Làng bản của người nùng ở huyện bình gia tỉnh lạng sơn (1986 2013) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ HOÀI THU

LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG
Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN
(1986 - 2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ HOÀI THU

LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG
Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN
(1986 - 2013)

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN


ban ngà nh đoà n thể trong huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp tư
liệu để tá c giả hoàn thà nh luận văn. Tá c giả xin chân thà nh cả m ơn nhữ ng
nhâ ̣n xét, đá nh giá củ a Hội đồ ng khoa ho ̣c bả o vê ̣ luâ ̣n văn.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biế t ơn sâu sắ c tới gia điǹ h, ba ̣n bè,
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá triǹ h ho ̣c tâ ̣p và hoàn
thành luâ ̣n văn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hoài Thu

ii


MỤC LỤC
Trang

Trang bìa phụ
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục .............................................................................................................. iii
Danh mục các bảng ........................................................................................................... iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................... 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...................................................... 4
5. Đóng góp của đề tài .......................................................................................... 4
6. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................ 5
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN ...... 6
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .................................................................. 6

3.3.1 Gia đình ..................................................................................................... 77
3.3.2 Dòng họ ..................................................................................................... 80
3.3.3 Tổ chức làng .............................................................................................. 81
3.4 Biến đổi về kinh tế ........................................................................................ 82
3.5. Biến đổi về văn hóa ..................................................................................... 86
3.6 Những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tích cực của làng bản
người Nùng trong việc xây dựng đời sống văn hóa hiện nay. ............................ 90
KẾT LUẬN........................................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ 99
PHỤ LỤC ..............................................................................................................

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 1.1: Bảng thống kê dân số theo thành phần dân tộc ................................. 13
Bảng 1.2: Bảng thống kê các dân tộc phân bố ở các xã, huyện Bình Gia ......... 16
Bảng 1.3 Tổng diện tích ruộng đất huyện Bình Gia. ......................................... 17
Bảng 2.1 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Nà” ........................................... 24
Bảng 2.2 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Khuổi” ...................................... 26
Bảng 2.3 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Bản” ......................................... 27

iv


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Làng là một yếu tố cấu thành nên đất nước cho nên trong suốt chiều dài

Nghiên cứu về người Nùng ở Việt Nam nói chung và người Nùng Lạng
Sơn nói riêng từ trước đến nay đã có nhiều công trình đề cập đến, chủ yếu trên
các mặt đời sống vật chất và tinh thần, còn vấn đề làng bản của đồng bào còn
ít được quan tâm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả cũng đã
tiếp cận được một số công trình đề cập đến vấn đề trên một cách trực tiếp hay
gián tiếp.
Cuốn “Dân tộc Nùng ở Việt Nam” của Hoàng Nam xuất bản năm 1992
và cuốn “Văn hóa truyền thống Tày – Nùng” xuất bản năm 1993 của nhóm tác
giả Hoàng Quyết, Ma Khánh Hoàn, Hoàng Huy Phách, đã nghiên cứu khá toàn
diện về nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của hai dân tộc Tày – Nùng
trên đất nước Việt Nam.
Năm 1992, Viện dân tộc học xuất bản “Các dân tộc Tày Nùng ở Việt
Nam” đã giới thiệu chi tiết về hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam.
Năm 1998, nhóm tác giả Hoàng Hoa Toàn – Đàm Thị Uyên “Nguồn gốc
các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam”, tạp chí dân tộc học số 2 đã làm rõ về
nguồn gốc của hai dân tộc Tày Nùng.
Năm 2003, tác giả Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn cho xuất bản cuốn
sách “Người Nùng”, đã giới thiệu những nét cụ thể về người Nùng trên các mặt
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Nùng.
Trong tác phẩm “Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” của GS.TS.
Ngô Đức Thịnh (2006) đã đề cập đến nhiều khía cạnh của tộc người Tày –
Nùng như khía cạnh sinh tồn, văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày Nùng, đặc biệt đã đề cập đến những yếu tố làng bản của đồng bào.
Năm 2010, tác giả Đàm Thị Uyên xuất bản “Văn hóa dân tộc Nùng ở
Cao Bằng” đã làm sáng tỏ điều kiện địa lí tự nhiên, nguồn gốc tộc người, văn
hóa ứng xử (cộng đồng làng bản, dòng họ, gia đình, hôn nhân...) và văn hóa vật
chất (ăn uống, nhà cửa, trang phục) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng cổ truyền,
các lễ hội...) của người Nùng ở Cao Bằng.
2





về những yếu tố văn hóa đặc trưng trong đời sống vật chất và tinh thần của dân
tộc Nùng. Tác giả đề tài cũng mong muốn đóng góp vào quá trình xây dựng
nông thôn mới và làng bản văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số của
huyện Bình Gia trong giai đoạn hiện nay.
- Đối tượng nghiên cứu: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các thành phần
dân tộc, cơ cấu tổ chức làng bản cùng những biến đổi của làng bản của người
Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn từ 1986-2013.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu làng bản của dân tộc Nùng ở huyện
Bình Gia tỉnh Lạng Sơn từ 1986 đến 2013.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: thực hiện đề tài này, tác giả đã tiếp cận được với nhiều
tác phẩm, tài liệu có liên quan đến làng xã cổ truyền và các dân tộc thiểu số
Việt Nam, đặc biệt là về dân tộc Nùng. Đồng thời dựa vào các thống kê số liệu
đã được xuất bản, các báo cáo, tài liệu của các cơ quan chuyên môn ở Ủy ban
nhân dân huyện, xã. Đặc biệt, quan trọng hơn cả là tư liệu điền dã mà tác giả
sưu tầm được qua nghiên cứu thực tế ở địa điểm đã lựa chọn.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp được sử dụng trong đề tài là
phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp điền dã khai thác tài
liệu địa phương, phương pháp thống kê, tổng hợp.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tổ chức làng bản của người
Nùng ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm sự hiểu biết về người Nùng ở
Bình Gia về các lĩnh vực đời sống kinh tế và văn hóa; sự biến đổi của làng bản
qua các giai đoạn lịch sử.
Đề tài sẽ góp thêm cơ sở khoa học cho việc thực hiện các chính sách của
chính quyền địa phương các cấp nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như đời
sống tinh thần của đồng bào Nùng và sự phát triển chung của địa phương.

Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng
Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn.
Phía Tây giáp huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn.
Bình Gia là huyện có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh
quốc phòng. Bình Gia có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thành phố Lạng Sơn với
Thành phố Thái Nguyên, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa. Ngoài
ra còn có Quốc lộ 279 nối liền Bình Gia với Na Rì - Bắc Kạn, các mặt hàng
nông sản thực phẩm của Bình Gia có thể qua tuyến đường này cung cấp cho
thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thủ đô Hà Nội cũng như các khu dân cư
tập trung khác. Về quốc phòng an ninh, Bình Gia có vị trí đặc biệt quan trọng.
Trong kháng chiến chống Pháp Bình Gia là căn cứ địa cách mạng, chiến thắng
Bình Gia vang dội góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Trong chiến tranh
Biên giới tháng 2/1979, Bình Gia là tuyến phòng thủ thứ 2 đặc biệt quan trọng
trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới phía Bắc Việt Nam.
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Bình Gia có tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha, trong đó 2/3 diện
tích là đồi núi, 1/3 là đất ruộng, vườn nương canh tác. Địa hình Bình Gia bị
chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có

6


độ dốc từ 25- 30 trở lên. Xen với những lớp đất trải rộng ra phía Đông và phía
Bắc là những cánh đồng và thung lũng khe suối nối tiếp nhau thành các lòng
máng ngắn. Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích
cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu không cao.
Bình Gia có ngọn núi Phia Ngàm (Yên Lỗ) cao 1.193m và ngọn Slam
Táng (Hưng Đạo) cao 1.400m. Bình Gia có nhiều đồng cỏ xanh tốt thuận lợi
cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, dê... Các loại gia súc này
không những đảm bảo cung sức kéo, thực phẩm trong huyện mà còn có thể

nhiên do biên độ nhiệt dao động giữa các mùa lớn, mùa khô kéo dài, chế độ
mưa tập trung đã gây nên những hiện tượng hạn hán, xói mòn trên đất dốc, mùa
đông lạnh có sương muối vào khoảng tháng 11, 12, ảnh hưởng khá lớn đến sản
xuất nông nghiệp của người dân.
Huyện Bình Gia có sông Bắc Giang (sông Văn Mịch) chảy qua với chiều
dài trên 50km là nguồn nước, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, tại
đây có thể xây dựng nhà máy thủy điện … Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có
sông Pắc Khuông chảy qua và có hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố ở khắp
các xã là nguồn cung cấp chủ yếu nước sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới
cho sản xuất. Hệ thống sông suối, hồ đập dải đều khắp trên địa bàn huyện nên
thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thủy lợi. Bình Gia có hồ Phai Danh (Văn
Thụ) rộng 13 – 15 ha có sức chứa 3,3 triệu m3 cung cấp nước cho sinh hoạt và
sản xuất cho một số xã xung quanh thị trấn Bình Gia.
Bình Gia là một huyện nghèo khoáng sản, chỉ có đá vôi và cát sông, có
khả năng khai thác sử dụng làm đường giao thông và xây dựng của nhân dân.
Trên địa bàn huyện Bình Gia có mỏ than bùn ở xã Hoàng Văn Thụ, trữ lượng
khoảng vài trăm ngàn tấn có thể khai thác để sản xuất phân vi sinh mang lại
nguồn thu đáng kể trong nền kinh tế trên địa bàn huyện. Ngoài ra, huyện còn có
một số kim loại quý như vàng sa khoáng (ở khu vực xã Tân Văn, Hồng Phong),
quặng sắt, Ăngtymol (ở xã Hoa Thám), tuy nhiên trữ lượng nhỏ không đáng kể.
Bình Gia còn có một khối lượng đá vôi lớn tập trung ở các xã Tô Hiệu, Tân
Văn. Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bình Gia… làm nguyên liệu cho công nghiệp
khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, đá xẻ, đá ốp lát phục vụ cho các công
trình xây dựng trên địa bàn huyện và tỉnh Lạng Sơn.
Bình Gia có nhiều hang động, trong đó có hang Thẩm Khuyên, Thẩm
Hai là những di chỉ khảo cổ học đã được xếp hạng. Ở đó các chuyên gia khảo
8


cổ học đã phát hiện ra hóa thạch xương người Việt cổ cách đây 25 vạn năm.



Uyên (tổng Hóa Nhân) thuộc Phủ Tràng Khánh. Cho đến thời Tự Đức thì Bình
Gia thuộc về châu Văn Uyên, huyện Văn Quan của phủ Tràng Định”[4, tr.786].
Cuối năm 1980, thực dân Pháp đánh chiếm Bình Gia. Đến năm 1885,
Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở châu Bình Gia. Tháng 9-1894 thực dân
Pháp tách hai tổng Bằng Gia và Tuyền Cam của châu Văn Quan lập thành một
đơn vị hành chính mới là châu Bình Gia. Từ năm 1891 đến 1905 châu Bình Gia
là một châu thuộc hạt Thất Khê, trên phần lãnh thổ của Quân chính đạo số 1 do
thực dân Pháp lập ra. Đến năm 1907 châu Bình Gia gồm 5 tổng (Bằng Gia,
Cam Thủy, Hóa Nhân, Oai Mãnh, Yên Hùng) và 23 xã: Bằng Gia, Vũ Khê,
Tĩnh Sóc (tổng Bằng Gia), Cam Thủy, Thuần Như, Tồng Chu, Đinh Bảo,
Phụng Cống (tổng Cam Thủy), Hóa Nhân, Dưỡng Nông, Xuân Dục, Bác Hóa
(tổng Hóa Nhân), Oai Mãnh, Vân Mịt, Lãng Dương, Văn Định, Tòng Lệnh,
Huãn Phing (tổng Oai Mãnh), Yên Hùng, Yên Lỗ, Bảo Thiệu, Quý Hòa, Yên
Tùng (tổng Yên Hùng). Đến năm 1940, châu Bình Gia 6 tổng và 28 xã (Người
Pháp đặt thêm 1 tổng mới là tổng Hữu Lương gồm 5 xã: Bình La, Hữu Lương,
Mậu Nông, Nà Hoài, Phù Gia).
Từ những năm đầu thế kỷ XX cho đến trước Cách mạng tháng Tám
1945, địa giới châu Bình Gia tương đối ổn định (phía Bắc giáp châu Tràng
Định và châu Na Rì (tỉnh Bắc Kạn), phía Nam giáp châu Văn Quan, phía Đông
giáp châu Thoát Lãng, phía Tây giáp châu Bắc Sơn).
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính phủ cách mạng đã bãi bỏ cấp
tổng, cấp phủ, đạo, châu. Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh nhất loạt gọi là
huyện. Châu Bình Gia được đổi thành huyện Bình Gia.
Từ sau năm 1954, do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và củng cố an
ninh quốc phòng, Nhà nước đã có một số điều chỉnh chia tách và sáp nhập một
số đơn vị hành chính. Theo đó, ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn sáp nhập với
tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng. Huyện Bình Gia của Lạng Sơn trở thành
huyện của tỉnh Cao Lạng. Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn được tái lập, Bình

1, Đội Cấn 2, Cảo Chòm.
10. Xã Quý Hòa gồm 5 thôn: Khuổi Nghành, Khuổi Lũng, Khuổi Cáp,
Nà Lùng, Nà Kéo.
11. Xã Hưng Đạo gồm 10 thôn: Nà Dạ, Pác Khiếc, Nà Lạn, Nà Bưa,
Khuổi Buông, Bản Chu 1, Bản Chu 2, Bản Nghĩu, Pàn Deng, Pàn Slèo.

11


12. Xã Vĩnh Yên gồm 5 thôn: Khuổi Luông, Vằng Mần, Vằng Ún, Khuổi
Màn, Khuổi Dụi.
13. Xã Quang Trung gồm 12 thôn: Bản Quần, Bản Chang, Nà Tèo, Nà
Cao, Nà Ngần, Đình Cam, Mò Mè, Tân Lập, Kéo Giểng, Pác Giắm, Nà Tồng,
Nà Chang.
14. Xã Mông Ân gồm 7 thôn: Nà Cướm, Nà Vò, Bản Muống, Nà Vường,
Cốc Mặn, Đồng Hương, Viên Minh.
15. Xã Thiện Thuật gồm 14 thôn: Cốc Phường, Bản Chúc, Khuổi Y,
Khuổi Lù, Nà Lốc, Pác Khuông, Pò Sè, Khuổi Thoong, Khuổi Cưởm, Khuổi
Khuy, Pác Là, Vằng Sâu, Khuổi Hắp, Pác Luống.
16. Xã Thiện Hòa gồm 10 thôn: Lân Luông, Thạch Lùng, Nà Tàn, Thâm
Khôn, Ba Biển, Yên Hùng, Nà Đảng, Nà Lẹng, Khuổi Nà, Cặm Tắm.
17. Xã Yên Lỗ gồm 9 thôn: Khuổi Sắp, Bản Pe, Nà Tồng, Nà Quãng, Pò
Mầm, Bản Mè, Khuổi Mè, Khuổi Chặng, Khuổi Cọ.
18. Xã Hòa Bình gồm 6 thôn: Bản Duộc, Tà Chu, Nà Mèo, Khuổi
Nhuần, Khuổi Khinh, Mạy Đảy.
19. Xã Thiện Long gồm 7 thôn: Nà Lù, Tồng Nộc, Ca Siều, Bản Thàng,
Bắc Hóa, Khuổi Kiếc, Khuổi Hẩu.
20. Xã Tân Hòa gồm 7 thôn: Mạy Khoang, Mạy Đảy, Khuổi Cắt, Khuổi
Bổng, Khuổi Nà, Làng Khẻ, Khuổi Phung.
1.3 Các thành phần dân tộc và dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia

3.731

30,13

3

Dao

713

5,76

4

Kinh

490

3,96

5

Hoa

64

0,52

6


Lỗ, Quý Hòa, Hưng Đạo, Hoa Thám…Dân tộc Dao sinh sống nhờ việc trồng
nương rẫy và khai thác lâm thổ sản ở địa phương.
Dân tộc Kinh đến Bình Gia làm ăn sinh sống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, làm nghề buôn bán nhỏ, thợ thủ công, một số khác đến muộn hơn, vào
những năm 60 của thế kỷ XX chủ yếu làm nông nghiệp. Đại đa số người Kinh
13


sống ở thị trấn và các xã Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân Văn, Hồng Phong,…
Họ chủ yếu là công chức nhà nước hoặc dân buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công
như: mộc, rèn, đan lát…
Dân tộc Hoa là người Trung Quốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng.
Người Hoa đến cư trú và sinh sống ở Bình Gia vào cuối thế kỷ XIX cùng với
sự hình thành và phát triển của thị trấn. Hầu hết người Hoa đều làm nghề kinh
doanh buôn bán và dịch vụ. Họ có nhiều những cửa hàng lớn và làm nhiều
nghề phụ khác nhau. Dân tộc Hoa sống rải rác ở các xã Tô Hiệu, Hoàng Văn
Thụ, Tân Văn, Hồng Phong, Hoa Thám.
Tuy ngôn ngữ và phong tục có những nét khác nhau, nhưng nhân dân các
dân tộc Bình Gia luôn luôn có truyền thống đoàn kết gắn bó giúp đỡ lẫn nhau.
Hằng năm ở các xã, bản đều tổ chức những lễ hội cầu mùa: Hội tháng Giêng,
Hội chợ phiên nhóm vùng. Những dịp gặp gỡ giao lưu như vậy đã góp phần
củng cố tình cảm giữa các dân tộc và giữa các địa phương với nhau. Tinh thần
đoàn kết cần cù trung thực, cầu tiến bộ vốn là bản chất đời sống của nhân dân
các dân tộc huyện Bình Gia.
1.3.2 Dân tộc Nùng
Dân tộc Nùng thuộc dân tộc ít người, đứng thứ 7 về số lượng dân cư
trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, họ cư trú ở vùng núi phía
Bắc Việt Nam. Dân tộc Nùng có nhiều nhóm, mỗi nhóm lại có tên gọi riêng:
Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng
Cháo… Tiếng nói của dân tộc Nùng thuộc ngữ hệ Tày – Thái. Dân tộc Nùng

Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo. Hầu hết đồng bào sống ở vùng nông thôn của
các huyện Bình Gia, Bắc Sơn, Văn Quan, Tràng Định, Văn Lãng, Đình Lập,
Lộc Bình, Cao Lộc, Chi Lăng, Hữu Lũng và ven Thành phố Lạng Sơn.Nghề
chính của đồng bào là nông nghiệp. Một số cư dân sống ở thị trấn, thị tứ… kết
hợp làm ruộng với buôn bán nhỏ lẻ, một số cư dân khác lại sống bằng nghề
buôn bán như ở thị trấn Lộc Bình, cửa khẩu Tân Thanh…
Ở huyện Bình Gia, theo số liệu thống kê dân số năm 2013, dân tộc Nùng
có 7.380 người chiếm 59,61% dân số của huyện, là dân tộc đông nhất huyện
Bình Gia, chiếm vị trí hàng đầu trong thành phần các dân tộc của huyện. Người
Nùng sống ở Bình Gia đã khá lâu đời và đã trở thành người dân bản địa. Ở
Bình Gia có hai ngành Nùng chủ yếu là Nùng Cháo và Nùng Phàn Slình. Địa

15


bàn cư trú của Nùng Cháo ở xã Hồng Phong, Hoa Thám còn lại Nùng Phàn
Slình ở tất cả các xã nhưng đông nhất là Thiện Thuật, Thiện Long, Quang
Trung, Yên Lỗ, Quý Hòa …
Người Nùng ở Bình Gia sống định cư thành thôn, bản. Bản của người
Nùng thường tập trung theo nhóm và ít xen kẽ với các dân tộc khác. Tuy nhiên
hiện nay đã có sự thay đổi ít nhiều, bản của họ đã xen kẽ với các bản làng, các
xã của các dân tộc khác trong huyện.
Bảng 1.2: Bảng thống kê các dân tộc phân bố ở các xã của huyện Bình Gia
(Tính theo tỷ lệ %)
STT



Nùng Tày


7,34

5

Yên Lỗ

90,57

9,43

6

Mông Ân

5,94

7

Tân Hòa

22,18

77,82

8

Thiện Thuật

94,95 0,95


Hồng Phong

77,05 20,29 0,24

2,29

14

Tân Văn

37,69 57,95

4,36

15

Hưng Đạo

16,22 77,22 6,56

16

Quý Hòa

96,08 1,72

17

Hồng Thái


Khác

95,96

93,82 0,24

0.98

0,28
10,95 0,69

0,98

0,12

0,24

(Nguồn: Phòng Dân Tộc huyện Bình Gia năm 2013)
16


Qua bảng thống kê trên ta có thể thấy, phần lớn dân tộc Nùng sinh sống
ở các xã Thiện Long, Thiện Hòa, Hòa Bình, Yên Lỗ, Thiện Thuật, Bình La, Minh
Khai, Hồng Phong, Quý Hòa, Hồng Thái, Quang Trung. Văn hóa của người Nùng
có ảnh hưởng đến quá trình phát triển văn hóa của toàn huyện.
1.4. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Gia
Bình Gia là huyện miền núi cao của tỉnh Lạng Sơn, mật độ dân số trung
bình là 49 người/km2, dân cư được phân bố tại 19 xã và 01 thị trấn. Quỹ đất đai
của huyện Bình Gia được sử dụng như sau:
Bảng 1.3 Tổng diện tích ruộng đất huyện Bình Gia.

1,18

4

Đất ở

639,23

0,57

5

Đất chưa sử dụng

16.836,2

15,38

6

Đất mục đích khác

1.260,21

1,15

109.352,73

100


dựng và Dịch vụ. Năm 2010, nhóm ngành nông - lâm nghiệp chiếm 51,92%,
các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 13,52%, ngành thương mại và dịch
vụ chiếm 34,56% trong cơ cấu GDP của huyện [49]. Nhìn chung sự chuyển
dịch này diễn ra còn chậm, tình hình sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự
cấp, thu nhập và đời sống nhân dân do đó còn thấp.
Công nghiệp trên địa bàn huyện bước đầu đang được phát triển. Dự án
xây dựng thủy điện Bắc Giang, xã Quý Hòa được khởi công cuối năm 2008.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp được mở rộng về quy mô; các sản phẩm chủ yếu
là sản xuất vật liệu xây dựng (các loại đá, gạch chỉ, khai thác cát), chế biến
nông lâm sản. Giá trị ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày
càng tăng, năm 2010 đạt 31.573 triệu đồng. Khuyến khích và tạo điều kiện cho
người dân chủ động vay vốn đầu tư, mua sắm công cụ lao động bằng máy để
phát triển nghành nghề, từng bước tạo ra hàng hóa, nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm, đáp ứng một phần tiêu dùng và giải quyết việc làm tại chỗ cho
người dân.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Bình Gia tuy có phát
triển nhất định nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực khai thác, sản xuất vật liệu xây
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status