan hệ với môi
trường sống. Xuất phát từ mối quan hệ căng thẳng giữa tự nhiên và xã hội, đặt
ra các yêu cầu về kĩ năng như: biết thu thập thông tin, làm việc cá nhân và làm
việc theo nhóm, sưu tầm tư liệu, làm báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ trước lớp,
nhận dạng, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và thực tiễn
cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân, bảo vệ cơ thể, phòng chống bệnh tật, xây dựng ý
thức tự giác bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, có thái độ đúng đắn với
các vấn đề về dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống ma túy và HIV/AIDS…
Một trong những hướng trả lời cho câu hỏi trên là tích hợp trong từng tiết học

6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và
Nhà nước về vấn đề giáo dục và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT;
Phân tích tổng hợp những tư liệu, tài liệu lí luận về giáo dục KNS cho học
sinh THPT, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả khảo sát,
đánh giá giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua các tiết học môn Sinh
học 10.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Nhằm thu thập thông tin về
thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THPT. Đối tượng được điều tra gồm
giáo viên, học sinh
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm tìm hiểu các nguyên nhân về thực
trạng giáo dục KNS cho học sinh THPT và tìm hiểu quan điểm của các đối
tượng phỏng vấn về việc giáo dục KNS cho học sinh THPT. Phương pháp
thực hiện chủ yếu với giáo viên và học sinh THPT
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia là GV, GV phổ
thông trung học dạy giỏi về nội dung, phương pháp giáo dục kĩ năng sống
môn Sinh học 10về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Phương
pháp cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của các biện pháp giáo dục

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất
hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương
trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho
thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về kĩ năng sống trong giai đoạn này mong
muốn thống nhất được một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như đưa
ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về
KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. Dự án do
UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là
một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu về kĩ năng sống nêu trên.
Mặc dù, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được nhiều nước quan
tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kĩ năng sống của Tổ chức Y
tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ
năng sống ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái
niệm kĩ năng sống được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội
hàm của khái niệm kĩ năng sống chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.
Quan niệm, nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước
vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác,
ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2


GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

tiêu của giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy của các nước
vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: Nhằm nâng cao tiềm năng của con
người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi,
các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và
nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục kỹ năng sống
Đây là nội dung được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm. Các
nghiên cứu này cho thấy: C hương trình, tài liệu giáo dục kĩ năng sống
được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về
hình thức. Cụ thể:
+ Lồng ghép vào chương trình dạy chữ (chương trình các môn học) ở
các mức độ khác nhau. Ví dụ: Có nước lồng ghép dạy kĩ năng sống vào các
chương trình dạy chữ cơ bản nhằm xoá mù chữ. Bên cạnh dạy chữ có kết
hợp dạy kĩ năng làm nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, kĩ
năng phòng chống HIV/AIDS…
+ Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học. Ví dụ: Tạo thu nhập;
Môi trường; Kĩ năng nghề; Kĩ năng kinh doanh.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ
chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức
khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà

giáo dục kĩ năng sống cho học sinh [50] và những nghiên cứu của một số
tác giả khác [20; 22; 52; 61; 62; 66; 80].
Một số nghiên cứu khác có giá trị quan trọng trong việc thiết lập
quan điểm phương pháp luận cũng như những định hướng và tiếp cận
trong việc nghiên cứu kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ.
Đó là nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo [4]; Dương Tự Đam
[24]; Phạm Minh Hạc [28; 29]; Phạm Đình Nghiệp [42; 43].
- Nghiên cứu so sánh giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam với một số
quốc gia khác.
Một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập
đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh như đề tài “Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên
Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức [31].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự [10] đã mô tả
sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh do Ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai chương
trình đưa giáo dục kỹ năng sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không
chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi
mục tiêu giáo dục kĩ năng sống.

cụ thể và chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục
chưa cao. Một số đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ:
nghiên cứu lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp giáo
dục kĩ năng sống nhưng ở trên đối tượng sinh viên.
Những phân tích trên đây cho thấy, giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu,
nội dung chương trình giáo dục những triển khai thực tiễn hoạt động này
trong nhà trường còn rất nhiều hạn chế. Giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông mới chỉ được thực hiện như một nội dung,
một mục tiêu phụ của các chương trình/ dự án cho cấp học này. Do vậy,
cần thiết phải khai thác nội lực của chính các hoạt động trong nhà trường
trung học phổ thông nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh ở bậc học này.
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. Khái niệm KNS, giáo dục KNS
1.2.1.1. Kỹ năng sống
a. Khái niệm
Kỹ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm
vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội. Ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp
Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi
đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, khoa học và Giáo dục của
LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục Kỹ năng sống cho
thanh thiếu niên. Tuy nhiên, cho đến nay, KNS vẫn là 1 khái niệm chưa có
sự thống nhất cao:
Theo WHO (1993): Kĩ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả
năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy


Tóm lại, có nhiều cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống. Khái niệm
KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội
(TLXH). Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội
mà còn bao gồm cả những kĩ năng tâm vận động. Do đó, KNS được phát

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

triển cho mọi đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào
giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống
khác nhau của từng loại đối tượng. Tuy nhiên, xu hướng chung là sử
dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa
rộng) để triển khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong xã
hội, đặc biệt là thanh thiếu niên.
Như vậy, có thể hiểu: “KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay
đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể
kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong
cuộc sống hàng ngày”.
Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách
phân loại KNS.
b. Phân loại
Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình có 3 cách phân loại sau
đây:
- Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe: Theo cách phân loại này

sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ
của cá nhân với các nhóm KNS:
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ
năng: Kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với
cảm xúc, đương đầu với căng thẳng;
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng
thành phần: Kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông,
đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương
lượng, giao tiếp có hiệu quả.
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng:
Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề.
Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có
giá trị trong nghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất
tương đối. Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi
khi tham gia vào một tình huống cụ thể, con người cần phải xử dụng rất nhiều
kĩ năng khác nhau. Ví dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải
sử dụng những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán,
kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định...

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả, đã khẳng định: “Dù
phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

nào) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng”.
1.2.2. Các thành tố cấu trúc của giáo dục KNS cho học sinh THPT
Thành tố cấu trúc giáo dục KNS bao gồm: Mục tiêu, nội dung, phương
pháp giáo dục.
* Mục tiêu của giáo dục KNS cho học sinh THPT
Ngoài việc làm thay đổi nhận thức cho học sinh còn tập trung vào mục
tiêu xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực,
đối với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Giáo dục KNS giúp học sinh
THPT hiểu được những tác động mà hành vi và thái độ của mình có thể
gây ra, có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội, đối với các vấn đề của cuộc sống. Từ đó sẽ biết ứng dụng
những nguyên tắc phát triển bền vững vào cuộc sống của mình, giúp các em
thích ứng với cuộc sống hiện đại không ngừng biến đổi.
* Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT
Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT là những KNS cốt lõi cần
hình thành và phát triển cho các em. Theo giới hạn nghiên cứu của luận
văn ch ú ng tô i tập trung vào các kĩ năng:
+ Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề;
+ Kĩ năng quản lí thời gian;
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo;
+ Kĩ năng đặt mục tiêu;
+ Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm;
+ Kĩ năng tự nhận thức;

- Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc
biệt là các thông tin trái chiều; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc
và có hệ thống các thông tin đó.
- Viết báo cáo, nếu được yêu cầu.
- Ví dụ: GV yêu cầu HS tìm kiếm thông tin kênh hình, kênh chữ) hình
thành khái niệm virut

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

Hoạt động của GV
- GV yêu cầu HS

Hoạt động của HS
- HS hoạt động cá nhân quan sát hình

Em hãy quan sát hình và đọc thông 29.1 và đọc thông tin (Tìm kiếm và
xử lí thông tin), cần trả lời
tin SGK trả lời câu hỏi
 Vi rút là gì?

KN: + Cấu trúc, hình thái
+ Đặc điểm sống…


sau:
Hoạt động của GV
Hoạt động 1:

Hoạt động của HS
1. Vận chuyển thụ động
a. Khái niệm
b. Các kiểu vận chuyển qua màng

- GV yêu cầu HS quan sát hình 11.1, - HS quan sát hình 11.1 và nghiên
trả lời câu hỏi

cứu thông SGK, trả lời câu hỏi

 Các chất được vận chuyển qua - Đại diện nêu được 3 cách vận
màng bằng cách nào?

chuyển:

 Điều kiện xảy ra sự vận chuyển - HS trả lời câu hỏi (Giải quyết vấn
thụ động là gì?

đề):
+ Kích thước của chất vận chuyển
nhỏ hơn đường kính lỗ màng
+ Có sự chênh lệch về nồng độ
+ Nếu vận chuyển có chọn lọc (Ví dụ:
vận chuyển các ion) thì cần protein
đặc hiệu



 Cho ví dụ về tổ chức thứ bậc và - Các nhóm còn lại bổ sung.
đặc tính nổi trội của các cấp tổ chức
sống.

Nguyên tắc thứ bậc: Tổ chức sống

- GV nhận xét, kết luận.

cấp dưới làm nền tảng xây dựng
nên tổ chức sống cấp trên.
Ví dụ: SGK
Ngoài đặc điểm của tổ sống cấp
thấp, tổ chức cấp cao còn có những
đặc tính riêng gọi là đặc tính nổi
trội.
Ví dụ: SGK

GVHD.Thạc sỹ - An Biên Thùy

SV. Hồ Thị Hồng Gấm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status