Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp trực quan trong dạy học phần ucông dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học - Pdf 33

STT

TIÉT VIÉT TẮT

TỪ ĐẦY ĐỦ

1

GDCD

Giáo dục công dân

2

PPL

Phương pháp luận
45

3
4
5
6

PPTLN
PPTQ

Phương pháp thảo luận nhóm
DANHLỜI
MỤC
Từ VIÉT

trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân, dân tộc và cả nhân
loại. Do vậy, chìa khóa cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước ta hiện nay không gì khác là xây dựng một nền giáo dục
có chất lượng với nhiệm vụ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài.
Nhiệm vụ đó được nhấn mạnh khi Đảng ta xác định “Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đối
mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển
nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [10; 106] là
một trong ba khâu đột phá chiến lược. Điều đó đòi hỏi giáo dục đào tạo cần
có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình và đặc biệt là phương pháp
giảng dạy ở các cấp học. Sao cho phương pháp sử dụng “phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp vói đặc trưng môn
học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp tự học, khả năng họp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và
trách nhiệm học tập cho học sinh” [4].
Nhận thấy từ khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi
mới phương pháp dạy học đã có một sự biến đổi lớn trong cách học của học
sinh: chủ động, tự giác và linh hoạt hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những giáo viên
vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vẫn tồn tình trạng “đọc chép”, lấy phương pháp thuyết trình làm phương pháp chủ đạo khiến cho giờ
học có phần nặng nề, học sinh thụ động trong tiếp thu tri thức. Vì vậy, đế chất
lượng dạy học được nâng cao, giáo viên cần tích cực hơn trong nghiên cứu


7
nội dung bài học, các phương pháp dạy học... để lựa chọn phương pháp phù
hợp cho từng tiết dạy, phần dạy nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, bồi
dưỡng kỹ năng hợp tác, vận dụng kiến thức cho học sinh.
Yêu cầu trên càng trở nên cấp thiết hơn đối với bộ môn GDCD vì đây

công trình khoa học của các nhà nghiên cứu đã được in thành sách, đăng trên
các tạp chí để từ đó được áp dụng vào trong thực tiễn dạy học đã góp phần
vào quá trình nâng cao chất lượng giáo dục ỏ nước ta hiện nay. Các công trình
này hiện đi theo hướng sau:
Thứ nhất: các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào nghiên cứu về mặt lý luận
của việc thực hiện đổi mới phương pháp nói chung. Có thể kể đến như:
Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, (2000), Hoạt động dạy học ở trưòng
trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra khi sử dụng đúng
phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự tính. Nếu mục đích không đạt được
thì có nghĩa phương pháp không phù họp với mục đích hoặc nó không được
sử dụng đúng và trong mọi giò dạy bao giò cũng có sự phối hợp, kết hợp một
vài phương pháp. Hơn nữa bản thân các phương pháp dạy học đều thâm nhập
vào nhau đế thể hiện một tác động giữa giáo viên và học sinh. Còn nếu khi
nói vận dụng một phương pháp dạy học ở một thời điếm nào đó, có nghĩa là
phương pháp dạy học đó chiếm ưu thế nhằm giải quyết một nhiệm vụ dạy học
nào đó, tuyệt nhiên không có nghĩa là chỉ được sử dụng một phương pháp mà
không kết hợp các phương pháp dạy học khác
PGS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ, (2002), Lí luận dạy học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra phương pháp gồm có 2 mặt: mặt khách quan (được
quy định bởi hoạt động của đối tượng) và mặt chủ quan (được quy định bởi
hoạt động của chủ thể). Do vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học được
quyết định bởi nhiều yếu tố: mục đích dạy học, nội dung bài học, trình độ của
người học...Trong đó mỗi một phương pháp dạy học dẫn tới một trình độ lĩnh
hội nhất định, ứng vói mỗi loại nội dung dạy học cần có một phương pháp


9
dạy học thích họp. Và khi trình độ nhận thức của học sinh càng thấp thì sự can
thiệp của phương pháp sư phạm càng nhiều, còn khi trình độ nhận thức của
học

trong dạy học Chính trị trong các trường nghề.
Trần Thị Mai Hương, (2011) Vận dụng phưong pháp hưỏng dẫn sử dụng
tài liệu học tập nhằm năng cao năng lực tự học môn Chỉnh trị cho học sinh
trường Trung học kỹ thuật Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh, luận
văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học Vinh. Dựa trên cơ sở lý luận
và nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu
học tập tác giả đã xây dựng quy trình hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập cho
học
sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản trong vận dụng phương pháp
hướng
dẫn sử dụng tài liệu học tập nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh.
- Thứ ba: Nghiên cứu về sự kết hợp giữa các phương pháp:
Nguyễn Thị Hồng Thơ, (2009), Kết họp phưong pháp dạy học triỉyển
thong với phưong pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 11, luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường
Đại học Vinh. Tác giả đã chỉ ra cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như các điều
kiện, giải pháp nhằm kết họp có hiệu quả phương pháp dạy học truyền thống
và phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 11.
Đào Thị Hường, (2011), Sử dụng phương pháp tình huống kết hợp
phương pháp dóng vai trong dạy học môn Giảo dục công dàn lóp 12, luận
văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, trường Đại học Vinh. Tác giả đã chỉ ra cơ sở
lý luận và thực tiễn, cũng như quy trình và điều kiện để thực hiện kết hợp
phương pháp tình huống và phương pháp đóng vai nhằm đem lại chất lượng
cao cho giờ dạy môn GDCD lớp 12.
Như vậy, nhìn ở các góc độ khác nhau các tác giả đã nhận thấy vai trò


11
thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ



12
việc nghiên cứu. Và sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu nhằm
đảm bảo tính khoa học, tính sáng tạo, tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích và tổng hợp tài

liệu, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp lịch sử
và logic nhằm tìm hiểu sâu hơn về PPTLN, PPTQ cùng việc kết hợp PPTLN
và PPTQ.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, thực

nghiệm sư phạm, trao đổi kinh nghiệm nhằm thu thập thông tin về việc kết
hợp PPTLN và PPTQ trong dạy học phần Công dân với việc hình thành TGO,
PPL khoa học thuộc chương trình GDCD THPT.
- Phương pháp toán học nhằm xử lý và phân tích số liệu thống kê.

Trên cơ sở đó, bằng con đường phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để
rút ra kết luận cần thiết, hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ đề ra.
5. Phạm vi nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu tác giả xin giới hạn đối tượng nghiên cứu ở
học sinh khối 10, trường THPT Lương Đắc Bằng, huyện Hoang Hóa, Thanh
Hóa.
6. Giả thuyết khoa học

Nếu đề ra các giải pháp khả thi sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc dạy
học phần Công dân với việc hình thành TGO, PPL khoa học ở trường THPT
Lương Đắc Bằng, huyện Hoang Hóa, Thanh Hóa nói riêng và các trường
THPT nói chung.

Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG
PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP TRựC QUAN TRONG
DẠY HỌC PHẦN CÔNG DẢN ỉ ỦI ĩ 1ỆC HÌNH THÀNH THỀ GIỚI 0 UAN,
PHƯONG PHÁP LUẬN KHOA HỌC
1.1. Cơ sở lý luận của việc kết họp phương pháp thảo luận nhóm và

phương pháp trực quan trong dạy học phan Công dàn với việc
hình

thành

thế giới quan, phương pháp luận khoa học
1.1.1.

Phương pháp thảo luận nhóm

1.1.1.1.

Khái niệm phương pháp thảo luận nhỏm trong dạy học

Để tiến hành một hoạt động có hiệu quả cần phải có phương pháp. Trong
đó “phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh đê
học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo” [3, 68]. Và để thực hiện mục tiêu
giáo dục, một hệ thống các phương pháp dạy học đã được xây dựng trong đó
có PPTLN và PPTQ.
Theo PGS.TS.Nguyễn Hữu Chí: “PPTLN là phương pháp dạy học trong
đó giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự
tương tác trực tiếp giữa các thành viên, mà theo đó học sinh trong nhóm trao
đối, giúp đỡ và cùng nhau phối họp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung


sinh cần đạt được cũng như nội dung của bài học rất quan trọng trong việc lựa
chọn hình thức tổ chức và thời điểm sử dụng PPTLN trong giờ học.
- Xác định mục tiêu của hoạt động nhóm: Mục tiêu của thảo luận nhóm

bao gồm mục tiêu kiến thức và mục tiêu phát triển kỹ năng xã hội. Tùy điều
kiện cụ thế mà giáo viên có sự ưu tiên hình thành mục tiêu nào ở học sinh
trước.
- Thiết kế các nhiệm vụ cho hoạt động nhóm: Trong khi thiết kế cần

làm sao cho các nhiệm vụ có sự phụ thuộc lẫn nhau; các nhiệm vụ phải phù
hợp với trình độ của học sinh; phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm
và các thành viên trong nhóm; đảm bảo trách nhiệm của từng cá nhân.
- Dự kiến cách thức đánh giá, cho điểm: Việc đánh giá ảnh hưởng rất

lớn đến trách nhiệm cá nhân, đến sự tham gia tích cực của các thành viên. Do


16
đều có ý nghĩa trong thành tích của nhóm và thành tích của các thành viên
trong nhóm có ảnh hưởng lẫn nhau.
Bước 2: Tổ chức thực hiện thảo luận nhóm trong giờ học. Trong bước
này giáo viên cần:
- Phân chia nhóm: Tùy vào mục tiêu, nhiệm vụ của bài học cụ thể cũng

như điều kiện tiến hành giờ học và kỹ năng làm việc theo nhóm của học sinh
mà giáo viên lựa chọn cách chia nhóm phù hợp: nhóm lớn hay bé, nhóm chọn
theo quy tắc ngẫu nhiên hay theo trình độ, giáo viên tự phân nhóm hay học
sinh tự chọn thành viên cho nhóm...
- Bố trí chỗ ngồi thảo luận cho các nhóm làm sao cho phù họp với hoạt


đánh giá này có thể được tiến hành song song hoặc sau khi đã có sự đánh giá
giữa các nhóm với nhau. Giáo viên kiểm tra lại kết quả đánh giá của các
nhóm có đúng không? Chỗ nào chưa đúng thì giải thích rõ cho học sinh hiểu
vì sao chưa đúng. Kết quả làm việc của nhóm có thể được giáo viên sử dụng
để cho điếm các thành viên trong nhóm.
* Điểu kiện:
Đe việc sử dụng PPTLN có kết quả tốt, cần:
- Phân chia nhóm phù họp. Có nhiều cách phân chia nhóm, có thể theo

điếm danh, theo giới tính, theo vị trí ngồi... Quy mô của nhóm có thể lớn
hoặc nhỏ tùy theo vấn đề thảo luận. Tuy nhiên, nhóm từ ố - 8 học sinh là tốt
hơn nhất bởi lẽ: số học sinh như vậy vừa đú nhỏ đế tất cả các thành viên đều
có thể tham gia ý kiến, vừa đủ lớn đê đảm bảo rằng học sinh không thiếu ý
tưởng và không có gì đế nói.
- Quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày ý kiến thảo luận cho các

nhóm.
- Lựa chọn trưởng nhóm (vai trò này nên được luân phiên giữa các

thành viên trong nhóm ở các lần thảo luận khác nhau đế đảm bảo học sinh nào
cũng có cơ hội rèn luyện khả năng quản lý, tổ chức). Trưởng nhóm điều khiển
dòng thảo luận, mời các thành viên phát biếu ý kiến, chuyên câu hỏi khác khi
thích hợp. Đồng thời trong nhiều trường hợp - nhưng không phải là tất cả nhóm cần có một thư kí ghi lại những điếm chính của cuộc thảo luận đế trình
bày trước lóp.


18
- Kết quả thảo luận được trình bày dưới nhiều hình thức: lời nói, đóng


- Giúp hình thành các kỹ năng xã hội và các phẩm chất nhân cách cần

thiết như: kỹ năng tổ chức, quản lý; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, xung đột;


19
- Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ, nhân văn trong học tập. Tạo

cơ hội bình đẳng cho các cá nhân khẳng định mình và phát triển. Nhóm làm
việc giúp cho những cá nhân nhút nhát trở nên tự tin hơn, tạo môi trường học
tập thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ trên cơ sở nỗ lực và trách
nhiệm của các thành viên. Mọi ý kiến trong nhóm đều được tôn trọng, có giá
trị như nhau, đều được xem xét, cân nhắc cẩn thận. Do vậy tránh được tình
trạng áp đặt, uy quyền, thiếu tôn trọng giữa những người tham gia hoạt động,
đặc biệt giữa giáo viên và học sinh.
* Nhược diêm:
- Đòi hỏi nhiều thời gian. Một lớp học 45 — 50 học sinh với thời lượng

45 phút là một trở ngại lớn cho việc thực hiện PPTLN thành công.
- Nếu giáo viên không kiểm soát nghiêm hoạt động của các thành viên

trong nhóm thì có thể xảy ra tình trạng một số học sinh lãng phí thòi gian vào
việc thảo luận các nội dung không có liên quan đến bài học, học sinh phụ
trách nhóm theo kiểu độc đoán, đa số các thành viên trong nhóm không tham
gia thảo luận mà quay sang nói chuyện riêng, trong nhóm và giữa các nhóm
phát sinh tình trạng đối địch, ganh đua quá mức.
- Việc đánh giá từng học sinh trong thảo luận nhóm thường khó công

bằng và một vài học sinh có thể cảm thấy không thoải mái với việc đánh giá
dựa trên sự nỗ lực của nhóm.

giảng. Những đồ dùng dạy học này giúp cho học sinh thấy được một cách trực
quan các sự vật, hiện tượng thể hiện dưới dạng khái quát và giản đơn. Cùng
với lời bình của giáo viên giúp cho học sinh có những khái niệm đúng về đối
tượng nghiên cứu. Còn hình thức trình bày thường gắn với việc giáo viên
mang các vật mẫu như thực vật, động vật, khoáng sản... đến lóp học đê trình
bày trong giờ dạy, những thí nghiêm được tiến hành tại các phòng học chuyên
ngành, hay băng video. Hình thức trình bày là cơ sở, điểm xuất phát trong quá
trình nhận thức - học tập của học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn.
Phương pháp quan sát là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức cho
học sinh sử dụng các giác quan đê tri giác có mục đích các đối tượng trong tự
nhiên và xã hội mà không có sự can thiệp vào các quá trình diễn biến của các


21
hiện tượng hoặc sự vật đó. Nhằm thu nhập những sự kiện, hình thành những
biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh. Phương pháp quan
sát được sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực quan, phương tiện
dạy học hoặc khi chính bản thân học sinh tiến hành trong phòng thí nghiêm,
trong tự nhiên và xã hội. Phương pháp này giúp học sinh thấy được mối quan
hệ biện chứng giữa lý thuyết và thực tiễn.
1.1.2.2.

Các bước, điều kiện thực hiện phương pháp trực quan trong

dạy

học

* Các bước:
Bước 1: Chuẩn bị phương tiện trực quan và lập kế hoạch sử dụng PPTQ

- Giáo viên nhận xét đối với đồ dùng trực quan giao cho học sinh làm

và có thê lấy nó làm căn cứ cho điếm học sinh.
* Điều kiện:
Đe việc vận dụng PPTQ đem lại hiệu quả cao cho giờ dạy, giáo viên cần:
- Thận trọng trong lựa chọn các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ

thuật dạy học sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học.
- Hiểu rõ nội dung bài học cũng như mục đích trình bày phương tiện

trực
quan đế sử dụng phương tiện theo một trình tự phù hợp với tiến trình bài học.
- Chuấn bị các phương tiện trực quan chu đáo, tỉ mỉ, có nội dung và tính

thấm mĩ; bố trí ở nơi cao, có ánh sáng phù hợp thuận tiện cho việc quan sát;
cần chú ý đến những quy luật cảm giác, tri giác.
- Cần tính toán số lượng phương tiện trực quan phù hợp với bài học.

Không tham trình bày nhiều phương tiện trực quan làm cho học sinh phân tán
trong việc nhận biết dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng; kéo dài thời
gian trình bày ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của tiết học.
- Cần chỉ rõ cho học sinh mục đích, yêu cầu nhiệm vụ quan sát, hướng

dẫn học sinh quan sát và ghi chép đẻ từ đó rút ra được những kết luận đúng
đắn, có tính khái quát và biểu đạt những kết luận đó dưới dạng văn viết hoặc
văn nói một cách chính xác và mạch lạc.
- Chỉ sử dụng những phương tiện trực quan khi cần thiết. Sau khi sử


23

- Với việc trình bày thí nghiệm khoa học học sinh không chỉ chiếm lĩnh

tri
thức mà còn hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn thí nghiêm - cơ sở của hoạt


24
ý của mình vào đồ dùng trực quan mà quên đi việc tìm hiểu những dấu hiệu
bản
chất. Thậm chí có thể hạn chế sự phát triển tư duy trìru tượng của học sinh.
1.1.3. Kết hợp phương pìuỉp thảo luận nhóm và phương pháp trực quan
Việc các phương pháp dạy học biệt lập chỉ tồn tại trên lý thuyết, còn trên
thực tiễn trong quá trình dạy học người giáo viên luôn chủ động, sáng tạo và
phối hợp hài hòa giữa các phương pháp khác nhau để đem lại hiệu quả cao
cho quá trình truyền thụ tri thức. Bởi không có một phương pháp nào là vạn
năng bên cạnh những ưu diêm các phương pháp dạy học luôn tồn tại những
hạn chế cần được bổ sung bằng những phương pháp khác. PPTLN và PPTQ
cũng vậy.
Khi bàn về khái niệm kết hợp Từ điển tiếng Việt viết: “Ket hợp là gắn
với nhau để bố sung, hỗ trợ cho nhau” [33, 604]. Do vậy, theo tác giả kết hợp
PPTLN và PPTQ thực chất là vận dụng hài hòa PPTLN và PPTQ trong một
quá trình giảng dạy. Việc vận dụng này không phải là sử dụng một cách rời
rạc PPTLN và PPTQ trong một bài giảng mà hai phương pháp này có sự hòa
quyện vào nhau trong cùng một hoạt động, trong cùng một mục đích chiếm
lĩnh nội dung tri thức nhất định. Trong hoạt động đó PPTLN hỗ trợ cho PPTQ
phát huy cao độ những ưu điểm, khắc phục hạn chế và ngược lại. Nhằm đem
lại kết quả cao nhất trong chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
nhân cách của học sinh. Việc vận dụng hài hòa PPTLN và PPTQ không được
hiểu là hai phương pháp này có vị trí ngang nhau trong mọi giai đoạn lên lớp
mà với những mục tiêu khác nhau của từng giai đoạn vai trò, vị trí của tìmg

đem lại hiệu quả cao nhất cho giờ dạy. Bởi không phải bài học nào cũng có thể
vận dụng kết hợp PPTLN và PPTQ được vì có những tri thức loài người phải
mất nhiều công sức mới tìm ra được nên việc tự thảo luận giữa học sinh với
nhau
rất khó chiếm lĩnh được tri thức này.
- Chuẩn bị đồ dùng trực quan và các đồ dùng cho hoạt động nhóm trong

giờ học. Những đồ dùng này có cái do giáo viên chuẩn bị có cái do học sinh
chuẩn bị tùy vào điều kiện cụ thể của lóp học.
- Hình thành các bước kết hợp PPTLN và PPTQ trong giáo án. Việc xác

định các bước kết hợp của giáo viên càng rõ ràng, chi tiết bao nhiêu thì càng

lợi cho tiến trình lên lóp đạt hiệu quả bấy nhiêu.
Bước 2: Tổ chức thực hiện kết họp PPTLN và PPTQ trong giờ học.
Trong
bước này cần:
- Giáo viên phân chia các nhóm học tập nhỏ; trưng bày phương tiện trực

quan cho các nhóm quan sát hoặc phân phát phương tiện trực quan tới từng


26
- Học sinh lên trình bày kết quả làm việc của nhóm với đồ dùng trực

quan.
Hình thức trình bày có thể bằng lời, viết, vẽ lên giấy to hoặc ngay trên đồ
dùng
trực quan được phát.
Bước 3: Đánh giá kết quả kết quả hoạt động của học sinh.

ảnh hưởng đến tiến độ làm việc của nhóm.
- Học sinh phải có tinh thần trách nhiệm đế hoạt động nhóm và bảo

quản, sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả.
1.1.3.2.

ưu, nhược điếm của việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm


phương pháp trực quan trong dạy học
*

Ưu điếm:
- Giúp cho hoạt động thảo luận nhóm đem lại kết quả cao hơn vì đồ

dùng trực quan kích thích sự chú ý của học sinh, trợ giúp những khó khăn
trong lĩnh hội những kiến thức trừu tượng nên hạn chế tình trạng có những
học sinh không chú ý vào nội dung thảo luận của nhóm do không hứng thú
với đề tài thảo luận hoặc đề tài có nhiều đòi hỏi về kiến thức trừu tượng (đối
với học sinh có học lực thấp).
- Giáo viên không mất nhiều thời gian để giải thích nội dung, yêu cầu

thảo luận nhóm cho từng nhóm học tập.
- Đem lại hiệu quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức vì kiến thức được

trình bày thông qua lời nói của giáo viên kết hợp với hình ảnh minh họa thì
kiến thức đó lưu giữ trong trí nhớ học sinh không lâu nhưng nếu kết hợp lời,
hình và hành động kiến thức lưu giữ trong trí nhớ học sinh rất lâu.
*


mang tính quyết định đến chất lượng giảng dạy. Một nội dung kiến thức có
hữu
ích, một cơ sở vật chất có tốt, một đối tượng học tập có ý thức đến đâu đi nữa

tất cả những điều đó không tồn tại đồng hành cùng một phương pháp phù họp


29
nhân cách của con người Việt nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách,
trách nhiệm công dân, chuân bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào
cuộc sống lao động. Do vậy, người giáo viên THPT phải có ý thức nâng cao
trình độ chuyên môn của mình, trong đó có kỹ năng lựa chọn và vận dụng
linh hoạt các phương pháp giảng dạy trong quá trình truyền thụ tri thức cho
học sinh.
Làm sao cho việc lựa chọn “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm
của
tìmg lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo
nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [21, 26].
1.1.4.2.

Mục tiêu, nội dung, cấu trúc phần “Công dân với việc hình

thành

giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status