VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP nêu vấn ĐỀNHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG dạy PHẦN “CÔNG dân với VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN và PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA học” môn GIÁO dục CÔNG dân lớp 10 - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số……

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TRONG DẠY PHẦN “CÔNG DÂN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI
QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN LỚP 10

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THU VÂN
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp giảng dạy môn GDCD

Năm học: 2014- 2015

1


SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 . Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Vân
2. Sinh ngày 18 tháng 01 năm 1982
3. Giới tính: Nư
4. Địa chỉ: 7/57- KP3 - Biên Hoà – Đồng Nai
5. Điện thoại: 0977250460
6. Chức vụ: Giáo viên
7. Đơn vị công tác : Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005

GDCD tại trường THPT chuyên Lương Thế Vinh……………………….21
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI THÔNG QUA KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
KẾT LUẬN…………………………………………………………….........40
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………..42

3


VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ DẠY HỌC TRONG MỘT SỐ NỘI DUNG PHẦN “CÔNG DÂN VỚI
VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA
HỌC”
I.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, lượng kiến thức của nhân loại là
vô tận, chúng ta phải thay đổi phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, trong
đó người học chuyển dần từ vai trò bị động sáng chủ động, tích cực tiếp thu kiến
thức. Tinh thần đó đã được nêu trong Luật giáo dục 2005 “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học;
bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”. Thực hiện mục tiêu này, đổi mới
phương pháp dạy học được đẩy mạnh ở tất cả các môn học trong nhà trường
THPT trong đó có bộ môn GDCD - bộ môn có vai trò quan trọng trong việc giáo
dục lập trường, lý tưởng, hình thành niềm tin và phẩm chất đạo đức cho học sinh.
Trong nhưng phương pháp dạy học tích cực hiện nay, dạy học nêu vấn đề là
một trong nhưng phương pháp có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận
1.1. Quan điểm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
II.

1.

Nhà giáo dục Ba Lan V.OKon cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là toàn bộ các
hoạt động như tính chất tình huống có vấn đề, diễn dạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ
cho học sinh nhưng vấn đề cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết
đó và cuối cùng là hệ thống hóa và củng cố các kiến thức tiếp thu được”[9, 103]
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Trong dạy học nêu vấn đề, người học tự
mình tìm ra kiến thức, phát hiện nhưng vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, học sinh nhận dạng vấn đề, trình bày và bảo vệ cách giải
quyết vấn đề của mình, tranh luận đúng sai với bạn bè và giáo viên là người đưa ra
kết luận. Từ đó học sinh tự điều chỉnh, tự đánh giá và rút ra kết luận, bổ sung kho
tri thức của mình”[8, 59]
Trên thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học nêu vấn đề
của các nhà sư phạm song đều thống nhất ở hai nội dung sau đây:
Thứ nhất, Phương pháp dạy học nêu vấn đề là cách thức người giáo viên xây
dựng và đưa ra nhưng tình huống có vấn đề dưới dạng câu hỏi, tình huống, bài tập
có tính chất nghiên cứu trong một hệ thống nhất định, để học sinh tự lực làm bài và
dần tiếp thu nhưng kinh nghiệm hoạt động, học tập, tư duy, sáng tạo
Thứ hai, Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó
giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, điều khiển người học phát hiện vấn đề tự
giác, tích cực hoạt động giải quyết tình huống, thông qua đó lĩnh hội kiến thức,
phát triển kỹ năng và đạt được các mục đích dạy học khác
Như vậy, đây là một trong nhưng phương pháp dạy học tích cực: học sinh là
trung tâm của quá trình dạy học, GV là người tạo ra tình huống có vấn đề chứ
5


Tình huống có vấn đề không chỉ thể hiện dưới dạng câu hỏi mà còn thể hiện
dưới dạng tình huống. Tình huống có vấn đề được tạo ra trong quá trình dạy học
phải đạt được nhưng điều kiện sau:
Làm xuất hiện mâu thuẫn trước học sinh, giúp họ xác định rõ nhiệm vụ nhận
thức và tiếp nhận nó, nghĩa là tạo ra nhu cầu nhận thức của học sinh.
Kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh, đồng thời làm cho họ tự giác,
tích cực trong hoạt động nhận thức
Phải phù hợp với khả năng của học sinh, có tỉ lệ hợp lý giưa cái đã biết và cái chưa
biết, nghĩa là người học có thể giải quyết hoặc biết cách giải quyết bằng hoạt động
tư duy, dựa vào vốn kiến thức nhất định đã có về vấn đề đ
-

-

6


Cách thức xây dựng tình huống có vấn đề trong các môn học trong đó có môn
GDCD có thể tiến hành bằng nhiều cách:
-

-

-

-

-


để xác định phương hướng giải quyết. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh giải
quyết vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở phát triển trí tuệ cho học sinh. Đây
được xem là bước quan trọng, vừa là kết quả của sự suy nghĩ, tìm tòi, nỗ lực hết
mình của học sinh vừa thể hiện tính hiệu quả từ nhưng gợi ý của giáo viên
1.3.3.

Giai đoạn kết luận vấn đề

Thảo luận kết quả và đánh giá mức độ đúng đắn đã đạt được, kết luận vấn đề
đồng thời có thể tiếp tục phát hiện nhưng vấn đề học tập mới. Học sinh vận dụng
nhưng kiến thức vừa mới tìm tòi được đi đến kết luận vấn đề, đồng thời có thể tiếp
tục phát hiện nhưng vấn đề mới.
7


2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Tính đặc thù phần

“Công dân với việc hình thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học” và sự cần thiết vận dụng phương pháp
nêu vấn đề vào giảng dạy

Phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa
học” môn Giáo dục công dân có nhiệm vụ giúp học sinh nắm được nhưng kiến
thức cơ bản, phổ thông của triết học duy vật biện chứng về tự nhiên và xã hội, về
sự vận động và phát triển theo nhưng quy luật khách quan, về vấn đề con người có
thể nhận thức được nhưng quy luật ấy. Biết vận dụng nhưng kiến thức đó vào thực
tiễn cuộc sống.
Tính đặc thù của triết học Mác - Lênin nói chung và của phần “Công dân với
việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học” nói riêng là ở chỗ,

đó có thái độ đúng đắn đối với môn học
2.2. Thực

trạng vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy và học

Không thể phủ nhận nhưng ưu điểm mà phương pháp nêu vấn đề mang lại tuy
nhiên thực tế vận dụng phương pháp trong quá trình dạy và học vẫn chưa đạt hiệu
quả cao và bản thân phương pháp này cũng bộc lộ nhưng hạn chế nhất định cần
được khắc phục
Dự giờ một số tiết dạy, tôi thấy có nhưng tiết dạy thành công do giáo viên vận
dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong đó có phương pháp nêu vấn đề.
Song có một số tiết dạy chưa thực sự thành công khi vận dụng phương pháp này
2.2.1.

Về phía giáo viên:

Khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề, tôi thấy giáo viên còn lúng túng. Cụ thể
là:
- Trong tiến trình dạy học, GV chưa sử dụng đồng bộ các phương pháp, còn nặng
về diễn giảng,
- Có bài giảng GV chưa biết kết hợp một các nhuận nhuyễn phương pháp nêu vấn
đề với các phương pháp dạy học khác như: thảo luận, đóng vai…
- Việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề còn nhiều bất cập. Thỉnh thoảng GV mới nêu
vấn đề mà chỉ dùng vào trọng tâm của bài học. Câu hỏi thiên về tái hiện, ít có câu
hỏi có khả năng rèn luyện trí thông minh và tư duy sáng tạo của học sinh. Có vấn
đề nêu ra quá khó đối với HS
Việc tạo tình huống có vấn đề là khâu then chốt quyết định sự thành bại của
phương pháp này. Vấn đề không hay, không phù hợp với trình độ cuả học sinh sẽ
không huy động, thu hút học sinh quan tâm để giải quyết tốt vấn đề, nếu có thì chỉ
mang tính chất đối phó

Nhưng nguyên nhân trên dẫn đến việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề còn
hạn chế và giờ học môn giáo dục công dân đạt hiệu quả chưa cao là một thực tế
khó tránh khỏi
Từ việc tìm hiểu thực trạng dạy và học môn GDCD nói chung và vận dụng
phương pháp nêu vấn đề nói riêng, tôi xác định nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là
vận dụng phương pháp trên có hiệu quả, khiến học sinh hứng thú với bài học hơn,
từ đó nâng cao chất lượng bộ môn GDCD
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1.

Một số lưu ý khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề

10


Qua thực tiễn giảng dạy môn GDCD tôi nhận thấy sử dụng phương pháp nêu
vấn đề là một trong nhưng tích hợp nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình
giảng dạy của người giáo viên. Đây là phương pháp có nhiều ưu thế trong quá trình
thực hiện đổi mới. Tuy nhiên để vận dụng tốt phương pháp này GV cần nắm
nhưng nguyên tắc vận dụng sau:
Thứ nhất, khi nêu tình huống có vấn đề
- Để phát huy tính tích cực của tư duy thì tình huống có vấn đề được lựa chọn
phải phù hợp với tính chất kiến thức và trình độ của học sinh. Vấn đề nêu ra quá dễ
hoặc quá khó sẽ không đem lại hiệu quả như mong muốn
- Các tình huống tạo ra phải điển hình, liên quan đến mật thiết với nội dung của
bài học và hướng giải quyết của nó không quá nhiều tình tiết và quá phức tạp
- Vì tri thức của triết học là nhưng nội dung mang tính trừu tượng, giáo viên cần
mềm hóa kiến thức có nghĩa là cần nêu nên nhưng tình huống gắn với nhưng sự
kiện liên quan đến đời sống hàng ngày, giúp người học có thể liên hệ với bài học
một cách dễ dàng.

hướng và kịp thời điều chỉnh nhưng cuộc tranh luận không cần thiết, đi xa so với
vấn đề nêu ra
- Trong quá trình giải quyết vấn đề, GV cần tạo bầu không khí thân thiện, thoải
mái nhưng nghiêm túc trong học tập, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của HS cũng
như tạo điều kiện thuận lợi để các em tự tin nêu phương án giải quyết vấn đề
Thứ ba, khi kết luận.
- Để kết luận vấn đề, chốt lại nội dung cơ bản, GV phải là người trọng tài đánh giá
mức độ đúng đắn và hạn chế của các ý kiến được nêu đồng thời giải thích cặn kẽ
nhưng vấn đề học sinh thắc mắc (nếu có)
- GV cần khen thưởng nhóm, cá nhân giải quyết tốt tình huống được nêu đồng thời
rút kinh nghiệm về tinh thần, thái độ làm việc của từng nhóm, thành viên
2.

Vận dụng phương pháp nêu vấn đề ở một số nội dung bài học

Để thực hiện vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào bài học đạt hiệu quả thì
giáo viên cần xác định rõ trọng tâm bài học, xác định nội dung nào phù hợp để vận
dụng phương pháp, tránh vận dụng quá nhiều sẽ gây tác dụng ngược vì một bài
giảng cần sử dụng đa dạng các phương pháp. Sau đây tôi nêu lên một số tình
huống có vấn đề có thể áp dụng vào bài học
Ví dụ Bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Khi
tìm hiểu nội dung thế giới quan và để học sinh thấy được ý nghĩa của thế giới
quan đối với cuộc sống của con người, GV có thể đưa tình huống sau:
Hiện nay y học đã phát triển, nhưng ở không it nơi người ta vẫn tin tưởng tuyệt
đối vào thầy mo, mỗi khi đau ốm, bệnh tật dù nặng hay nhẹ họ vội vàng đi mời
thầy mo về cúng tế mà không đi đến bệnh viện để thầy thuốc chữa trị, thậm chí có
12


người sinh đẻ, họ cũng mời thầy mo về cúng với mong muốn “mẹ tròn con vuông”.

khác nhau. sau khi học sinh nêu ý kiến, GV cần hướng HS đến nhìn nhận: Nên đưa
đi khám bệnh, đó là hành động đúng đắn khoa học, việc cúng tế làm lễ có thể yên
tâm về mặt tâm lý nhưng thực sự là vô ích, thậm chí dẫn đến hậu quả khôn lường.
13


Kết quả đạt được: Học sinh tự bộc lộ suy nghĩ, quan điểm riêng của bản thân,
không khí giờ học sôi nổi hơn. Học sinh có khả năng đưa ra một số dẫn chứng cho
thấy chỉ vì sự tin tưởng mù quáng vào việc cúng bái của thầy mo nên nhiều trường
hợp bệnh tật bị biến chứng nặng nề, bị tử vong…Từ đó hình thành quan điểm đúng
đắn, khoa học đồng thời biết phê phán nhưng quan điểm và hành động sai trái, mù
quáng tương tự đang diễn ra trong đời sống.
Khi đề cập đến vai trò tích cực của chủ nghĩa duy vật và hạn chế của chủ
nghĩa duy tâm, Giáo viên có thể sử dụng tình huống có vấn đề sau đây:
Có người cho rằng hạnh phúc là cầu được ước thấy, em có đồng ý với suy nghĩ
đó không? vì sao?
Các nhóm trao đổi trả lời, GV có thể đặt câu hỏi gợi mở làm rõ vấn đề:
1.

Hạnh phúc có phải tự nhiên mà có không? hoặc là có phải chỉ ngồi đó
“cầu”và “ước”?

2. Quan niệm như vậy gọi là duy vật hay duy tâm?
3.

Trong học tập và cuộc sống nếu chỉ chờ vào vận may, không chịu rèn luyện,
tu dưỡng, phấn đấu thì có tác hại gì?

Đây là tình huống giáo viên đưa ý kiến thiếu chính xác để học sinh bác bỏ ý
kiến đó và đưa ra ý kiến đúng đắn trên cơ sở đó nắm được nội dung bài học. Tình

cứu, là cách thức, con đường, biện pháp thực hiện để đạt được mục tiêu nhận thức
đặt ra.
Ví dụ 2: Đối với phần nội dung phương pháp luận biện chứng và phương pháp
luận siêu hình, GV đặt HS vào vấn đề sau:
Bạn A đầu năm học hay vi phạm nội quy nhà trường và lười học, hay nghịch
trong lớp, cô giáo chủ nhiệm đã hạ hạnh kiểm của bạn, sang HKII, A đã thay đổi
và cố gắng hơn trong học tập nhưng cô giáo vẫn hạ hạnh kiểm của bạn vì những
lần vi phạm trước đây.
GV hỏi:
- Suy nghĩ của em về cách nhìn nhận, đánh giá của cô giáo với bạn A?
- Khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó mà chỉ căn cứ vào một mặt, một biểu
hiện nào đó có thể phản ánh đúng sự vật, hiện tượng đó không, vì sao?
Cách thức tổ chức: GV cho HS thảo luận chung cả lớp trong một giới hạn thời
gian nhất định và sau đó cá nhân xung phong nêu ý kiến, sau khi HS đã trả lời GV
yêu cầu HS đọc SGK và so sánh sự khác nhau giưa phương pháp luận biện chứng
và siêu hình ở trên bảng, mời HS cho ví dụ và chốt lại vai trò của từng phương\
pháp luận
Kết quả đạt được: HS đã hiểu và phân biệt được phương pháp luận biện chứng
và siêu hình và vai trò của phương pháp luận biện chứng đối với hoạt động nhận
15


thức và thực tiễn của con người từ đó rút ra bài học cho bản thân trong cuộc sống
là phải xem xét, đánh giá nhìn nhận sự vật, hiện tượng và cả con người phải toàn
diện, đa chiều, tránh quan điểm bảo thủ, cứng nhắc, bất biến
Ví dụ 3: Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất. Phương
pháp nêu vấn đề có thể được vận dụng vào nội dung tìm hiểu khái niệm về vận
động.
Cách thức tổ chức: GV cho HS xem phim, xem hình ảnh về con tàu đang chạy
và đặt tình huống có vấn đề:

cách đơn giản, thẳng tắp, mà diễn ra một cách quanh co, phức tạp, đôi khi có bước
thụt lùi tạm thời. Song, khuynh hướng tất yếu của quá trình đó là cái mới ra đời
thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu.
Sau khi HS đã trả lời GV yêu cầu HS đọc SGK và so sánh sự khác nhau giưa
phương pháp luận biện chứng và siêu hình ở trên bảng, mời HS cho VD và chốt lại
vai trò của từng phương pháp luận
Để HS hiểu hơn về tính quanh co phức tạp, nhưng khó khăn, nhưng bước thụt
lùi tạm thời, GV cho HS liên hệ nhưng ví dụ trong thực tế cuộc sống chẳng hạn
như sự phát triển của cơ thể, sự phát triển trong học tập….
Kết quả đạt được: Hs hiểu ý nghĩa của hình xoáy trôn ốc, lấy được nhưng ví dụ
và rút ra nhưng bài học trong thực tiễn cuộc sống: không nên ảo tưởng về sự ra đời
dễ dàng của cái mới, luôn lường trước nhưng khó khăn sẽ phải trải qua, không nản
chí bi quan trước khó khăn thất bại, tin tưởng vào bản thân không ngừng phấn đấu
để đạt được nhưng kết quả tốt đẹp.
Ở bài 4: Nguồn gốc vận động phát triển của sự vật hiện tượng. Khi đề cập
đến nội dung mâu thuẫn. Để khắc sâu nhận thức và tạo không khí thoải mái, GV
bắt nhịp cho cả lớp hát chung bài hát “ Hổng dám đâu”
Đặt câu hỏi: cho biết cô bạn trong bài hát trên có mâu thuẫn nào không? nếu
có đó là mâu thuẫn nào?
HS trả lời, GV kết luận và bổ sung: Mâu thuẫn giưa nhiệm vụ học tập phải
hoàn thành (không thể đi chơi) với sức hấp dẫn của nhưng thú vui bên ngoài
(mong muốn đi chơi) trong con người cô bé này đã làm cho bạn phải đấu tranh tư
tưởng để quyết định đặt việc học lên trước việc chơi. Điều này khiến bạn yên tâm
vì đã chuẩn bị bài cho ngày mai lên lớp.
Hoạt động này, GV có thể sử dụng để mở đầu bài học hoặc củng cố bài học
Ở phần 2: Mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Sau khi để học
sinh nghiên cứu nội dung đã đề cập trong sách giáo khoa, GV nêu tình huống có
vấn đề sau:

17

khiến mâu thuẫn vẫn còn tồn tại và vì vậy sự vật vẫn giư nguyên trạng thái cũ,
không vận động, phát triển
Để giảng nội dung phần: Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất (của
bài số 5: Cách thức vận động phát triển của sự vật, hiện tượng), GV sử dụng
phương pháp này như sau:
Trước hết để HS hiểu sự biến đổi về lượng là như thế nào, GV nêu tình huống:
18


Đầu năm học lớp 10A2 có 39 học sinh, sang học kỳ 2 có 3 bạn lớp khác
chuyển qua học. Ta nói lớp 10A2 đã tăng thêm về lượng. Theo em có đúng không,
vì sao?
Sau đó GV cho HS quan sát và nêu vấn đề sự biến đổi về lượng dẫn đến sự
biến đổi về chất:
GV đưa ra một tờ giấy hình chư nhật, sau đó gấp cạnh bên song song với cạnh
bên còn lại, đến một mức độ nhất định, tờ giấy đó sẽ trở thành hình vuông sau đó
GV yêu cầu HS nhận xét và rút ra kết luận: Sự biến đổi về lượng đến một giới hạn
nhất định sẽ dẫn đến chất thay đổi. Hình chư nhật chuyển sang hình vuông.
GV đặt câu hỏi: Hình chữ nhật chuyển sang hình vuông thì chất và lượng của
nó thay đổi như thế nào? Bằng kiến thức về hình học, HS hoàn toàn trả lời được
câu hỏi này
Trong phần này ngoài minh họa bằng VD thực tế, GV có thể sử dụng hàng loạt
câu hỏi ngắn để kích thích tư duy cho HS sau đó rút ra kết luận. Chẳng hạn như:
1.Giữa chất và lượng cái nào biến đổi trước, cái nào biến đổi sau?
2.
3.
4.
5.
6.
7.

quan cũng cần cân nhắc đến thái độ đó trước khi đưa quyết định vì thực tế hiện
tượng nói lên bản chất nhựng không phải bất cứ hiện tượng nào cũng nói lên bản
chất mà hiện tượng đó phải lặp đi lặp lại nhiều lần mới thấy bản chất thật sự.
Để củng cố bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng,
GV nêu tình huống có vấn đề mang tính nghịch lý sau:
Trên đường đi học về A và B thảo luận bài trên lớp vừa học xong
A hỏi: Để tạo ra sự biến đổi về chất, nhất thiết phải tạo ra sự biến đổi về lượng
đến một giới hạn nhất định. Vậy thì càng thêm nhiều lượng thì quá trình biến đổi
chất càng diễn ra nhanh chóng phải không?
B: Theo tớ là đúng
A hỏi tiếp: Thế tại sao bạn C của lớp mình biết là học kém bạn đã tự học rất
chăm chỉ nhưng không khá lên được
B lúng túng không biết trả lời A như thế nào.
Em hãy trả lời giúp bạn B câu hỏi này!
Kết quả đạt được sau khi giải quyết tình huống: Trên cơ sở nắm được nội dung
kiến thức vừa học: Để chất biến đổi thì lượng nhất thiết phải biến đổi đến một giới
hạn nhất định, HS sẽ hiểu rằng muốn học giỏi phải cố gắng nhưng không phải cố
gắng đến bất kỳ nào cũng học giỏi mà phải đến đúng độ cần thiết mới có thể trở
thành HS giỏi. Từ đó rút ra bài học cho bản thân trong quá trình học tập là phải
biết kiên trì, vượt khó nhưng như vậy thôi chưa đủ mà phải có phương pháp học
tập khoa học, hiệu quả nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng.
Đối với bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng, có nhiều
nội dung có thể vận dụng phương pháp nêu vấn đề
Chẳng hạn: Tìm hiểu về khái niệm phủ định
GV cho Hs quan sát một số hình ảnh: Nụ hoa đang nở, cháy rừng, chế biến
trứng…
20


GV hỏi:

Thành phố Hà Nội chủ trương tôn tạo và xây dựng thành phố cổ. Giả sử có hai
quan điểm:
21


- Quan điểm 1: Phá bỏ hoàn toàn phố cổ Hà Nội để xây dựng mới hoàn toàn
cho phù hợp với đô thị hóa
- Quan điểm 2: Giữ nguyên vẹn như cũ.
Theo ý em thì quan điểm nào phù hợp với tư tưởng phủ định biện chứng?
Với nội dung vừa tìm hiểu, HS sẽ biết phân tích tình huống để thấy được cả hai
quan niệm trên là không đúng
3. Thực nghiệm vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần
“Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học”
môn GDCD 10 trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
3.1. Mục đích thực nghiệm
Việc tiến hành thực nghiệm nhằm khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của đề
tài và sự cần thiết vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD
lớp 10 trên cơ sở phối hợp với nhiều phương pháp dạy học tích cực khác
3.2. Đối tượng thực nghiệm
Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 10 trường THPT chuyên Lương Thế
Vinh, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
+ Lớp thực nghiệm: 10 Lý (26 HS) và 10A1 ( 31 HS)
+ Lớp đối chứng: 10 Toán ( 22 HS) và 10 A2 (32 HS)
3.3. Kế hoạch thực nghiệm
Việc thực nghiệm được tiến hành vào đầu tháng 10 năm học 2014 – 2015 theo 3
giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Lập kế hoạch thực nghiệm, chọn một số bài để thiết kế giáo án
thực nghiệm
Giai đoạn 2: Tiến hành thực nghiệm theo giáo án đã thiết kế đồng thời tiến hành
khảo sát kết quả thực nghiệm

II. CÁC KỸ NĂNG SỐNG CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
23


- Kỹ năng tư duy
- Kỹ năng trình bày trước đám đông
- Kỹ năng tự tin
III. PHƯƠNG PHÁP :
Phương pháp nêu vấn đề kết hợp với các phương pháp khác
IV. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Tranh, ảnh, sơ đồ.
- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu.
V. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP :
1. Ổn định tổ chức lớp :
2. Kiểm tra bài cũ:
3. Giảng bài mới:
Tạo tình huống có vấn đề:
Nhà cơ học Niu-tơn cho rằng, nguồn gốc của sự vận động nằm ngoài vật chất,
nhờ “cái hích của Thượng đế”. Hôn Bách, triết học duy vật tiêu biểu ở thế kỷ
XVIII của Pháp cho rằng: “Vật chất vận động là do sức mạnh của bản thân nó,
không cần đến một sự thúc đẩy nào từ bên ngoài”. Còn theo em thì sao ?
Bài học sẽ giúp ta tìm hiểu đúng đắn nguồn gốc vận động, phát triển của của các
sự vật, hiện tượng.
HOẠT ĐỘNG THẦY VÀ TRÒ

NỘI DUNG KIẾN THỨC

Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm mâu thuẫn.

GV đưa thêm câu hỏi gợi ý:
? Hai mặt đối lập có xung đột, đấu tranh với
nhau không?
? Hai mặt chúng có ràng buộc, liên hệ và tác
động lẫn nhau không?
HS xác định, nêu ý kiến.
GV nhấn mạnh:
Ở VD 1: Là mâu thuẫn theo quan niệm thông
thường. Mâu thuẫn này được hiểu là trạng
thái xung đột, chống đối nhau, trái ngược
nhau nhưng chúng tách rời tương đối, không
liên hệ chặc chẽ với nhau

-

Ở VD 2: Hai mặt đối lập nằm trong một chỉnh - Mâu thuẫn theo cách hiểu triết học là
thể của SV, vừa đấu tranh với nhau nhưng lại một chỉnh thể thống nhất mà trong đó
có các mặt vừa thống nhất, vừa đấu
ràng buộc liên hệ lẫn nhau
tranh với nhau.
Rút ra khái niệm mâu thuẫn
a. Các mặt đối lập của mâu thuẫn :
Hoạt động 2: Tìm hiểu mặt đối lập của mâu
- Đó là nhưng mặt chứa đựng các đặc
thuẫn
điểm, tính chất, khuynh hướng vận
Mục tiêu: HS hiểu rõ mặt đối lập của mâu động… trái ngược nhau.
thuẫn theo quan điểm biện chứng
- Mặt đối lập của mâu thuẫn tồn tại và
Cách tiến hành:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status