Luận văn giáo dục kỹ năng sống trong dạy học vật lý - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN VẬT LÝ
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VIỆC
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG
DẠY HỌC 6 BÀI – VẬT LÍ 10
Luận văn Tốt nghiệp
Ngành: Sư phạm Vật lí – Tin học
GV hướng dẫn: Sinh viên:
Ths. Đặng Thị Bắc Lý Huỳnh Hoàng Oanh
Lớp: Sư phạm Vật lí – Tin học K34
Mã số SV: 1087049
Cần Thơ, 2012
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn “Bước đầu tìm hiểu việc giáo dục kỹ năng
sống trong dạy học 6 bài - Vật lí 10”, ngoài sự nổ lực tìm hiểu, nghiên
cứu của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ rất lớn từ
nhiều phía.
Trước hết, em xin chân thành cám ơn cô Đặng Thị Bắc Lý, người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Khoa Sư
phạm nói chung và quý thầy cô bộ môn Vật lí nói riêng. Những người đã
cung cấp cho em những kiến thức quý báu, đó là nền tảng để em thực
hiện đề tài này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm
luận văn đã dành thời gian và công sức để sửa chữa, đóng góp ý kiến để
luận văn hoàn chỉnh hơn.
Em cũng xin chân thành gởi lời cảm ơn đến người thân và bạn bè
đã luôn sát cánh bên em trong những lúc khó khăn để em có thể hoàn tốt

 !"
#$%&'()**!* + %,-./0
12'*34-*5+-%6-'-'()**!* + %,-./
 "
2'*7%&*8*9:7+'()*
3. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Vật lí 10 trung học phổ thông 27
1;)*3<*=*%6 >?5@A !*-./0
1;)*3<'()* /?5@A !*-./B
Phần 2 30
VẬN DỤNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT SOẠN 6 BÀI 30
THỰC HIỆN GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 30
TRONG MÔN VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 30
1. Bài 2. CHUYỂN ĐỘNG THẲNG ĐỀU 30
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý i SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
C'*$DEF*%G*'()* 7+1A
4 >(H!*1
D41
CÔNG THỨC CỘNG VẬN TỐC 37
C'*$DEF*%G*'()* 7+10
4 >(H!*1B
D41I
3. Bài 9. TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH LỰC 43
ĐIỀU KIỆN CÂN BẰNG CỦA CHẤT ĐIỂM 43
1C'*$DEF*%G*'()* 7+1
14 >(H!*
4. Bài 10. BA ĐỊNH LUẬT NIU – TƠN 49
C'*$DEF*%G*'()* 7+"A
4 >(H!*"
C'*$DEF*%G*'()* 7+"

3. Mục tiêu của đề tài
4. Giới hạn của đề tài
5. Các phương pháp thực hiện đề tài
6. Các bước thực hiện
Phần B. Nội dung được chia thành 2 phần:
Phần 1: Cơ sở lí thuyết của giáo dục kĩ năng sống trong môn Vật lí 10 trung học
phổ thông gồm các nội dung cơ bản:
Mục 1. Kĩ năng sống giới thiệu 2 nội dung: quan điểm về kĩ năng sống và phân
loại kĩ năng sống.
Mục 2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông gồm
các nội dung:
2.1 Tầm quan trọng đề cập những lí do tại sao phải giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trong nhà trường phổ thông.
2.2 Định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ
thông trình bày mục tiêu, nguyên tắc và nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
trong nhà trường phổ thông (các mục 2.2.1, 2.2.2 và 2.2.3). Trong đó, nội dung giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông liệt kê nội dung các kĩ năng sống
cần giáo dục cho học sinh phổ thông
2.3 Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong
nhà trường phổ thông giới thiệu về các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
sử dụng cho việc soạn giảng 1 tiết dạy thực hiện giáo dục kĩ năng sống.
2.4 Các bước thực hiện một bài giáo dục kĩ năng sống trình bày qui trình thiết
kế 1 bài thực hiện giáo dục kĩ năng sống trong Vật lí 10.
Mục 3. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Vật lí 10 trung học phổ
thông.
Phần 2: Vận dụng cơ sở lí thuyết soạn 6 bài thực hiện giáo dục kĩ năng sống
trong môn Vật lí 10 trung học phổ thông
Phần này sẽ trình bày các bài soạn thực hiện giáo dục kĩ năng sống trong Vật lí 10
trung học phổ thông. Tuy nhiên, các bài soạn này không phải là phương án duy nhất được
thiết kế cho một bài học, tiết học Vật lí có sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy

triển nhân cách của thế hệ trẻ. Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội
có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn. Đã xuất hiện những vụ án
giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là
học sinh và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ
thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục sớm,… thậm chí là tự
sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống. Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao,
khả năng tự chủ và kĩ năng giao tiếp lại rất kém. Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa
đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ mạng sống… Có nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu
xa là do các em thiếu kĩ năng sống. Do chưa được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ
năng sống nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh trung học phổ thông nói riêng còn
thiếu hụt những kĩ năng sống cần thiết. Chính vì thiếu kĩ năng sống mà nhiều học sinh đã
giải quyết các vấn đề gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến các tệ nạn, rủi ro. Giáo dục kĩ
năng sống có thể cung cấp cho các em kĩ năng để giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ
các tình huống thách thức.
Trước những vấn đề đó, với vai trò là một giáo viên tương lai, tôi cũng đã có
nhiều băn khoăn, suy nghĩ. Tôi muốn làm điều gì đó thiết thực cho các em đặc biệt là các
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 1 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
học sinh bậc THPT thông qua chính chuyên ngành của tôi. Vì thế tôi quyết định chọn đề
tài: “Bước đầu tìm hiểu việc giáo dục kỹ năng sống trong dạy học 6 bài - Vật lí 10” .
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nào kiến thức, kinh nghiệm vào việc giáo dục kĩ năng
sống cho các em học sinh phổ thông, giúp các em sớm được tiếp cận với việc giáo dục kĩ
năng sống trong môn Vật lí 10, để trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng
tạo hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội. Tôi hi vọng rằng sau luận văn này
tôi sẽ hoàn thiện và đúc kết thêm nhiều kiến thức mới, trao dồi nhiều kinh nghiệm quý
báu cho bản thân, nhất là cho việc ứng dụng đề tài nghiên cứu này một cách hiệu quả khi
dạy Vật lí ở trường phổ thông đặc biệt là Vật lí 10.
2. Lịch sử vấn đề
Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy

nhóm các học phần tự chọn nhằm giúp các sinh viên ngành sư phạm làm quen với môn
học mới này để ứng dụng hiệu quả vào việc giảng dạy khi ra trường.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của bản thân qua các phương tiện truyền thông thì hiện
tại, chưa có tài liệu, bài viết về giáo dục kĩ năng sống cho HS trong môn Vật lí, nên có
thể nói tôi là người đầu tiên chọn đề tài liên quan đến giáo dục kĩ năng sống trong môn
Vật lí làm đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục tiêu của đề tài
Những mục tiêu mà đề tài cần hướng tới là:
- Hệ thống hoá lý thuyết về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường trung học
phổ thông
- Đưa ra mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Vật lí 10 cho học sinh ở
trường trung học phổ thông và qui trình thiết kế một tiết dạy thực hiện giáo dục kĩ năng
sống.
- Vận dụng lý thuyết để soạn giảng 6 bài về giáo dục kĩ năng sống trong môn Vật
lý lớp 10 ở trường trung học phổ thông.
4. Giới hạn của đề tài
Do giới hạn về thời gian, trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, tôi chỉ tập trung
nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết vào soạn giảng 6 bài thực hiện giáo dục kĩ năng sống
trong môn Vật lí 10.
5. Các phương pháp thực hiện đề tài
- Nghiên cứu lý thuyết: tìm đọc các tài liệu liên quan đến đề tài. Sau đó, nghiên
cứu, trích lọc, hệ thống lại và đưa ra các ý kiến, quan điểm, các nội dung viết về việc giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua dạy học Vật lí.
- Vận dụng lý thuyết: Soạn giảng 6 bài thực hiện giáo dục kĩ năng sống trong môn
Vật lí 10.
6. Các bước thực hiện đề tài
- Xác định mục tiêu của đề tài.
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan.
- Xây dựng đề cương.
- Xây dựng cơ sở lý thuyết.

trước các tình huống của cuộc sống ([6,8],[5,4]). KNS không phải tự nhiên có được mà
phải hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá
trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục. KNS vừa mang tính cá
nhân (vì đó là khả năng của cá nhân), vừa mang tính xã hội (vì phụ thuộc vào các giai
đoạn phát triển lịch sử xã hội; chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình,
cộng đồng, dân tộc).
1.2 Phân loại kĩ năng sống
Tùy theo quan niệm về KNS, có các cách phân loại KNS khác nhau.
Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau
([6,9],[5,5]): kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng suy nghĩ / tư duy phê phán, kĩ năng giao
tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng giao tiếp ứng xử cá
nhân, kĩ năng tự nhận thức / tự trọng và tự tin của bản thân,kĩ năng xác định giá trị, kĩ
năng thể hiện sự cảm thông và kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc.
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 4 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
Trong giáo dục vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là ([6,9],
[5,5]): hợp tác nhóm; tự quản; tham gia hiệu quả; suy nghĩ / tư duy bình luận, phê phán;
suy nghĩ sáng tạo; nêu vấn đề và giải quyết vấn đề.
Bên cạnh đó, đối với việc giáo dục chính qui ở nước ta trong những năm vừa qua,
KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm 3 nhóm chính ([6,10],[5,5]):
nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm các KNS cụ thể như: tự nhận
thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin,…;
nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, gồm các KNS cụ thể như: giao tiếp
có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,
…; nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, gồm các KNS cụ thể như: tìm
kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn
đề,…
Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại KNS. Tuy nhiên, mọi cách phân loại
đều chỉ là tương đối. Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có
liên quan chặt chẽ đến nhau. Ví dụ: Khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì các kĩ

không thể hiện hết trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Bên
cạnh đó, lứa tuổi HS là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ,
ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn
thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập
quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của
những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá
trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không
được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo
lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện
hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có
khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt
đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người.
2.1.3 Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
thông
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã
hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải
có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói
chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng. Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể
hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005.
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định
mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa
(SGK) phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân
lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền
thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực
và trên thế giới. Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã đề ra nhiệm
vụ: tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, PPDH. Luật Giáo
dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp;
trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng

nước đã sử dụng tiếp cận “Whole School Approach” trong đó có hình thức xây dựng
“Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường.
Từ những lí do đã trình bày ở trên có thể khẳng định, việc giáo dục KNS cho HS
trong các trường phổ thông là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt.
2.2 Định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
2.2.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ
thông
Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ
yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự
phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể nói, mục tiêu giáo
dục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm,
học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (Delor, 1996).
Theo tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ở nhà trường THPT ([6,13],[5,9]) việc
giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 7 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở
đó, hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành
vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển
hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
2.2.2 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ
thông
Có 5 nguyên tắc giáo dục KNS ( thường gọi là nguyên tắc 5 T ) mà tài liệu giáo dục
KNS trong các môn học ở nhà trường THPT ([6,14 - 15],[5,9-10]) đã nêu đó là: tương
tác, trải nghiệm, tiến trình, thay đổi hành vi và cuối cùng là thời gian – môi trường giáo
dục.
2.2.2.1 Tương tác
KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải
thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Nhiều KNS được hình thành trong

điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp
nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới. GV cần hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tự tóm
tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học / phần học.
2.2.2.5 Thời gian – môi trường giáo dục
Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối
với trẻ em. Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức
và kĩ năng vào các tình huống thực trong cuộc sống.
Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng.
Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, thầy cô, bạn cùng học hay các thành viên
cộng đồng. Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trong các giờ học,
trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp và các hoạt động giáo dục khác.
2.2.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ
thông
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt
Nam những năm qua, tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ([6, 15-27], [5,10-22]) đã
đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông bao gồm các
KNS cơ bản, cần thiết sau:
2.2.3.1 Kĩ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
Kĩ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như
cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận đánh giá đúng về
tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình;
quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm
thấy căng thẳng.
Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao
tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như có thể cảm thông được với
người khác. Ngoài ra, có thể hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết
định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực
tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người

Kĩ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các KNS khác như: tự
nhận thức, xử lí cảm xúc, giao tiếp, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự giúp đỡ và giải quyết
vấn đề.
Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm
việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan
hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không đặt ra cho
mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân,
2.2.3.4 Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự
hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác. Để có kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, người cần hỗ
trợ cần có các yếu tố sau: ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ, biết xác định được những địa
chỉ hỗ trợ đáng tin cậy đồng thời phải tự tin và biết tìm kiếm đến các địa chỉ đó, biết bày
tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp.
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 10 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên, khi tìm đến các địa chỉ hỗ trợ, người cần hỗ trợ cần cư xử đúng mực và
tự tin; cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn; giữ bình tĩnh khi gặp sự đối xử thiếu
thiện chí nếu vẫn cần sự hỗ trợ của người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên
nhẫn nhưng không sợ hãi và đặc biệt, nếu bị cự tuyệt thì không nên nản chí, kiên trì tìm
sự hỗ trợ từ các địa chỉ khác, người khác.
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giải quyết
mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng. Đồng thời, để phát huy hiệu quả của kĩ năng này,
cần các KNS: lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, ra quyết định lựa
chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn,…
2.2.3.5 Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Chúng ta đều biết nếu có kĩ năng thể hiện sự tự tin thì cá nhân sẽ giao tiếp hiệu quả
hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định
và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích
cực và lạc quan trong cuộc sống. Vì thế, kĩ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết
trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.

Kĩ năng này được dựa trên kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng xác định giá trị, đồng
thời là yếu tố cần thiết trong kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn,
thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc.
2.2.3.9 Kĩ năng thương lượng
Kĩ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kĩ năng giao tiếp như lắng nghe,
bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và giải quyết mâu thuẫn.
Một người có kĩ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả, giải quyết
mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho tất cả các bên. Đồng thời, kĩ năng thương
lượng còn liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảm thông, tư duy sáng tạo, kĩ năng
hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân.
2.2.3.10 Kĩ năng hợp tác
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng
làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm. Kĩ năng hợp tác là một yêu
cầu quan trọng đối với người công dân trong xã hội hiện đại, giúp mọi người hỗ trợ, bổ
sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem
lại chất lượng và hiệu quả cao hơn trong công việc, giúp cá nhân sống hài hòa trong quan
hệ với người khác.
Biểu hiện của người có kĩ năng hợp tác là: tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động
của nhóm; biết giao tiếp hiệu quả, biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt
động của nhóm; biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người
trong nhóm; nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ
đã được phân công, đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình
hoạt động; có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản
phẩm do nhóm tạo ra.
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự
nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, giải quyết mâu thuẫn, kiên
định,…
2.2.3.11 Kĩ năng tư duy phê phán
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện
các vấn đề, sự vật, hiện tượng,… xảy ra. Kĩ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con

Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí
do dẫn đến mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt
được những gì mình mong muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa
quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.
Kiên định khác với hiếu thắng và phục tùng. Kĩ năng kiên định giúp chúng ta bảo vệ
được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước
những áp lực tiêu cực của những người xung quanh.
Kĩ năng này giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có kết quả. Để có kĩ
năng kiên định, con người cần xác định được các giá trị của bản thân, đồng thời phải kết
hợp tốt với các kĩ năng tự nhận thức, thể hiện sự tự tin và giao tiếp.
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 13 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
2.2.3.16 Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức
cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm,
cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp
đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
Khi các thành viên trong nhóm có kĩ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một
không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt được
mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành
viên.
Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm có liên quan đến các KNS: tự nhận thức, thể hiện sự
cảm thông, hợp tác và giải quyết vấn đề.
2.2.3.17 Kĩ năng đạt mục tiêu
Kĩ năng đạt mục tiêu là khả năng con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong
cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện mục tiêu đó.
Kĩ năng đạt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng
thực hiện mục tiêu của mình.
Kĩ năng đạt mục tiêu dựa trên kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng
giải quyết vấn đề, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ,…

trường phổ thông
2.3.1 Cách tiếp cận
Theo tài liệu Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở trường Trung học phổ
thông việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông được thực hiện thông qua
dạy học các môn học theo một các tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp và kĩ
thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm KNS
trong quá trình học tập ([6,27],[5,22]). Với cách tiếp cận này, sẽ không làm nặng nề, quá
tải thêm nội dung các môn học và hoạt động giáo dục; mà ngược lại, còn làm cho các giờ
học và hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và bổ ích hơn đối với HS.
2.3.2 Phương pháp dạy học là gì?
Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học (PPDH). Trong
tài liệu giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ([6,27-28], [5,22-23]), PPDH được hiểu
là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy
học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
PPDH có ba bình diện ([6,27-28],[5,23]):
 Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ (VD): dạy học hướng vào người
học, dạy học phát huy tính tích cực của HS…
Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các hành động
phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết
của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về
vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng
mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH.
 Bình diện trung gian là PPDH cụ thể. VD: phương pháp đóng vai, thảo luận,
nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi…
Ở bình diện này khái niệm PPDH được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức,
cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định,
phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 15 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS. Trong mô hình

học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong
khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở
phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và
đánh giá trước toàn lớp [5,24].
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học
hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới, nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính
tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của
HS. GV có thể sử dụng các câu hỏi kiểm tra sau để chuẩn bị cho việc dạy học nhóm :
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 16 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không ? Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay
khác nhau ? HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa ? Cần trình bày
nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào? Cần chia nhóm theo tiêu chí nào ? Cần tổ chức
phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào ?
Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản [5,24]:
a. Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ
- Giới thiệu chủ đề
- Xác định nhiệm vụ các nhóm. Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc
mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung.
- Thành lập nhóm. Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau,
không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học.
b. Làm việc nhóm
- Chuẩn bị chỗ làm việc
- Lập kế hoạch làm việc
- Thoả thuận quy tắc làm việc
- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
- Chuẩn bị báo cáo kết quả.
c. Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá
- Các nhóm trình bày kết quả
- Đánh giá kết quả.

76] nên tôi không trình bày lại.
2.3.4 Một số kĩ thuật dạy học tích cực
Tài liệu giáo dục kĩ năng sống trong các môn học xác định các kĩ thuật dạy học tích
cực như sau ([6,29-35],[5,29-35]):
2.3.4.1 Kĩ thuật chia nhóm
Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm
khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao
lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp. Dưới đây là một số cách chia nhóm:
 Chia nhóm theo hình ghép
- GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có
là 3/4/5 HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV
muốn có.
- HS bốc ngẫu nhiên, mỗi em một mảnh cắt.
- HS phải tìm các bạn có mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn
chỉnh.
- Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.
 Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong
năm,…:
- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5
hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặc điểm danh
theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu,
đông, )
GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 18 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh
Luận văn tốt nghiệp
- Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một màu/cùng một loài hoa/
cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.
 Chia nhóm theo sở thích
GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện
một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức
phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng

GVHD: Ths. Đặng Thị Bắc Lý 19 SVTH: Huỳnh Hoàng Oanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status