BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________
VŨ KIM ĐIỀM
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT
Mã số: ……… …………
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN
ĐỀ VỚI SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
HIỆN ĐẠI ĐỂ DẠY TỐT PHẦN “CÔNG DÂN VỚI
CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI” MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG THỐNG NHẤT
Người thực hiện : NGUYEÃN VUÕ QUYØNH AÙI
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
ĐỒNG NAI - 2014
x
X
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN.
1. Họ và tên: NGUYỄN VŨ QUỲNH ÁI
2. Ngày tháng năm sinh: 19/09/1981
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Trường THPT Thống Nhất B, Quang Trung Thống
Nhất, Đồng Nai.
những công dân trẻ có tài, có đức, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước. Trong đó, phần
“Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” của chương trình GDCD lớp 11 có những nội
dung hết sức thiết thực, gần gũi và đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các em hàng
ngày, hàng giờ. Nhưng khi đến lớp, đa số các em chỉ học những gì có trong sách vở, không
biết liên hệ thực tiễn, học một cách máy móc, thụ động, thiếu tư duy, sáng tạo. Vấn đề đặt ra
cho giáo viên GDCD là phải có phương pháp dạy học như thế nào để gây được sự quan tâm,
chú ý, hứng thú tìm tòi, học hỏi, khám phá, tự giải quyết vấn đề và chủ động chiếm lĩnh kiến
thức của học sinh.
Do đó, để nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD đòi hỏi giáo viên phải có khả
năng sử dụng phương tiện dạy học hiện đại kết hợp với một phương pháp dạy học tích cực
phù hợp nhằm tăng sự hứng thú học tập của học sinh đối với môn GDCD ở trường THPT.
Đây cũng chính là lí do mà tác giả đã chọn đề tài “Kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn
đề với sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để dạy tốt phần “Công dân với các vấn đề
chính trị - xã hội” môn GDCD lớp 11 trường THPT Thống Nhất”.
2
2. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với sử
dụng phương tiện dạy học hiện đại để giảng dạy phần “Công dân với các vấn đề chính trị -
xã hội” môn GDCD lớp 11
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu việc vận dụng đề tài trong phần “Công dân với các vấn
đề chính trị - xã hội” môn GDCD lớp 11
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng một số phương pháp đặc thù như: Phương pháp thống kê tổng hợp;
phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh; phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp
thực nghiệm sư phạm.
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
1.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
cuộc sống, khắc phục tính nhút nhát, thiếu tự tin.
Giải quyết vấn đềXây dựng THCVĐ Hệ thống hóa kiến thức
Tiếp nhận và phân
tích nội dung
THCVĐ
Tiếp nhận và phân
tích nội dung
THCVĐ
Tổng kết, đánh giá
kết quả GQVĐ của
HS
Tổng kết, đánh giá
kết quả GQVĐ của
HS
Xác định mâu thuẫn
Xác định mâu thuẫn
Lập luận và khẳng
định giả thuyết
Lập luận và khẳng
định giả thuyết
Hệ thống và khái quát
lại bài giảng
Hệ thống và khái quát
lại bài giảng
Hoàn thiện và dự kiến
hướng GQVĐ của HS
Hoàn thiện và dự kiến
hướng GQVĐ của HS
Huy động kiến thức
và đưa ra giả thuyết
dựng tình huống có vấn đề phù hợp, phải có khả năng quản lí tiết dạy tốt nếu không sẽ gây
mất trật tự, phải hoàn thành tốt vai trò trọng tài nếu không sẽ gây mất đoàn kết trong HS và
phải có bản lĩnh cách mạng vững vàng để kịp thời uốn nắn quan điểm, tư tưởng không đúng
đắn.
- Nếu lạm dụng phương pháp này sẽ dẫn đến tình trạng không đảm bảo chất lượng
đồng đều trong HS, sự phân hóa trình độ trong HS không có sự cá biệt hóa, nhiều HS yếu có
tâm lí sợ học hoặc chán học.
- Các bài giảng trong chương trình GDCD ở trường THPT thường đề cập đến nhiều
vấn đề phức tạp nên vận dụng phương pháp này để dạy trọn vẹn một bài thường là khó thực
hiện.
1.2. Phương tiện dạy học hiện đại
1.2.1. Khái niệm phương tiện dạy học hiện đại
* Khái niệm phương tiện dạy học:
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về phương tiện dạy học. Nên trong các tài
liệu giáo dục học vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm phương tiện dạy học. Tuy nhiên,
chúng ta có thể hiểu khái niệm phương tiện dạy học như sau: Phương tiện dạy học là công
cụ hay thiết bị có khả năng dẫn truyền những thông tin đến đối tượng dạy học nhằm đạt
được mục đích dạy học đã đặt ra.
* Phân loại phương tiện dạy học:
5
Hiện nay, các phương tiện được ứng dụng trong quá trình dạy học rất đa dạng và
phong phú. Tùy vào việc dựa trên tính chất, cấu tạo hay mức độ sử dụng mà các nhà giáo
dục có cách phân loại khác nhau.
Dựa vào cấu tạo của phương tiện, có thể phân các phương tiện dạy học thành hai loại:
- Các phương tiện dạy học truyền thống: Là các phương tiện đã được sử dụng lâu đời
và ngày nay vẫn còn được sử dụng trong dạy học, bao gồm: Tranh, ảnh, hình vẽ, bản đồ, vật
thật, mô hình, SGK, …
- Các phương tiện nghe nhìn (phương tiện dạy học hiện đại): Là các phương tiện được
hình thành do sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là điện tử, bao gồm: Radio,
casset, máy ghi âm, phim, truyền hình, máy chiếu overhead, máy vi tính, máy chiếu đa chức
- Máy chiếu đa năng (Projector): Là một thiết bị xuất hình ảnh hiện đại đi kèm với
máy tính, máy chiếu Projector được thiết kế nhỏ gọn, có thể treo cố định hoặc di động. Máy
này được sử dụng để phóng to và chiếu hình ảnh tĩnh cũng như động từ các nguồn khác
nhau.
- Bảng thông minh Mimio Xi: Là loại bảng tương tác, được vận hành bởi bút điện tử
có thể cảm nhận viết và vẽ một cách nhanh chóng, chính xác thông qua một trường từ tính
trên tấm bảng. Nó được gắn với máy chiếu, có thể chuyển mọi nội dung từ máy tính lên mặt
bảng và từ đó cho phép người dùng điều khiển trực tiếp lên bảng. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của
phần mềm mimio 4.10 miễn phí có thể cài đặt thư viện và bộ công cụ dạy học như bút viết,
bút vẽ, trò chơi, âm nhạc, bản đồ, soạn thảo văn bản…
- Ngoài ra, hiện nay còn có các phương tiện khác cũng được sửng dụng trong giảng
dạy như máy tính bảng (iPad), thiết bị này tạo ra một phân loại mới giữa điện thoại thông
minh và máy tính xách tay; máy quay phim kết hợp (camcorder) là một dụng cụ điện
tử dùng để ghi ảnh động và âm thanh lên một vật lưu trữ bên trong nó; hay dạy học sử dụng
mạng điện tử (e-Learning) được hiểu là các hình thức dạy học, trong đó sử dụng mạng thông
tin điện tử và đa phương tiện để trình bày các thông tin và tổ chức sự tương tác giữa người
dạy và người học.
- Phần mềm Powerpoint và phần mềm FrontPage:
+ Powerpoint là phần mềm dùng để soạn thảo và trình diễn bài giảng, có thể kết hợp
với nhiều kênh thông tin như chữ viết, hình ảnh, âm thanh, phim với hình ảnh và màu sắc
đẹp.
7
+ FrontPage là phần mềm thiết kế web sinh động, đầy mầu sắc, đồng thời chuyển tải
các trang đó lên mạng Internet một cách thuận tiện và nhanh chóng mà không cần có những
kiến thức như Java, lập trình…
+ Ngoài ra, GV còn có thể sử dụng các phần mềm dạy học khác như: Access, Flash,
Outlook, Publisher, Mindmap, Electronic Workbelch cho phép tạo ra các sơ đồ, các mô
hình, biểu đồ…
1.2.2. Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại trong dạy
học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, như trong giảng dạy, GV phải tuân theo
nguyên tắc giáo dục, nguyên tắc dạy học hay nguyên tắc dạy học môn GDCD, … Như vậy,
nguyên tắc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt một quá trình hoạt động nào đó của con người, đảm bảo
cho quá trình ấy đi đúng hướng, đúng mục tiêu.
Do đó, để việc kết hợp phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại đạt
hiệu quả cao và đi đúng mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD ở trường
THPT, GV GDCD cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
* Đảm bảo tính khoa học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với
sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, GV cần phải đảm bảo sự khách quan, chính xác,
logic và có hệ thống.
Để phát huy tác dụng của nguyên tắc này, cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Thứ nhất, sự kết hợp giữa phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại
cần đạt độ chính xác cao: Khi tiến hành kết hợp, ngoài việc phải hiểu và nắm vững bản chất
và nội dung kiến thức cần truyền đạt, GV cần phải biết lựa chọn hình ảnh, video lột tả một
cách chân thực, chính xác câu hỏi tình huống đã xây dựng. Trong thực tế, có rất nhiều hình
ảnh, video thể hiện nội dung mà GV cần tìm kiếm. Bằng kinh nghiệm và trình độ hiểu biết,
GV phải chọn lọc, lấy những hình ảnh, video điển hình và ăn khớp với câu hỏi tình huống
đã xây dựng. Ví dụ như trong bài Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: Với việc tìm kiếm hình ảnh
cho câu hỏi “Hình ảnh nào sau đây là hình thức dân chủ trực tiếp, hình ảnh nào là hình thức
dân chủ gián tiếp?”, trên Internet, có rất nhiều hình ảnh diễn tả hai hình thức dân chủ cơ bản
này. Nếu GV lựa chọn hình ảnh không chính xác thì HS sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn
đáp án đúng, thậm chí tạo ra sự tranh cãi trong tiết dạy và HS cũng sẽ không trả lời được câu
hỏi tiếp theo của GV là “Hãy phân biệt sự khác nhau giữa hình thức dân chủ trực tiếp và dân
9
chủ gián tiếp?”. Hoặc nếu HS có thể trả lời được bằng cách đọc từ trong SGK ra thì cũng
không thể hiểu được cốt lõi nội dung vấn đề. Điều đó đã làm cho nội dung cần truyền đạt trở
nên khó hiểu, phức tạp. Và nghiêm trọng hơn là có thể làm méo mó, biến dạng nội dung cần
truyền đạt, làm mất đi tính khoa học của môn học.
- Thứ hai, sự kết hợp giữa phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại
phải đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc tiếp cận và xử lí
thông tin, tình huống: Trong một thế giới tràn ngập thông tin như hiện nay, cả GV và HS
đều có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau. GV GDCD phải có lập trường
tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phải mang trong mình phẩm chất của một người
cộng sản chân chính để xử lí thông tin và thiết kế THCVĐ kết hợp với hình ảnh, video cho
phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền đạt. Trong thực tế, ngoài những thông tin, sự
kiện mà GV cung cấp, HS thường hay nêu ra những thông tin, sự kiện không chính thống,
không ăn khớp với nội dung bài học, thậm chí còn trái ngược với nội dung kiến thức cần
truyền đạt. Điều này đòi hỏi GV phải xuất phát từ lập trường, quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam để chỉ cho HS
thấy rằng do có nhiều cách tiếp cận, phương pháp xử lí thông tin khác nhau nên có nhiều ý
kiến, thông tin trái chiều nhau. Từ đó, GV sẽ giúp HS có niềm tin vào bản thân, vào cuộc
sống và con đường phát triển của đất nước, tránh hoang mang, dao động.
- Thứ hai, sự kết hợp giữa phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại
nhằm là giáo dục tình cảm cách mạng và ý thức công dân cho HS: Đổi mới phương pháp
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD, làm cho HS hứng thú, thích thú với môn
GDCD nhưng suy cho cùng thì việc đổi mới này cũng nhằm giáo dục để các em trở thành
người công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Qua việc kết hợp THCVĐ với
những hình ảnh sống động, những đoạn video về những nghĩa cử cao đẹp, những câu
chuyện đời thường, các vấn đề về kinh tế-chính trị-xã hội trong nước và quốc tế… GV
GDCD sẽ định hướng cho HS về trách nhiệm của các em đối với bản thân, gia đình và xã
hội; có ý thức trách nhiệm trước tương lai của bản thân, trước các vấn đề lớn của dân tộc và
thời đại. Từ đó, GV khơi dậy những tình cảm trong sáng, những khát vọng, hoài bão, những
ước mơ lành mạnh ở HS, thôi thúc các em luôn vận dụng những tri thức đã học để lựa chọn
hành động theo lẽ phải. Ví dụ như trong bài Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường:
Để củng cố bài giảng, GV cho HS xem đoạn video “Cô bé 12 tuổi làm thế giới phải im lặng
11
trong 6 phút”. Qua video, các em vừa có thể củng cố trình độ tiếng anh của HS, kĩ năng nói
trước đám đông, vừa thấy được giá trị của tài nguyên và môi trường và trách nhiệm của bản
thân các em đối với Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đây cũng chính là ưu
đạm” hay video “Câu chuyện pháp luật”. … Ngược lại, nếu thông qua việc kết hợp đó mà
GV vẫn không làm rõ được cơ sở thực tiễn của tri thức, mà còn làm cho tri thức cần truyền
đạt trở nên phức tạp và khó hiểu hơn thì sẽ không tạo được niềm tin và sự hứng thú cho HS.
- Thứ hai, sự kết hợp giữa phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại
nhằm đảm bảo tính thực tiễn thông qua các hoạt động khác: Việc kết hợp giữa phương pháp
dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại không chỉ cứng nhắc trong việc sử dụng giáo án
điện tử mà nó còn diễn ra thông qua các hoạt động khác như tổ chức cho HS tham quan thực
tế; thực hành ngoài giờ lên lớp; giao các THCVĐ để HS về nhà tự giải quyết bằng các
phương tiện hiện đại như máy ảnh, máy quay phim, máy tính bảng, Internet… Chính những
hoạt động này sẽ tăng cường tính thực tiễn cho bài giảng. Để làm được điều này, ngoài việc
chuẩn bị về ý tưởng nội dung, hình thức hoạt động, phương tiện… đòi hỏi GV còn phải có
năng lực điều hành, tổ chức, quản lí. Ví dụ như trong bài Chính sách tài nguyên và bảo vệ
môi trường: Với câu hỏi tình huống: “Hãy tìm hiểu tình hình tài nguyên và môi trường ở địa
phương em?”, HS có thể sử dụng máy ảnh, máy quay phim, máy tính bảng, Internet… chụp
những tấm ảnh gây ô nhiễm môi trường ở các trại heo, hành vi xả rác ra đường của những
người dân thiếu ý thức, … để minh họa cho bài thu hoạch của mình.
* Đảm bảo tính vừa sức:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với
sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, GV GDCD phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm, trình
độ của HS nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của các em trong quá trình
lĩnh hội tri thức GDCD
Để phát huy tác dụng của nguyên tắc này, cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Thứ nhất, để kết hợp giữa phương pháp dạy học NVĐ với sử dụng PTDH hiện đại,
GV phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của HS: HS THPT thường ở lứa tuổi từ khoảng 15
đến 18 tuổi. Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, HS THPT được
tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa dạng và phong phú nên có nhiều sự thay đổi có tính gia
tốc về mặt tâm sinh lí. Những biến động về tâm sinh lí không chỉ tác động đến năng lực, thái
độ, tình cảm của HS trong quá trình học tập mà còn tác động đến sự định hình nhân cách
của các em. Do đó, trong quá trình tiến hành kết hợp, GV không chỉ xây dựng những tình
huống và lựa chọn những hình ảnh, video phù hợp với nội dung cần truyền đạt mà còn phải
làm HS gặp khó khăn, lúng túng và mất nhiều thời gian trong quá trình GQVĐ. Vì câu hỏi
14
tình huống này chỉ dành cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học, còn đối với HS THPT
thì câu hỏi này quá ngưỡng nhận thức.
Trong quá trình kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với sử dụng phương tiện
dạy học hiện đại để dạy môn GDCD, GV phải nắm vững và vận dụng một cách đồng bộ tất
cả các nguyên tắc trên. Mỗi nguyên tắc có một vị trí, vai trò nhất định và không ngừng bổ
sung, qui định lẫn nhau, không nên tuyệt đối hóa nguyên tắc này, coi thường nguyên tắc
khác. Và những nguyên tắc kết hợp trên được xây dựng trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc
dạy học nói chung và trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy của GV GDCD.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng của việc kết hợp
Để thực hiện mục tiêu đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và đào tạo đề ra, Ban giám
hiệu trường THPT Thống Nhất B đã có nhiều giải pháp và việc làm thiết thực để đôn đốc và
hỗ trợ toàn thể GV và HS thực hiện đổi mới PPDH như trang bị phương tiện dạy học hiện
đại, tổ chức thao giảng cấp trường, thực hiện mục tiêu 100% GVsử dụng thành thạo vi tính
bằng việc mở các lớp phụ đạo tin học cho toàn thể GV, thực hiện mục tiêu mỗi GV dạy hai
tiết bằng CNTT trong một học kì, …. bước đầu đã gặt hái được nhiều thành công.
Riêng đối với môn GDCD, ngoài việc khuyến khích GV GDCD thực hiện đổi mới
PPDH, Nhà trường cùng với Đoàn trường và GV GDCD đã nâng cao phẩm chất đạo đức, lý
tưởng cho HS; tuyên truyền phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội; giáo dục an toàn giao thông
qua lồng ghép trong các tiết học môn GDCD; tổ chức các buổi giao lưu với các chuyên gia
tư vấn, các buổi sinh hoạt dưới cờ, các buổi tọa đàm, các buổi hướng nghiệp và hoạt động
ngoài giờ lên lớp với các tình huống có vấn đề và các phương tiện nghe nhìn đầy sinh động
và thiết thực.
Đội ngũ GV GDCD của trường THPT Thống Nhất B trẻ và nhiệt huyết với nghề. Để
thực hiện đổi mới PPDH, GV GDCD đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học hiện đại vào
trong quá trình giảng dạy như phương pháp động não, phương pháp thảo luận nhóm,
phương pháp NVĐ, phương pháp dự án, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi.
Không những thế, GV GDCD còn tiến hành kết hợp phương pháp dạy hiện đại với phương
vẫn không gây được sự chú ý và tập trung của HS. Điều này làm GV mất tinh thần và hứng
thú giảng dạy, thậm chí không làm hết trách nhiệm của một GV GDCD.
2.2 Tiến hành thực nghiệm
2.2.1. Kế hoạch thực nghiệm
- Thứ nhất: Lựa chọn đơn vị kiến thức để thực nghiệm
16
Lớp 11A1 và 11A2: Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Thứ hai: Lựa chọn phương pháp dạy học để thực nghiệm
Lớp đối chứng 11A2: Sử dụng phương pháp dạy học truyền thống: Phương pháp
thuyết trình, phương pháp vấn đáp
Lớp thực nghiệm 11A1: Sử dụng phương pháp: Kết hợp phương pháp dạy học nêu
vấn đề với sử dụng PTDH hiện đại
- Thứ ba: Lựa chọn PTDH để tiến hành thực nghiệm
Lớp đối chứng 11A2: Sử dụng phương tiện bảng đen, bút dạ, phiếu học tập.
Lớp thực nghiệm 11A1: Sử dụng máy chiếu, máy tính, giáo án điện tử kết hợp với
các đoạn phim học tập và hình ảnh.
2.2.2. Giáo án thực nghiệm
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ
Em hãy nêu mục tiêu và phương hướng cơ bản của chính sách dân số ở nước ta? Hãy
liên hệ với tình hình dân số ở địa phương
3. Giới thiệu bài mới
GV nêu vấn đề: Qua video Sự nổi giận của voi, theo em, Đảng và Nhà nước ta cần
phải làm gì? Để trả lời vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu Bài 12
4. Giảng bài mới
BÀI 12: CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cơ bản
HĐ1: Tình hình tài nguyên và môi trường ở nước ta
hiện nay.
GV nêu vấn đề: Có ý kiến cho rằng: Nước ta có
HS: Đọc SGK, liên tưởng kiến thức đã học và trả
lời
GV: Nhận xét và kết luận.
GV nêu vấn đề: Video Sự nổi giận của voi, voi đã
quật chết người và phá hoa màu của người dân ở xã
Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu nên có ý kiến cho rằng
“Nên giết con voi này đi vì sự nguy hiển của nó”. Ý
kiến đó đúng hay sai? Theo em, chính quyền địa
phương nên làm gì?
HS: Sàng lọc, liên tưởng kiến thức đã học và trả lời
GV: Nhận xét và kết luận
Mục tiêu, phương hướng
cơ bản của chính sách tài
nguyên và bảo vệ môi
trường.
1. Mục tiêu.
- Sử dụng hợp lí tài nguyên.
- Bảo vệ môi trường.
- Bảo tồn đa dạng sinh học.
- Nâng cao chất lượng môi
trường.
- Góp phần phát triển kinh
tế xã hội, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân
dân.
2. Phương hướng cơ bản.
- Tăng cường công tác quản
tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên.
- Áp dụng công nghệ hiện
đại để khai thác tài nguyên
và xử lí chất thải.
III. Trách nhiệm của công
dân đối với chính sách tài
nguyên môi trường.
- Chấp hành chính sách và
pháp luật về bảo vệ tài
nguyên, môi trường.
- Tích cực tham gia vào các
hoạt động bảo vệ tài
nguyên, môi trường ở địa
phương.
20
5. Củng cố
Tổ chức trò chơi ô chữ: 8 ô chữ
Câu hỏi: Cách sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên? (Đáp án: Tiết kiệm)
2.2.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS ở các lớp thực nghiệm (TN) và
lớp đối chứng (ĐC) qua bài kiểm tra 15. Với kết quả như sau:
Bảng 2.10. Tổng phân phối điểm của lớp TN và ĐC
Lớp Điểm
Sĩ số
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN 42 0 0 0 0 2 3 10 18 7 2
ĐC 42 0 0 2 2 3 7 18 10 0 0
(Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở khảo sát tại trường THPT Thống Nhất B, huyện Thống Nhất,
tỉnh Đồng Nai năm học 2012-2013)
trình độ nhận thức, khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh để xây dựng THCVĐ cho phù
hợp, kích thích được óc tò mò, sự ham hiểu biết, sáng tạo và muốn khám phá của HS
- Để việc kết hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với sử dụng phương tiện dạy học
hiện đại đạt hiệu quả cao, GV không chỉ nắm vững bản chất của phương pháp dạy học
NVĐ, vì đây là phương pháp khó; mà còn phải có kiến thức tin học phổ thông, có khả năng
khai thác Internet, sử dụng thành thạo phần mềm Power Point và các PTDH khác như máy
chiếu projector, đầu overhead, đầu máy video,…
- Để đảm bảo tiến độ bài giảng, GV phải dự đoán, soạn thảo trước một số hướng HS
có thể đưa ra để GQVĐ, xác định phương án nào là tối ưu và phù hợp với nội dung bài
giảng nhất. Bên cạnh đó, GV cần xác định rõ thời gian cho từng phần mục của bài giảng để
đảm bảo không “cháy” giáo án.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc kết hợp
Hoàn thiện THCVĐ và dự kiến hướng GQVĐ của HS
Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện bài giảng
Multimedia hóa kiến thức
22
3.1. Về phía giáo viên
3.1.1. Nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên
Tri thức môn GDCD phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” là những tri
thiết thực, tổng quát nên GV phải có kiến thức uyên thâm, phải nắm vững tri thức của các
ngành học cơ bản như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Chính trị học, … và phải
thường xuyên cập nhật thông tin mới, hiện đại để tránh khỏi sự lạc hậu về thông tin, kiến
thức trong thời đại bùng nổ thông tin.
GV phải làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác, khoa học,
có hệ thống; vận dụng hợp lí các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, thiết thực, hiện
đại, thực tiễn. Để làm được điều đó, GV phải luôn tìm tòi, nghiên cứu thêm các tài liệu; tự
học tập, bồi dưỡng cả về kiến thức bộ môn và cả hệ thống kiến thức có liên quan tới nội
dung bài giảng
GV phải thấy được vị trí, vai trò, nhiệm vụ của môn GDCD nói chung và GDCD
phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” nói riêng đối với sự phát triển của đất
dụng PTDH một cách tùy tiện, gây lãng phí thời gian và công sức của thầy- trò, làm phản
tác dụng giáo dục.
3.1.3. Nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên
Để nâng cao chất lượng dạy học, ngoài việc nắm vững chuyên môn, GV còn phải có
“nghệ thuật” trong giảng dạy. Đó chính là nghệ thuật dẫn dắt, khơi gợi vấn đề, gợi dạy niềm
đam mê và khao khát khám phá tri thức của mỗi HS. Đó cũng chính là kĩ năng giao tiếp:
nói, nghe, đọc, viết. Trong đó, kĩ năng nói giữ một vị trí quan trọng trong việc truyền thụ
kiến thức. Ngôn ngữ của GV phải ngắn gọn, trong sáng, giàu hình ảnh có ngữ điệu, biểu
cảm có màu sắc cảm xúc, phát âm mạch lạc, chính xác không có những sai phạm tu từ học
về ngữ pháp và ngữ âm học. Khi giảng bài, GV nên có sự biểu cảm của nét mặt, điệu bộ
kèm theo cường độ của giọng nói khác nhau để đạt được mục đích của bài giảng.
Ngoài tư thế, tác phong lên lớp, GV còn phải tạo dựng một môi trường học tập gần
gũi, một không gian học tập thân thiện, không gò ép, áp đặt và phát huy được tích tích cực
của HS. Để làm được điều đó, GV cần phải lắng nghe các câu hỏi, câu trả lời hoặc lời nhận
xét của HS. Sự quan tâm tới những điều HS nói của GV sẽ làm cho HS phấn khởi và tự tin
hơn. Niềm tin, sự tôn trọng, sự động viên, khích lệ là công cụ hữu hiệu để kích thích tư duy
sáng tạo của HS. Bên cạnh đó, GV phải vừa là nhà cố vấn tài ba, vừa là một trọng tài xuất
sắc trong việc hướng dẫn HS GQVĐ bằng cách khéo léo đặt ra những câu hỏi để kích thích