Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH catel” - Pdf 41

Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính
LỜI NÓI ĐẦU

Toàn cầu hoá nền kinh tế luôn tạo ra những cơ hội và thách thức cho các thành
phần kinh tế của mỗi quốc gia. Các nước, các khu vực trên thế giới ngày càng
chuyên môn hoá sản xuất và phụ thuộc lẫn nhau thông qua sự phát triển của con
đường trao đổi thương mại. Điều này thúc đẩy xu hướng hoà bình, ổn định và hợp
tác để cùng nhau phát triển.
Xu thế này đã có tác dụng khơi thông mọi nguồn vốn trong nền kinh tế kể cả trong
nước và ngoài nước, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khai thác, huy động vốn
phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình. Tuy nhiên cũng chính vì vậy đã tạo ra
sức ép và động lực buộc mọi doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn.
Vốn kinh doanh có thể đựoc chia làm hai bộ phận gồm: vốn cố định là bộ phận vốn
đầu tư vào tài sản cố định gắn với quyết định đầu tư cơ bản và bộ phận vốn lưu
động là vốn đầu tư tạo ra tài sản lưu động nhằm phục vụ cho sự vận hành tài sản cố
định, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường
xuyên, liên tục và đạt mục tiêu đề ra với hiệu quả cao.
Vì vậy nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng
nhằm đảm bảo cho đồng vốn đầu tư và tài sản lưu động được sử dụng hợp lý, tiết
kiệm, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói
chung, nên trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Catel, em đi sâu vào nghiên
cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty
TNHH Catel”.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I. Tổng quan về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong
DN.
Chương II. Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH Catel.


1.1.1. Khái niệm vốn lưu động
* Khái niệm:
Vốn lưu động trong kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh xuất nhập
khẩu nói riêng có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động , phát triển của
từng loại hình doanh nghiệp theo luật định.
Công ty TNHH Catel là đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động thương mại. Trong
công ty vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn (80%), trong đó vốn cố định chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ (20%).
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông. vốn
lưu động được sử dụng hoàn toàn trong mỗi vòng lưu chuyển của lưu thông hàng
hoá hoặc trong mỗi chu kỳ sản xuất, dịch vụ phụ thuộc. Dưới góc độ tài sản thì vốn
lưu động sử dụng để chỉ những tài sản lưu động- hay vốn lưu động chính là giá trị
TSLĐ
Tài sản lưu động là những tài sản có thể biến thành tiền mặt trong thời gian ngắn
và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối tài sản thì tài sản lưu động thường biểu hiện dưới các bộ phận
là: tiền mặt , các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự
trữ tồn kho.
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại gồm có:
- Vốn bằng tiền như: tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quỹ, các khoản phải thu ở
khách hàng, tiền mặt tạm ứng mua hàng ...
- Các tài sản có khác như : Bao bì, vật liệu bao gói ; phế liệu thu nhặt, vật liệu phụ,
dụng cụ, phụ tùng, công cụ nhỏ dùng trong kinh doanh...
Trong các doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động luôn chiếm một tỷ lệ lớn so
với tổng số vốn kinh doanh ( thường chiếm 70 - 80% vốn kinh doanh ).
SVTH: Nguyễn Thị lan

1


(2) TSCĐ của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn
dài hạn không?
1.1.2. Phân loại vốn lưu động
Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được phân thành hai loại:

SVTH: Nguyễn Thị lan

2

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

+ Vốn thực: là toàn bộ hàng hoá phục vụ cho sản xuất và dịch vụ như máy móc
thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu , bộ phận này phản ánh hình thái vật thể của
vốn và tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh...
+ Vốn tài chính: biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, chứng khoán, và các giấy tờ có
giá khác sử dụng cho việc mua tài sản, máy móc, nguyên vật liệu... bộ phận này
phản ánh phương diện tài chính của vốn. Nó tham gia gián tiếp vào hoạt động kinh
doanh thông qua hoạt động đầu tư
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn :
+ Vốn hữu hình: bao gồm tiền, chứng khoán , tài sản biểu hiện như : máy móc ,
nhà máy...
+ Vốn vô hình: bao gồm những tài sản vô hình như vị trí cửa hàng, uy tín kinh
doanh, danh hiệu sản phẩm, bản quyền phát minh...
- Căn cứ vào phương thức luân chuyển giá trị vốn chia làm hai loại:

kinh doanh. Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì vốn đầu tư được bảo toàn và phát
triển, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển cả bề
sâu và bền rộng.
Vốn quyết định mức độ trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng các thành
tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh, quyết định khả năng đổi mới máy móc
trang thiết bị, quy trình công nghệ, phương pháp quản lý mới trong doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp mới có thể liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng, mẫu mã
sản phẩm, tăng năng suất lao động. Vốn lưu động được xem là lượng tiền đầu tư
để tạo ra TSLĐ của doanh nghiệp. Vì vậy nó là điều kiện vật chất không thể thiếu
được của quá trình tái sản xuất. Vốn lưu động được xem là lượng tiền ứng trước
nhưng nó lôn vận động chuyển hoá và biểu hiện dưới các hình thức khác nhau. Nó
tồn tại ở tất cả các khâu từ khâu dự trữ, sản xuất đến tiêu thụ nhờ vậy nó đảm bảo
cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục.
Nếu doanh nghiệp thiếu vốn lưu động thì việc tổ chức sử dụng vốn lưu động sẽ gặp
khó khăn và quá trình sản xuất bị gián đoạn. Vốn lưu động tồn tại ở tất cả các khâu
và sự vận động của nó phản ánh qua sự vận động của vật tư quyết định, do đó
quản lí vốn lưu động liên quan đến các khâu, các bộ phận và giúp cho doanh
nghiệp kiểm tra đánh giá quá trình dự trữ, sản xuất của doanh nghiệp. Vốn lưu
động nói riêng và vốn kinh doanh nói chung trong các doanh nghiệp thương mại
nó có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình
doanh nghiệp theo luật định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh, cũng như phương
thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên gọi là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước , doanh nghiệp liên
doanh vv.
Vì vậy cần phải quản lí sử dụng một cách hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ có hiệu quả
sao cho suất sinh lợi của đồng vốn là cao nhất và đây cũng là mục tiêu chủ yếu của
doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị lan

4

theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn lưu động.
Trong quá trình vận động vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong 1
lần, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi
hình thái biểu hiện, từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư
hàng hoá dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán
thành phẩm và thành phẩm. Sau khi sản phẩm được tiêu thụ vốn lưu động lại trở về
hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó sau mỗi chu kỳ tái sản xuất vốn
lưu động mới hoàn thành một vòng chu chuyển.
Trong các doanh nghiệp quá trình sản xuất kinh doanh luôn được diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc vốn lưu động của
doanh nghiệp được phân bổ trên các giai đoạn luân chuyển, tồn tại dưới các hình
SVTH: Nguyễn Thị lan

5

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất diễn ra, doanh nghiệp phải có đủ
vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau bảo đảm cho việc chuyển hoá
hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.
Xuất phát từ các yêu cầu và đặc điểm trên của vốn lưu động, đòi hỏi trong quá
trình quản lý và sử dụng vốn lưu động cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau:
+ Phải xác định được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và cần thiết tối thiểu cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh hiện tượng ứ đọng vốn gây trở ngại hoặc gián


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem
xét.
Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả
là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đựoc kết quả đó. đứng trên
góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả trong phạm trù vì lợi nhuận.
Nếu đứng trên góc độ sử dụng lao động xem xét thì hiệu quả sử dụng lao động thể
hiện trên 4 chỉ tiêu: hệ thống sử dụng về số lượng, về thời gian về tính toán ra đựơc
những chỉ tiêu con số cụ thể. Trừu tượng ở chỗ nó yêu cầu chúng ta phân tích và
chỉ ra được vai trò, tác dụng của những chỉ tiêu ấy.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được tính bằng cách so sánh kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra.
Đứng từ góc độ kinh tế nhìn nhận thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được
hiểu bằng lợi nhuận tối đa. Trong quá trình sản xuất kinh doanh một trong các yếu
tố của quá trình sản xuất kinh doanh được thể hiện dưới hình thức của hai loại vốn:
vốn cố định và vốn lưu động. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất là biện pháp
quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động thường đánh giá qua chỉ tiêu tổng hợp là tỷ
lệ doanh lợi vốn lưu động.
L.nhuận
D.thu
*
D.thu
VLĐbq


Khoa Tài
chính

vốn lưu động, đó chính là thời gian chu chuyển từ hình thái tiền tệ ban đầu sang
hình thái vật chất để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh và chuyển về hình
thái ban đầu để tiếp tục vòng chu chuyển mới.
Nó thể hiện chất lượng và hiệu quả công tác quản lý vốn lưu động trong việc rút
ngắn chu kỳ vận động của tiền mặt thông qua việc quản lý tốt sự vận động của vồn
ở tất cả các khâu.
Chu kỳ vận động của tiền mặt là độ dài thời gian từ khi thanh toán khoản mục hàng
hoá đến khi thu tiền được từ những khoản mục phải thu do việc bán sản phẩm cuối
cùng.
Từ sự vận động của vốn lưu động ta có công thức sau:
Chu kỳ
Vận động
của tiền mặt

thời gian
=

vận động

thời gian
+

của hàng hoá

thời gian


=

Khoản phải thu
Chi mua trong năm

*360

Là độ dài thời gian trung bình từ khi mua hàng khác đến khi thanh toán những
khoản đó.
Giảm chu kỳ vận động của tiền mặt là mục tiêu của quản lý vốn lưu động,vì nó cho
phép giảm nhu cầu vốn lưu động, tăng vòng quay vốn và giảm chi phí sử dụng
vốn. Doanh nghiệp có thể sử dụng giảm chu kỳ vận động của tiền mặt bàng cách:
SVTH: Nguyễn Thị lan

8

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

- Giảm thời gian vận động của hàng hoá bằng cách đầu tư đổi mới công nghệ,
trang thiết bị máy móc, phương tiện vận chuyển, kho tàng bến bãi
- Giảm thời gian thu hồi các khoản phải thu bằng việc tăng tốc độ thu hồi tiền bán
hàng, đồng thời có chính sách bán hàng và thu tiền hữu hiệu.
- Kéo dài thời gian chậm trả những khoản phải trả bằng việc trì hoãn thanh toán
những hoạt động cần được tiến hành trong chừng mực mà không là tăng chi phí và


SVTH: Nguyễn Thị lan

9

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh đồng vốn
được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại mấy đồng doanh
thu.

Vòng quay toàn bộ vốn

Doanh thu thuần
Tổng số vốn

=

* Các chỉ tiêu đánh giá sự luân chuyển của vốn lưu động:
- Số vòng quay của vốn lưu động:
Số vòng quay của vốn lưu động

Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân

V1/2 + V2 + V3 + ...+Vn/2
(n-1)

=

=
V1, V2... là vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng.

SVTH: Nguyễn Thị lan

10

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

- Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán: các chỉ têu này phản ánh chất
lượng của công tác quản lý vốn lưu động ảnh hưởng đến tình hình tài chính ngắn
hạn và vị thế tín dụng của công ty
(1) Khả năng thanh toán hiện thời.
Khả năng thanh toán hiện thời

Tổng tài sản lưu động
Tổng nợ ngắn hạn

=

1.3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.3.3.1. Những nhân tố khách quan.
* Tỷ giá hối đoái.
SVTH: Nguyễn Thị lan

11

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau. Nó đặc
biệt quan trọng đối với doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu.
Việc tính toán tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu rồi so sánh với tỷ giá hối đoái do
ngân hàng Nhà nước công bố là công cụ hữu hiệu để quyết định các thương vụ
kinh doanh. Nếu tính toán sai công ty sẽ ký kết, thực hiệ các hợp đồng xuất nhập
khẩu không có lợi dẫn đến sử dụng vốn không có hiệu quả, không bảo toàn và phát
triển được vốn. Hơn nữa tỷ giá hối đoái biến động thường xuyên rất lớn đến hoạt
động kinh doanh.
* Tiền tệ trong thanh toán quốc tế.
Trong các hiệp định và hợp đồng nhập khẩu đều có quy định điều kiện tiền tệ, chỉ
sử dụng loại tiền nào và cách xử lý khi đồng tiền đó bị biến đổi. Nếu doanh nghiệp
nhập khẩu có thể sử dụng đồng tiền của nước mình để thanh toán thì doanh nghiệp
không phải sử dụng đến ngoại tệ, tránh được rủi ro tỷ giá tiền tệ nước ngoài biến
động gây ra cho việc kinh doanh.

cũng như định hướng cho nó trong suốt quá trình tồn tại. Với một ngành nghề kinh
doanh đã được chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên
về tài chính gồm:
* Cơ cấu vốn của công ty thế nào là hợp lý, khả năng tài chính của công ty ra sao.
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào, mức độ hiện đại hoá nói chung so với
đối thủ cạnh tranh đến đâu.
+ Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay đổi số lợi
nhuận dành cho chủ sở hữu của công ty.
+ Nguồn tài trợ cho những tài sản đó được huy động từ đâu, có đảm bảo lâu dài
cho sự hoạt động an toàn của công ty hay không.
+ Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tự xác định được
mức độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và phát triển thị trường trong
tương lai, sự đổi mới và đa dạng hoá trong sản phẩm kinh doanh... để có kế hoạch
bố trí nguồn lực một cách phù hợp.
* Mối quan hệ của doanh nghiệp: Mối quan hệ này được đặt trên hai phương diện
là quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp
với nhà cung cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất,
khả năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hoá tiêu thụ... là những vấn đề trực tiếp
tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
* Trình độ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp:
Yếu tố này được xem xét trên hai khía cạnh là trình độ tay nghề của công nhân
sản xuất và trình độ quản lý của lãnh đạo các cấp. Nó quan trọng ở chỗ phản ánh
theo chiều sâu phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt trong kinh doanh xuất nhập
khẩu thì các cán bộ cần có sự hiểu biết về thương mại quốc tế và trình độ ngoại
ngữ càng nhiều càng tốt.

SVTH: Nguyễn Thị lan

13


Khoa Tài
chính
CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH CATEL

2.1. Tổng quan về Công ty TNHH Catel
2.1.1. Giới thiệu khái quát về công ty
- Tên đơn vị thực tập: Công ty TNHH Catel.
- Địa chỉ: Số 3 Nguyễn Biểu, phường Quán Thánh, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội.
- Người đại diện: Nguyễn Thị Hoa Ngân
- Điện thoại: 04.6267.3838
- Fax: 04.6272.3838
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Catel được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
công ty TNHH số 0106105757 của sở kế hoạch đầu tư TP. Hà Nội ngày
05/02/2008. Trụ sở chính của công ty được đặt tại số 3 Nguyễn Biểu, phường
Quán Thánh, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội.
Từ khi thành lập công ty đã nhanh chóng đi vào ổn định hoạt động kinh doanh,
không ngừng tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu tổ chức quản lý. Với
phương châm “lấy chữ tín làm đầu” Công ty đã nhanh chóng lấy được uy tín với
bạn hàng trong và ngoài nước.
Trong thời gian hoạt động từ 02/2008 tới nay, công ty đã không ngừng lớn mạnh
và tạo ra nhiều việc làm nâng cao thu nhập người lao động, đóng góp ngày càng
tăng cho ngân sách nhà nước, với sự năng động của ban lãnh đạo trong việc phát
triển và xâm nhập thị trường hiện nay công ty đã trở thành một trong nhưng doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả trong việc cung cấp tư liệu sản xuất và tiêu dùng ở Việt
Nam.
2.1.3.Lĩnh vực hoạt động của công ty
Công ty chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sau:


Cửa hàng
số 1

Phòng Tài
chính kế
toán

Cửa hàng
số 2

Phòng Kinh
doanh

Cửa hàng
số 3

(Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính)
Giám đốc công ty: Là đại diện pháp nhân của công ty chịu trách nhiệm về kết quả
kinhh doanh của công ty. Giám đốc có quyền quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý của công ty theo nguyên tắc đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả.
Phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc công ty, được chỉ định thay thế
để điều hành khi giám đốc đi vắng và chịu trách nhiệm trước giám đốc.
Phòng tổ chức hành chính: Làm công tác hành chính, tổ chức cán bộ, bảo vệ, lao
động tiền lương, là bộ phận trung gian truyền đạt, xử lý thông tin từ cơ quan cấp
trên.
SVTH: Nguyễn Thị lan

16



17

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

Bảng 2.1. Tình hình tài sản của công ty TNHH Catel
Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2012
Tỷ
Chỉ tiêu

Số tiền

trọng
(%)

Tổng vốn lưu

Năm 2013

Số
tiền

Tỷ


lệ

(%)

(+/-)

3479

100

5991

100

9113

100

+2512

+ 72,2

+3122 +52,11

Tiền mặt

1139

32,74


+291,9

+2211 +47,8

1160

33,34

1181

19,71

1698

18,64

+21

+18,1

+517

động

Các khoản
phải thu

+212,9



Đây cũng là điều đáng mừng, góp phần rút ngắn chu kỳ kinh doanh, thời
gian vốn lưu động trong kinh doanh.
2.2.2. Phân tích xu hướng và triển vọng huy động vốn lưu động
* Xu hướng huy động vốn
Để biết được tình hình tài trợ vốn lưu động của công ty ta có thể sử dụng chỉ tiêu
nhu cầu vốn lưu động qua một số năm gần đây của công ty.
Trong hoạt động kinh doanh, mỗi chu kỳ kinh doanh Doanh nghiệp xuất hiện nhu
cầu tài trợ như: nhu cầu về dự trữ hàng tồn kho, phải thu của khách hàng, trả trước
cho người bán, một phần nhu cầu này sẽ được đảm bảo bằng nguồn vốn phát sinh
trong kỳ kinh doanh - thường là các nguồn vốn được chiếm dụng một cách hợp
pháp như nợ phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản
phải nộp, các khoản phải trả phải nộp khác. Do vậy ta chỉ xác định nhu cầu vốn lưu
động mà Công ty thực sự phải có kế hoạch tài trợ bằng vốn lưu động thường
xuyên.
Để xem xét cách thức tài trợ nhu câù vốn lưu động của công ty ta có thể sử dụng
chỉ tiêu vốn lưu động thường xuyên là vốn lưu động được tài trợ bằng tài sản lưu
động gồm tiền mặt, tồn kho và các khoản phải thu.
Nhu cầu vốn lưu động ròng = Nhu cầu theo chu kỳ – Nguồn vốn theo chu kỳ

SVTH: Nguyễn Thị lan

19

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài

1181
248
4379
3775
604
1860

2014
9759
579
6836
1698
646
7028
6926
102
2731

Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán
Ta thấy nhu cầu vốn lưu động của Công ty luôn tăng qua các năm, cụ thể là 3.725
triệu đồng (năm 2012), 6.239 triệu đồng( năm 2013) và 9759 triệu đồng( năm
2014). Chứng tỏ Công ty luôn cần nhiều vốn lưu động để phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của mình.
Để xem xét cách thức tài trợ nhu cầu vốn lưu động của Công ty, ta có thể sử dụng
chỉ tiêu VLĐtx là vốn lưu động được tài trợ bằng tiền mặt , hàng tồn kho và các
khoản phải thu.
VLĐtx = Nguồn vốn dài hạn - Tài sản CĐ ròng = TS lưu động - Nợ ngắn hạn

SVTH: Nguyễn Thị lan


2013
5991
185
4625
1181
4845
1146
1860

2014
9113
579
6836
1698
7098
2015
2731

(Nguồn: Trích báo cáo tài chính của Công ty TNHH Catel các năm 2012, 2013, 2014 )

Qua bảng số liệu trên ta thấy VLĐtx của công ty qua các năm là tương đương so với
nhu cầu vốn lưu động của công ty. Như vậy cho ta thấy công ty luôn đáp ứng
được nhu vốn trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh nhu cầu vốn của
công ty tăng dần qua các năm, nhưng VLĐtx cũng đáp ứng được cụ thể là năm 2012
nhu cầu vốn lưu động là 743 triệu đồng và V LĐtx là 379 triệu đồng, năm 2013 nhu
cầu vốn lưu động là 1860 triệu đồng và VLĐtx là 1146 triệu đồng, sang đến năm
2014 thì nhu cầu vốn lưu động là 2731 và VLĐtx là 2015 triệu đồng.
Vậy thì công ty đã đảm bảo nhu cầu vốn lưu động bằng các nguồn tài trợ để đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty.
Bảng 2.4. Cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của công ty qua các năm

100
325
17,4
433
15,8
1535
82,6 2298 84,2

(Nguồn: Trích báo cáo tài chính của Công ty TNHH Catel các năm 2012, 2013, 2014 )

Qua số liệu trên ta thấy nguồn vốn ( vốn chủ sở hữu) có tài trợ cho nhu cầu vốn lưu
động của công ty chiếm tỷ trọng rất nhỏ cụ thể qua các năm như sau: năm 2012 là

SVTH: Nguyễn Thị lan

21

Lớp: TC24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

30,9 % năm 2013 là 17,4% và năm 2014 là 15,8% trong tổng nhu cầu vốn lưu
động.
Một cách tổng quát cho ta thấy nhu cầu vốn lưu động của công ty được taì trợ
bằng nguồn vốn vay ngắn hạn trong tổng nhu cầu vốn lưu động chiếm 69,1% năm
2012, 82,6% vào năm 2013 và 84,2% vào năm 2014.



Luận văn tốt nghiệp

Khoa Tài
chính

Bảng 2.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của Công ty qua các
năm
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu

2012

2013

2014

1. Doanh thu thuần

3827

22167

25517

2. Vốn lưu động bình quân (trong kỳ)

3479


nhìn chung thường thay đổi qua các năm. Năm 2013 và năm 2014 hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của công ty còn tương đối cao nhưng năm 2012 thì lại giảm, cụ
thể là năm 2013 thì cứ 1 đồng vốn lưu động bỏ ra thì tạo ra được 3.7 đồng doanh
thu nhưng năm 2012 thì 1 đồng vốn lưu động bỏ ra thì chỉ tạo ra được 1.1 đồng
doanh thu và bước sang năm 2014 thì 1 đồng vốn bỏ ra lại tạo được 2.8 đồng
doanh thu. điều này ảnh hưởng đến tốc độ vòng quay của vốn cũng thay đổi theo
như: năm 2012 thì tốc độ vòng quay là 327 ngày, năm 2013 thì tốc độ này tăng lên
còn 97 ngày và sang năm 2014 thì tốc độ này lại giảm và mất 128 ngày. So sánh
năm 2012, 2013 và năm 2014 thì doanh thu lại tăng lên rất nhiều, nhiều hơn tốc độ
tăng của vốn lưu động, do đó đã làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công
ty.
Sự tăng lên rất nhỏ của số vòng quay vốn lưu động làm tăng một lượng doanh thu
khá lớn. Như vậy việc tăng vòng quay của vốn lưu động có ý nghĩa rất lớn trong
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty .
Chỉ tiêu hệ số đảm nhận vốn lưu động là khá thấp: năm 2013 là 0,27 lần, năm 2014
là 0,36 lần chỉ riêng năm 2012 hệ số này là tăng lên 0,91 lần. Nhìn chung với hệ số
thì công ty ngày càng sử vốn lưu động có hiệu quả cao
SVTH: Nguyễn Thị lan

23

Lớp: TC24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status