4
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy,
cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Vinh đã truyền đạt những
tri thức quý báu và dìu dắt, giúp đỡ chúng tôi trong suốt khóa học.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Bùi Văn Dũng đã tận
tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hướng dẫn, đóng
góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô, các em học sinh
trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa đã tạo mọi
điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực nghiệm đề tài này.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi trong suốt quá trình tôi theo học chương trình sau đại học.
Vinh, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
TIẾT VIẾT TẮT
TỪ ĐẦY ĐỦ
6
THPT
Trung học phổ thông
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
6
Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào giáo dục đào tạo cũng đóng một vai
trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân, dân tộc và cả nhân
loại. Do vậy, chìa khóa cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước ta hiện nay không gì khác là xây dựng một nền giáo dục
có chất lượng với nhiệm vụ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài.
Nhiệm vụ đó được nhấn mạnh khi Đảng ta xác định “Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi
mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển
nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [10; 106] là
một trong ba khâu đột phá chiến lược. Điều đó đòi hỏi giáo dục đào tạo cần
có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình và đặc biệt là phương pháp
giảng dạy ở các cấp học. Sao cho phương pháp sử dụng “phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn
học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và
trách nhiệm học tập cho học sinh” [4].
về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Cho nên, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu của mình là: Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm
và phương pháp trực quan trong dạy học phần “Công dân với việc hình
thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” (Qua khảo sát tại
trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) làm đề
tài luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
8
Nghiên cứu về phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục. Các
công trình khoa học của các nhà nghiên cứu đã được in thành sách, đăng trên
các tạp chí để từ đó được áp dụng vào trong thực tiễn dạy học đã góp phần
vào quá trình nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay. Các công trình
này hiện đi theo hướng sau:
Thứ nhất: các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào nghiên cứu về mặt lý luận
của việc thực hiện đổi mới phương pháp nói chung. Có thể kể đến như:
Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, (2000), Hoạt động dạy học ở trường
trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra khi sử dụng đúng
phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự tính. Nếu mục đích không đạt được
thì có nghĩa phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó không được
sử dụng đúng và trong mọi giờ dạy bao giờ cũng có sự phối hợp, kết hợp một
vài phương pháp. Hơn nữa bản thân các phương pháp dạy học đều thâm nhập
vào nhau để thể hiện một tác động giữa giáo viên và học sinh. Còn nếu khi
nói vận dụng một phương pháp dạy học ở một thời điểm nào đó, có nghĩa là
đổi trong cách dạy, nhưng nên hiểu đổi mới cách dạy không đồng nghĩa với
loại bỏ thuyết trình vì có nhiều kiến thức mà loài người phải mất nhiều công
sức mới tìm ra được, dù có hướng dẫn học sinh cũng khó mà tìm ra được. Mà
cần xác định mục đích của dạy là làm cho “người học học đúng cách”. Do đó
mỗi thao tác dạy của giáo viên phải được xem xét theo tiêu chí là dẫn tới một
cách học của học sinh (được thiết kế bởi giáo viên).
Thứ hai: nghiên cứu về thực tiễn thực hiện các phương pháp, đổi mới
phương pháp ở các môn học cụ thể như:
Nguyễn Thị Mận, (2010), Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm
nâng cao chất lượng dạy học môn chính trị ở trường trung cấp nghề, luận văn
Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học Vinh. Trên cơ sở phân tích thực
trạng vận dụng PPTLN trong nhà trường tác giả đã xây dựng một số các
10
phương hướng, giải pháp khoa học nhằm nâng cao chất lượng thảo luận nhóm
trong dạy học Chính trị trong các trường nghề.
Trần Thị Mai Hương, (2011) Vận dụng phương pháp hướng dẫn sử dụng
tài liệu học tập nhằm nâng cao năng lực tự học môn Chính trị cho học sinh
trường Trung học kỹ thuật Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh, luận
văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học Vinh. Dựa trên cơ sở lý luận
và nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu
học tập tác giả đã xây dựng quy trình hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập cho học
sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản trong vận dụng phương pháp hướng
dẫn sử dụng tài liệu học tập nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh.
- Thứ ba: Nghiên cứu về sự kết hợp giữa các phương pháp:
Nguyễn Thị Hồng Thơ, (2009), Kết hợp phương pháp dạy học truyền
thống với phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 11, luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường
- Phân tích, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc kết hợp PPTLN
và PPTQ trong dạy học phần Công dân với việc hình thành TGQ, PPL khoa
học ở trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
- Khảo sát thực trạng và thực nghiệm việc kết hợp PPTLN và PPTQ
trong dạy học phần Công dân với việc hình thành TGQ, PPL khoa học ở
trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
- Xây dựng quy trình và giải pháp để nâng cao hiệu quả việc kết hợp
PPTLN và PPTQ trong dạy học phần Công dân với việc hình thành TGQ, PPL
khoa học ở trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận chung cho
12
việc nghiên cứu. Và sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu nhằm
đảm bảo tính khoa học, tính sáng tạo, tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích và tổng hợp tài
liệu, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp lịch sử
và logic nhằm tìm hiểu sâu hơn về PPTLN, PPTQ cùng việc kết hợp PPTLN
và PPTQ.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, thực
nghiệm sư phạm, trao đổi kinh nghiệm nhằm thu thập thông tin về việc kết
hợp PPTLN và PPTQ trong dạy học phần Công dân với việc hình thành TGQ,
PPL khoa học thuộc chương trình GDCD THPT.
- Phương pháp toán học nhằm xử lý và phân tích số liệu thống kê.
Trên cơ sở đó, bằng con đường phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để
rút ra kết luận cần thiết, hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ đề ra.
5. Phạm vi nghiên cứu
huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
14
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG
PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG
DẠY HỌC PHẦN CÔNG DÂN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN,
PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC
1.1. Cơ sở lý luận của việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và
phương pháp trực quan trong dạy học phần Công dân với việc hình
thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
1.1.1. Phương pháp thảo luận nhóm
1.1.1.1. Khái niệm phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
Để tiến hành một hoạt động có hiệu quả cần phải có phương pháp. Trong
đó “phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh để
học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo” [3, 68]. Và để thực hiện mục tiêu
giáo dục, một hệ thống các phương pháp dạy học đã được xây dựng trong đó
có PPTLN và PPTQ.
Theo PGS.TS.Nguyễn Hữu Chí: “PPTLN là phương pháp dạy học trong
đó giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự
tương tác trực tiếp giữa các thành viên, mà theo đó học sinh trong nhóm trao
đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung
của nhóm” [8].
Tác giả Phan Trọng Ngọ lại cho rằng: “Thảo luận nhóm là phương pháp
trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các
thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và
đưa ra ý kiến chung của nhóm về vấn đề đó” [21, 223].
- Dự kiến cách thức đánh giá, cho điểm: Việc đánh giá ảnh hưởng rất
lớn đến trách nhiệm cá nhân, đến sự tham gia tích cực của các thành viên. Do
vậy giáo viên cần cân nhắc hình thức đánh giá để sự cố gắng của các cá nhân
16
đều có ý nghĩa trong thành tích của nhóm và thành tích của các thành viên
trong nhóm có ảnh hưởng lẫn nhau.
Bước 2: Tổ chức thực hiện thảo luận nhóm trong giờ học. Trong bước
này giáo viên cần:
- Phân chia nhóm: Tùy vào mục tiêu, nhiệm vụ của bài học cụ thể cũng
như điều kiện tiến hành giờ học và kỹ năng làm việc theo nhóm của học sinh
mà giáo viên lựa chọn cách chia nhóm phù hợp: nhóm lớn hay bé, nhóm chọn
theo quy tắc ngẫu nhiên hay theo trình độ, giáo viên tự phân nhóm hay học
sinh tự chọn thành viên cho nhóm…
- Bố trí chỗ ngồi thảo luận cho các nhóm làm sao cho phù hợp với hoạt
động cũng như kích cỡ của nhóm.
- Hướng dẫn học sinh phương pháp, kỹ năng hoạt động nhóm như phân
công vai trò, nhiệm vụ của từng thành viên; theo dõi, hướng dẫn học sinh về
các giao tiếp, tranh luận… trong nhóm.
- Giao nhiệm vụ và thời gian dành cho hoạt động nhóm: Giáo viên cần
đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về chủ đề yêu cầu thảo luận, những kỹ năng xã hội
yêu cầu học sinh tuân theo khi thảo luận nhóm, thời gian làm việc của nhóm…
Bước 3: Các nhóm tiến hành thảo luận dưới sự theo dõi, hướng dẫn của
giáo viên. Trong bước này giáo viên cần theo dõi các nhóm và các cá nhân đã
nắm vững nhiệm vụ học tập hay chưa, việc phối hợp giữa các thành viên
trong nhóm thế nào, kết quả công việc ra sao để có hành động phù hợp.
Bước 4: Đại diện từng nhóm lên trình bày kết quả hoạt động của nhóm.
Các nhóm khác lắng nghe.
dòng thảo luận, mời các thành viên phát biểu ý kiến, chuyển câu hỏi khác khi
thích hợp. Đồng thời trong nhiều trường hợp – nhưng không phải là tất cả –
nhóm cần có một thư kí ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận để trình
bày trước lớp.
18
- Kết quả thảo luận được trình bày dưới nhiều hình thức: lời nói, đóng
vai, viết hoặc vẽ lên giấy to…; có thể do một người thay mặt nhóm trình bày
hoặc do nhiều người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau…
- Trong khi học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ giáo viên quan sát các
nhóm, lắng nghe ý kiến của học sinh để có những giúp đỡ, gợi ý cho nhóm
nếu thấy cần thiết.
1.1.1.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa
học”
* Ưu điểm:
- Nếu được sử dụng đúng không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ nhận thức
mà còn giúp cho học sinh hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng
xã hội tốt hơn.
- Phát huy cao độ vai trò của chủ thể, tính tích cực của cá nhân thông
qua việc hoàn thành nhiệm vụ nhóm giao phó. Trong khi thực hiện nhiệm vụ
sẽ phát huy mạnh mẽ ở học sinh tính tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần
trách nhiệm. Từ đó tạo cơ hội cho học sinh thể hiện và khẳng định mình.
- Đem lại hiệu quả học tập cao vì các em chủ động, tích cực trong việc
chiếm lĩnh tri thức thông qua việc thực hiện nhiệm vụ được giao nên khả năng
ghi nhớ lâu hơn, trình độ phân tích, tư duy phê phán được nâng lên. Việc học
hỏi, đánh giá công việc của bạn, giúp đỡ, tranh luận… giúp cho nhiều kỹ năng
nhận thức được hình thành và phát triển trong học sinh.
trung tâm trong quá trình dạy học.
1.1.2. Phương pháp trực quan
1.1.2.1. Khái niệm phương pháp trực quan trong dạy học
Theo tác giả Phùng Văn Bộ: “PPTQ là phương pháp giáo viên sử dụng
đồ dùng giảng dạy để minh họa cho kiến thức bài giảng” [3, 109].
20
TS. Phí Văn Thức lại cho rằng: “Trực quan là một phương pháp giảng
dạy mà giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếp đến các
cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao trong dạy học” [28, 38].
Như vậy, có thể thấy PPTQ là phương pháp dạy học trong đó giáo viên
sử dụng các phương tiện dạy học trực quan tác động lên cơ quan cảm giác của
học sinh để tạo nên những hiểu biết về đối tượng nhằm thực hiện mục đích
dạy học.
Phương pháp dạy học trực quan bao gồm phương pháp trình bày trực
quan và phương pháp quan sát.
Phương pháp trình bày trực quan là phương pháp giáo viên sử dụng
những phương tiện trực quan, phương tiện dạy học trước, trong và sau khi
nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo. Phương pháp trình bày trực quan được thể hiện dưới hai hình
thức minh họa và trình bày. Hình thức minh họa thường là trưng bày những
đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bảng biểu, tranh ảnh, hình vẽ
trên bảng… Giáo viên có thể trình bày dưới dạng có sẵn hoặc kết hợp với lời
giảng. Những đồ dùng dạy học này giúp cho học sinh thấy được một cách trực
quan các sự vật, hiện tượng thể hiện dưới dạng khái quát và giản đơn. Cùng
với lời bình của giáo viên giúp cho học sinh có những khái niệm đúng về đối
tượng nghiên cứu. Còn hình thức trình bày thường gắn với việc giáo viên
mang các vật mẫu như thực vật, động vật, khoáng sản… đến lớp học để trình
- Trưng bày, phân phát phương tiện trực quan cho học sinh. Để việc
nhận thức của học sinh có hiệu quả giáo viên nên chú ý: những phương tiện
với mục đích quan sát cần trưng bày ở nơi phù hợp, thuận tiện cho việc quan
sát của tất cả học sinh; với phương tiện cần sử dụng nhiều giác quan để nhận
biết nên phân phát vật đến nhóm hoặc cá nhân học sinh.
- Hướng dẫn học sinh làm việc với vật trực quan hoặc tự mình trình bày
vật trực quan. Trong quá trình hướng dẫn cần hướng học sinh vào nhận thức
22
có chủ điểm để từ đó học sinh làm việc với đồ dùng trực quan và rút ra những
kết luận theo chủ điểm mà giáo viên đã nêu ra hoặc theo dõi nội dung trình
bày của giáo viên.
Bước 3: Đánh giá kết quả.
- Giáo viên nhận xét kết luận được rút ra của học sinh sau khi làm việc
với đồ dùng trực quan và đưa ra kết luận.
- Giáo viên nhận xét đối với đồ dùng trực quan giao cho học sinh làm
và có thể lấy nó làm căn cứ cho điểm học sinh.
* Điều kiện:
Để việc vận dụng PPTQ đem lại hiệu quả cao cho giờ dạy, giáo viên cần:
- Thận trọng trong lựa chọn các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ
thuật dạy học sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học.
- Hiểu rõ nội dung bài học cũng như mục đích trình bày phương tiện trực
quan để sử dụng phương tiện theo một trình tự phù hợp với tiến trình bài học.
- Chuẩn bị các phương tiện trực quan chu đáo, tỉ mỉ, có nội dung và tính
thẩm mĩ; bố trí ở nơi cao, có ánh sáng phù hợp thuận tiện cho việc quan sát;
cần chú ý đến những quy luật cảm giác, tri giác.
- Cần tính toán số lượng phương tiện trực quan phù hợp với bài học.
Không tham trình bày nhiều phương tiện trực quan làm cho học sinh phân tán
- Với việc trình bày thí nghiệm khoa học học sinh không chỉ chiếm lĩnh tri
thức mà còn hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn thí nghiệm – cơ sở của hoạt
động nghiên cứu khoa học sau này. Hình thành ở học sinh tác phong của người
làm khoa học.
* Nhược điểm:
Nếu không nhận thức đúng, đồ dùng trực quan chỉ là một phương tiện nhận
thức mà lạm dụng chúng sẽ dễ làm học sinh phân tán sự chú ý, tập trung sự chú
24
ý của mình vào đồ dùng trực quan mà quên đi việc tìm hiểu những dấu hiệu bản
chất. Thậm chí có thể hạn chế sự phát triển tư duy trừu tượng của học sinh.
1.1.3. Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp trực quan
Việc các phương pháp dạy học biệt lập chỉ tồn tại trên lý thuyết, còn trên
thực tiễn trong quá trình dạy học người giáo viên luôn chủ động, sáng tạo và
phối hợp hài hòa giữa các phương pháp khác nhau để đem lại hiệu quả cao
cho quá trình truyền thụ tri thức. Bởi không có một phương pháp nào là vạn
năng bên cạnh những ưu điểm các phương pháp dạy học luôn tồn tại những
hạn chế cần được bổ sung bằng những phương pháp khác. PPTLN và PPTQ
cũng vậy.
Khi bàn về khái niệm kết hợp Từ điển tiếng Việt viết: “Kết hợp là gắn
với nhau để bổ sung, hỗ trợ cho nhau” [33, 604] . Do vậy, theo tác giả kết hợp
PPTLN và PPTQ thực chất là vận dụng hài hòa PPTLN và PPTQ trong một
quá trình giảng dạy. Việc vận dụng này không phải là sử dụng một cách rời
rạc PPTLN và PPTQ trong một bài giảng mà hai phương pháp này có sự hòa
quyện vào nhau trong cùng một hoạt động, trong cùng một mục đích chiếm
lĩnh nội dung tri thức nhất định. Trong hoạt động đó PPTLN hỗ trợ cho PPTQ
phát huy cao độ những ưu điểm, khắc phục hạn chế và ngược lại. Nhằm đem
lại kết quả cao nhất trong chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
bước này cần:
- Giáo viên phân chia các nhóm học tập nhỏ; trưng bày phương tiện trực
quan cho các nhóm quan sát hoặc phân phát phương tiện trực quan tới từng
nhóm học tập; giao nhiệm vụ cụ thể cho nhóm học tập làm việc với phương
tiện trực quan.
- Giáo viên hướng dẫn nhóm học tập làm việc với phương tiện trực quan.
Trong khi học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ giáo viên cần quan sát hoạt động
của từng nhóm, lắng nghe ý kiến của học sinh, giúp đỡ nhóm nếu thấy cần thiết.
26
- Học sinh lên trình bày kết quả làm việc của nhóm với đồ dùng trực quan.
Hình thức trình bày có thể bằng lời, viết, vẽ lên giấy to hoặc ngay trên đồ dùng
trực quan được phát.
Bước 3: Đánh giá kết quả kết quả hoạt động của học sinh.
Việc đánh giá kết quả hoạt động được diễn ra giữa học sinh với học sinh.
Đó là các nhóm thảo luận đánh giá hoạt động của nhau bằng việc nhận xét, bổ
sung ý kiến về nội dung nhóm bạn trình bày. Bên cạnh đánh giá giữa học sinh
với học sinh là sự đánh giá của giáo viên đối với hoạt động của học sinh.
- Các nhóm đánh giá kết quả của nhau bằng việc nhận xét, bổ sung ý kiến.
- Giáo viên nhận xét kết quả hoạt động của từng nhóm và về đồ dùng trực
quan nhóm đã chuẩn bị (nếu đã được giáo viên giao), nhận xét ý kiến bổ sung
của nhóm bạn.
- Giáo viên thu lại đồ dùng trực quan, cho điểm nhóm học sinh nếu thấy cần.
* Điều kiện:
Trong đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm, giáo viên có thể lựa chọn
nhiều hình thức đánh giá khác nhau phù hợp với điều kiện, đối tượng học sinh
khác nhau. Làm sao để việc đánh giá tạo cho học sinh niềm tin, sự hứng khởi
trong học tập.
trình bày thông qua lời nói của giáo viên kết hợp với hình ảnh minh họa thì
kiến thức đó lưu giữ trong trí nhớ học sinh không lâu nhưng nếu kết hợp lời,
hình và hành động kiến thức lưu giữ trong trí nhớ học sinh rất lâu.
* Nhược điểm:
- Đòi hỏi ở người giáo viên phải nhuần nhuyễn nhiều kỹ năng sư phạm.
- Cơ sở vật chất của nhà trường phải được trang bị tốt từ phương tiện
trực quan cho tới phòng học.
- Giáo viên phải tốn khá nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị giáo án
lên lớp cũng như đồ dùng trực quan.
28
1.1.4. Sự cần thiết kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp
trực quan trong dạy học phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan,
phương pháp luận khoa học”
1.1.4.1. Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới phương pháp dạy
học nói riêng.
Không muốn tụt hậu và nhanh chóng vươn lên trên trường quốc tế, với đất
nước ta hiện nay không có con đường nào khác ngoài tiến hành thành công sự
nghiệp công nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhưng
muốn thực hiện được điều đó cần có con người – những con người lao động
không chỉ có trình độ tri thức cao mà còn nhạy bén, năng động, biết làm việc
theo nhóm, thích ứng nhanh với những biến đổi như vũ bão của tình hình thế
giới và những đòi hỏi cao của công việc. Trách nhiệm đào tạo những con người
đó thuộc về ngành giáo dục – đào tạo.
Xác định rõ trách nhiệm của mình, trong những năm gần đây ngành Giáo
dục – Đào tạo đã triển khai chương trình đổi mới nội dung và phương pháp
giảng dạy trong tất cả các cấp, các môn học. Đặc biệt là phương pháp giảng dạy,
bởi phương pháp dạy học đóng một vai trò rất quan trọng nếu không muốn nói là