Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng thuốc tại bệnh viện trung ương quân đội 108 - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI


NGUYỄN TRUNG HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI


NGUYỄN TRUNG HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 62.72.04.12

Người hướng dẫn khoa học:

thuốc tập trung vào một số ít chủng loại thuốc, năm 2011 Bệnh viện đã áp dụng
một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, nâng cao chất lượng cung ứng
thuốc, trong đó tập trung các giải pháp: áp dụng kháng sinh dự phòng cho phẫu
thuật sạch, sạch nhiễm; pha chế tập trung thuốc ung thư; giám sát sử dụng
thuốc bổ trợ, vitamin. Để đánh giá hiệu quả các biện pháp Bệnh viện đã áp


dụng đồng thời xây dựng một số giải pháp can thiệp lên hoạt động cung ứng
thuốc tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung ứng thuốc
tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”
với 02 mục tiêu:
1. Đánh giá một số giải pháp can thiệp lên hoạt động cung ứng thuốc đã
được Bệnh viện triển khai năm 2011.
2. Xây dựng và đánh giá hiệu quả của một số giải pháp can thiệp lên hoạt
động mua sắm và quản lý kho thuốc của Bệnh viện năm 2011-2012.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học từ đó đưa ra một số đề xuất cho
các nhà quản lý Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nhằm nâng cao chất
lượng cung ứng thuốc.


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC
Thuốc phòng và chữa bệnh đã trở thành một nhu cầu tất yếu của cuộc
sống con người. Thuốc đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ
sức khoẻ nhân dân và nói rộng hơn là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm
bảo đảm mục tiêu chăm sóc sức khoẻ cho mọi người. Tuy nhiên, việc sử dụng
thuốc không hiệu quả và bất hợp lý là một vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng
khắp ở mọi cấp độ chăm sóc y tế [32]. Qui trình quản lý cung ứng thuốc đã
được tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với trung tâm khoa học quản lý

1.000.000USD

giá cao
chất lượng
kém
hư hao
tham nhũng
chênh lệch
kho
thuốc hết hạn
Quản

không
hiệu
quả

700.000USD
cải tiến mua sắm
đảm bảo chất
lượng
hệ thống bảo vệ

sai sót kê đơn
bệnh nhân
sử dụng sai
300.000USD

Quản

hiệu

định.
Khi có hai hoặc nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí
trên cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố: hiệu quả điều
trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng.
Khi so sánh chi phí cần so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều
trị.
Trong một số trường hợp, sự lựa chọn phụ thuộc vào các đặc điểm địa
phương gồm trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho hoặc nhà sản xuất, cung ứng.
Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất
Thuốc ghi tên gốc hoặc tên chung quốc tế.
1.1.2. Mua thuốc
Sau khi có kết quả lựa chọn thuốc, mua thuốc là bước tiếp theo trong chu
trình cung ứng có vai trò cụ thể hoá bước lựa chọn thuốc. Mua thuốc là một
phần rất quan trọng trong quản lý cung ứng thuốc ở tất cả các mức độ chăm sóc
sức khỏe. Mua thuốc là một quá trình để đảm bảo chắc chắn đúng thuốc, đúng


số lượng, sẵn có, cho đúng bệnh nhân, với giá hợp lý và chất lượng đảm bảo.
Mua thuốc không chỉ đơn thuần là hành động mua bán mà nó có sự tham gia
của nhiều lĩnh vực như thương mại, thông tin kỹ thuật, quản lý nguy cơ, hệ
thống pháp luật. Qui trình mua thuốc tốt trước hết cần xác định đúng mục tiêu,
tạo được niềm tin, kiểm soát được nguồn cung ứng, đánh giá đúng được năng
lực của các nhà cung ứng, lựa chọn chiến lược mua sắm thích hợp, đánh giá
được lâm sàng cũng như hiệu quả đầu ra [52].
Qui trình mua thuốc không đảm bảo đúng qui định sẽ ảnh hưởng đáng kể
đến chất lượng thuốc, gây thất thoát nguồn kinh phí. Mua thuốc là một trong
những hoạt động dễ nảy sinh tham nhũng nhất trong hệ thống chăm sóc sức
khỏe [102], [108]. Theo tổ chức Y tế thế giới mua thuốc cần phải đạt 04 mục
tiêu [94]:
Mua đủ số lượng thuốc có chi phí – hiệu quả cao nhất

Theo nhận định của MSH, chìa khoá của hoạt động quản lý tồn kho là
đảm bảo chất lượng phục vụ và tồn kho an toàn. Thông thường hai đại lượng
này tỷ lệ thuận với nhau, nếu tồn kho lớn có nghĩa là thuốc luôn sẵn sàng trong
kho và chất lượng phục vụ sẽ tăng do đáp ứng đầy đủ thuốc mọi lúc, mọi nơi,
tuy nhiên, điều này sẽ làm tăng chi phí quản lý kho, tăng giá trị tồn kho, gây ứ
đọng thuốc, .... Vì vậy, việc xác định giá trị tồn kho an toàn rất có ý nghĩa
nhằm đảm bảo sự sẵn có của thuốc với lượng tồn kho hợp lý.
Để kiểm soát tồn kho và tần suất đặt hàng, thường dựa vào hai thành
phần chính là lượng tồn kho an toàn và lượng đặt hàng mỗi chu kỳ. Nếu giả sử
việc sử dụng thuốc là ổn định và nhà cung cấp giao hàng đúng hẹn, sơ đồ của
quá trình quản lý tồn kho có dạng như hình 1.3 [72].


Qo+SS
tồn kho
trung bình

Qo

I

SS
LT
đặt hàng

LT

tồn kho an toàn

nhận hàng

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp dược
đã có những bước phát triển nhanh, bền vững, thị trường dược phẩm thế giới
ngày càng mở rộng, phát triển với sự đa dạng về số lượng và chủng loại thuốc,
thể hiện qua lượng thuốc tiêu thụ hàng năm. Năm 2000 lượng thuốc tiêu thụ
toàn thế giới đạt 317,2 tỷ USD đến năm 2003 đạt 466 tỷ USD [7]. Tuy nhiên,
thị trường dược phẩm quốc tế tăng trưởng tập trung hầu hết ở các nước công
nghiệp, chiếm tới 93% tổng giá trị xuất khẩu dược phẩm toàn cầu. Trong khi
các nước có thu nhập thấp như Ấn Độ, Pakistan, Indonesia chỉ chiếm từ 1,1%
đến 2,9% [106]. Các quốc gia chiếm hầu hết thị trường dược cũng là những
quốc gia tập trung những nhà sản xuất dược phẩm chính của thế giới như Mỹ,
Đức, Pháp và Nhật [72].
Những năm gần đây thế giới có nhiều trung tâm dược phẩm lớn xuất
hiện, nếu năm 2006 có 7 trung tâm thì đến năm 2010 tăng lên 17 trung tâm,
trong đó đặc biệt là thị trường dược phẩm Trung Quốc có sự phát triển mạnh
mẽ [45]. Có thể nói rằng sự phát triển của ngành dược đã đem lại lợi ích hết sức
to lớn cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ con người.
Số lượng dược phẩm trên thế giới tăng nhanh, tuy nhiên, có tới 70%
thuốc trên thị trường dược phẩm thế giới là những biệt dược có cùng hoạt chất
chỉ có sự thay đổi nhỏ về dạng thuốc hoặc không phải là thuốc thiết yếu. Ngay
tại Mỹ từ năm 1998 đến 2002 trung bình mỗi năm Cục Quản lý thực phẩm và
dược phẩm Hòa Kỳ (FDA) cấp phép cho khoảng 83 thuốc mới nhưng chỉ có
1/3 trong số đó là hoạt chất mới [72]. Sự ra đời ngày càng nhiều chủng loại


thuốc với dạng bào chế đa dạng đem lại nhiều lựa chọn trong điều trị, tuy nhiên
ở các nước đang phát triển chi phí của thuốc lại là vấn đề đáng quan tâm, đòi
hỏi các nhà quản lý phải lựa chọn thuốc dựa trên phân tích kỹ lưỡng chi phíhiệu quả.
Tiêu thụ dược phẩm có sự phân hoá mạnh mẽ giữa các nước giàu và các
nước nghèo. Theo báo cáo của IMS, năm 2005, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu
chiếm tới 90% sự tiêu thụ dược phẩm [58], ngược lại những nước thuộc Châu

nghệ đơn giản, chất lượng thấp, nguyên liệu phụ thuộc nước ngoài với trên
90% phải nhập khẩu [5], [25].
* Hệ thống đảm bảo chất lượng
Hệ thống sản xuất, kiểm tra chất lượng, tồn trữ bảo quản, lưu thông phân
phối thuốc không ngừng được tiêu chuẩn hoá theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế
thế giới, đến năm 2008 đã có 89 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản
xuất thuốc trên tổng số 171 doanh nghiệp, đặc biệt số doanh nghiệp đạt tiêu
chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc chiếm hơn 90% thị phần thuốc sản xuất
trong nước; 88 đơn vị đạt tiêu chuẩn thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc; 108 đơn
vị đạt thực hành tốt phân phối thuốc; việc triển khai thực hành tốt phân phối
thuốc, thực hành tốt nhà thuốc bước đầu đạt được những kết quả đặc biệt trong
việc thay đổi nhận thức của các đối tượng là nhà quản lý, người hành nghề và
người tiêu dùng. Tỷ lệ thuốc giả, thuốc kém chất lượng không ngừng giảm
trong những năm qua và duy trì ở một tỷ lệ rất thấp, từ trên 7% năm 1990
xuống còn 0,21% năm 2008 [19].
* Vai trò quản lý
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách y tế, các
qui định của pháp luật, các yếu tố môi trường, địa lý, di truyền và các yếu tố tại
chỗ như mô hình bệnh tật, trang thiết bị, kinh nghiệm và trình độ của cán bộ y
tế, nguồn lực tài chính,... Để thỏa mãn nhu cầu chăm sóc y tế theo ưu tiên của
đại bộ phận người dân, dựa trên mô hình bệnh tật, bằng chứng về hiệu quả điều
trị, độ an toàn và so sánh hiệu quả chi phí, tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra danh
mục thuốc thiết yếu và các tiêu chí lựa chọn thuốc. Đồng thời khuyến cáo thực


hiện chính sách thuốc thiết yếu phải mang tính linh hoạt và áp dụng tùy điều
kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia. Việc xác định xem thuốc nào được đưa vào
danh mục thuốc thiết yếu là trách nhiệm độc lập của từng nước [105].
Tại Việt Nam dựa trên danh mục thuốc thiết yếu, để giúp các cơ sở y tế
có căn cứ lựa chọn thuốc, Bộ Y tế ban hành và cập nhật thường xuyên danh

giảng dạy cho sinh viên y khoa và quan trọng hơn nó được dùng như những
đơn mẫu để so sánh, đánh giá các cơ sở. Tới nay đã có nhiều bệnh viện tại Úc
sử dụng tài liệu này, ở các lần tái bản sau tài liệu đã được in thành những cuốn
sách nhỏ để tăng sự thuận tiện trong sử dụng ở mọi nơi trên nước Úc [72]. Tuy
nhiên, tại các bệnh viện hiện nay đa phần mới tồn tại danh mục thuốc trúng
thầu và danh mục thuốc bệnh viện, điều này không đảm bảo chắc chắn rằng
thuốc được kê và sử dụng sẽ hợp lý và hiệu quả [88].
Tại Việt Nam, việc xây dựng danh mục thuốc đã được thực hiện ở nhiều
bệnh viện, căn cứ xây dựng thường dựa trên danh mục thuốc chủ yếu sử dụng
tại các cơ sở khám chữa bệnh do Bộ Y tế ban hành và là cơ sở để thanh quyết
toán với cơ quan bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn khoảng 10% bệnh
viện chưa xây dựng danh mục thuốc bệnh viện, 36% bệnh viện vẫn thường
xuyên kê đơn thuốc ngoài danh mục [10]. Trong quá trình lựa chọn thuốc, các
bệnh viện chưa dành nhiều quan tâm tới chất lượng và độ an toàn của thuốc, đa
phần chưa biết sử dụng các phương pháp khoa học như ABC, VEN để phân
tích và đánh giá danh mục thuốc [25].
Một khía cạnh khác đáng quan tâm trong lựa chọn thuốc là vấn đề chất
lượng thuốc, sử dụng các sản phẩm kém chất lượng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả
điều trị và gây lãng phí, đồng thời ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống y tế. Giảm
hiệu quả điều trị ở đây bao gồm việc kéo dài thời gian mắc bệnh, các phản ứng


có hại thậm chí gây tử vong, về khía cạnh kinh tế, thuốc kém chất lượng sẽ gây
lãng phí nguồn lực tài chính y tế [72].
Theo báo cáo của WHO, trong những năm gần đây tình trạng thuốc giả
nổi lên như một vấn đề nghiêm trọng của ngành dược. Ở các nước có ngành
công nghiệp phát triển, thị trường dược phẩm, chất lượng dược phẩm được
kiểm soát tốt, tuy nhiên, tỷ lệ thuốc giả vẫn chiếm khoảng 1% [109]. Ở các thị
trường dược các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Á và Châu Phi, nơi mà
mức sống còn thấp, sự giám sát thị trường còn lỏng lẻo sẽ là nơi thuốc giả xâm

Thu thập thông tin
sử dụng thuốc

Chọn phương
thức mua

Phân phối thuốc

Lựa chọn
nhà cung cấp

Thanh toán

Ký kết
hợp đồng mua

Tiếp nhận và
kiểm tra

Theo dõi đặt
hàng

Hình 1.4. Quy trình mua thuốc
Chi phí mua thuốc thường chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí dành cho y tế,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển, theo báo cáo của WHO năm 2006, chi
phí thuốc chiếm 10-20% chi phí y tế ở các nước công nghiệp phát triển trong
khi ở hầu hết các nước đang phát triển tỷ lệ này là 20-40% [72]. Tuy nhiên, nếu
xét về giá trị tuyệt đối, ở các nước phát triển chi phí thuốc trung bình trên đầu
người cao hơn nhiều so với ở các nước đang phát triển, theo thống kê của
WHO, chi phí thuốc ở mỗi quốc gia thường tỷ lệ thuận với tổng sản phẩm quốc

7. Xét thầu;
8. Ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu;
9. Kiểm soát thực hiện hợp đồng và chất lượng sản phẩm;
10. Thực thi các điều khoản hợp đồng.
Tại Việt Nam các hình thức đấu thầu mua thuốc chính đang được sử
dụng tại các bệnh viện là: đấu thầu rộng rãi, mua sắm trực tiếp và chào hàng
cạnh tranh. Tùy theo tuyến các bệnh viện có thể tự đấu thầu hoặc đấu thầu tập
trung qua Sở Y tế. Hoạt động đấu thầu tại các bệnh viện có sự tham gia của hội
đồng đấu thầu, tổ chuyên gia từ lâm sàng, hội đồng thuốc và khoa Dược. Tuy
nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, chuyên môn cũng như các


văn bản hướng dẫn nên công tác đấu thầu còn hiện tượng giá thuốc trúng thầu
biến động, thời gian đấu thầu kéo dài, tiêu chí chấm thầu chưa thực sự lựa chọn
được sản phẩm đảm bảo chất lượng, giá cả [24], [26].
Mạng lưới cung ứng thuốc cũng phát triển rộng khắp đã vươn ra hầu hết
các địa bàn trên toàn quốc, đảm bảo cung ứng đủ và kịp thời thuốc phục vụ nhu
cầu của bệnh viện. Theo báo cáo của Cục Quản lý dược, cả nước có 1.676
doanh nghiệp dược phẩm trong nước, 39 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, 91 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp thuốc, 438 doanh nghiệp nước
ngoài cung cấp thuốc, 38.916 cơ sở bán lẻ thuốc [21].
Nhiều biện pháp nhằm bình ổn giá thuốc như quản lý đấu thầu thuốc, dự
trữ thuốc, khuyến khích phát triển thuốc sản xuất trong nước, cấm sử dụng lợi
ích để khuyến kích kê đơn,… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn trong bình ổn
giá thuốc trên thị trường, giá thuốc ở Việt Nam cao hơn giá thuốc trên thế giới
cũng như các nước trong khu vực, đấu thầu thuốc nhằm làm giảm giá thuốc
trong bệnh viện chưa có hiệu quả [34]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh
Tuấn, giá thuốc trung bình tại các cơ sở y tế công ở Việt Nam cao hơn 1,82 lần
so với giá thuốc generic do tổ chức MSH công bố [90]. Sử dụng thuốc không
hợp lý dẫn đến kháng thuốc trong cộng đồng, tăng tác dụng phụ của thuốc, tăng

thuốc, do đó thường kê nhiều thuốc, kích thích dùng thuốc để có thu nhập cao
[55]. Sử dụng quá nhiều kháng sinh là vấn đề không chỉ giới hạn ở các nước
đang phát triển, nghiên cứu của Goossens chỉ ra tỷ lệ sử dụng kháng sinh ở
tuyến đầu trên bệnh nhân tại Pháp nhiều gấp hơn 3 lần so với ở Hà Lan [98].
Theo hướng dẫn kê đơn thuốc tốt của tổ chức Y tế thế giới tiêu chuẩn đầu tiên
của lựa chọn thuốc là hiệu quả điều trị, tiếp theo là 3 tiêu chuẩn nên được cân
nhắc đó là tính an toàn, sự phù hợp và chi phí điều trị, trong hầu hết các trường
hợp cần sử dụng thuốc nên đưa ra 2-4 nhóm thuốc để cân nhắc lựa chọn và khi
kê đơn nên sử dụng tên chung quốc tế [104].
Sử dụng sai thuốc có thể gây ra do kê đơn hoặc do cấp phát. Dữ liệu từ
các nước đang phát triển cho thấy chỉ có ít hơn 40% bệnh nhân được điều trị
theo các hướng dẫn điều trị chuẩn [110]. Rất nhiều thuốc được sử dụng mà


không có tác dụng hoặc còn nghi ngờ tác dụng điều trị với bệnh chính. Điều
này có một phần nguyên nhân là do bệnh nhân nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu nhận
được đơn có nhiều thuốc. Những thuốc được sử dụng quá mức, không cần thiết
là các loại vitamin hỗn hợp và thuốc bổ. Kết quả nghiên cứu của Patel, năm
2005, tại các nhà thuốc Ấn Độ cho thấy có tới 40% đơn thuốc được kê có chứa
vitamin hỗn hợp và thuốc bổ [74].
Hiện nay, ở các nước đang phát triển vẫn còn hiện tượng lạm dụng thuốc
đường tiêm, kê đơn thuốc tiêm không cần thiết, tiêm thuốc không an toàn, sử
dụng lại các thiết bị tiêm truyền không đảm bảo vô trùng gây tăng nguy cơ lây
nhiễm viêm gan B, C, HIV và các mầm bệnh lây truyền qua đường máu. Trong
một nghiên cứu với 4.197 người ở Ai Cập cho thấy có 26% nhận được thuốc
tiêm trong vòng 3 tháng trước, số lượng thuốc tiêm trung bình trong năm là 4,2
thuốc, có 8% khi tiêm sử dụng syringe không được đựng trong bao bì kín [85].
Tương tự, ở Mongolia, qua phỏng vấn 65 người cho thấy số lượng thuốc tiêm
trung bình họ nhận được trong năm là 13. Ở Pakistan nghiên cứu trên 198 bệnh
nhân có 49% bệnh nhân nhận được thuốc tiêm khi khám bệnh, 91% bệnh nhân

hội đồng thuốc và điều trị các bệnh viện đã tổ chức giám sát sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn hàng tháng, 86,5% có báo cáo theo dõi tác dụng không mong muốn
của thuốc, 79% bộ phận thông tin thuốc thực hiện tư vấn cho bác sĩ điều trị,
84,8% bệnh viện có tổ chức bình bệnh án, đơn thuốc theo tháng [23].
Thông tin thuốc là nghiệp vụ quan trọng để tư vấn cho bác sĩ chọn và sử
dụng thuốc an toàn, hợp lý. Tuy nhiên, khó phân biệt được chất lượng giữa
thông tin thương mại và thông tin khách quan, nhiều bác sĩ còn chỉ định thuốc
không hợp lý, cán bộ làm công tác thông tin thuốc và dược lâm sàng tại các
bệnh viện còn thiếu và yếu, ít được tập huấn, thiếu thông tin, công tác dược lâm
sàng chưa phát triển. Theo hướng dẫn của WHO về quá trình chăm sóc bằng
thuốc cần thiết lập mối quan hệ bác sĩ, dược sĩ và điều dưỡng nhằm sử dụng
thuốc hợp lý cho người bệnh.


Để hạn chế đến mức thấp nhất những vấn đề không hợp lý trong sử dụng
thuốc, mỗi quốc gia cần có những chiến lược về việc sử dụng thuốc, theo đó
MSH đề nghị thực hiện qua 6 bước [72]:
+ Xác định vấn đề và nhận biết những việc cần phải làm
+ Xác định nguyên nhân cơ bản và các yếu tố cấu thành
+ Liệt kê các can thiệp có thể
+ Lượng giá các nguồn lực sẵn có cho các hoạt động
+ Lựa chọn các giải pháp can thiệp hoặc can thiệp thử nghiệm
+ Kiểm soát và đánh giá tác động của can thiệp.
Trong các bệnh viện, chức năng giám sát sử dụng thuốc thuộc về Hội
đồng thuốc và điều trị. Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị là đảm bảo các
thuốc được kê đơn, phân phối và sử dụng cho người bệnh một cách an toàn, có
chất lượng. Sự tham gia tích cực của Hội đồng thuốc và điều trị đảm bảo ba nội
dung sau [32]:
+ Giám sát và xử lý những sai sót liên quan đến thuốc
+ Giám sát và đảm bảo chất lượng thuốc

8% số bệnh nhân ngoại trú và 5,4% nội trú, trong khi chỉ có 3,2% giá trị thuốc
được mua để điều trị. Tương tự, có tới 7,5% bệnh nhân ngoại trú và 6,5% bệnh
nhân nội trú có rối loạn tâm lý nhưng giá trị thuốc rối loạn tâm thần hay chống
trầm cảm sử dụng lại rất thấp, điều này cho thấy thuốc sử dụng chưa phù hợp
với tình trạng bệnh tật tại bệnh viện này [39].
Phân tích ABC, VEN thường là những phương pháp để xác định vấn đề,
đánh giá các giải pháp và được áp dụng phổ biến trên thế giới. Phân tích ABC
ở châu Mỹ latinh cho thấy giá trị mua qua đấu thầu của 97 thuốc theo kế hoạch
là 2,5 triệu USD, tuy nhiên thực tế lại mua 124 thuốc với chi phí 3,36 triệu
USD và có tới 61 thuốc không có trong kế hoạch, nhà quản lý đã can thiệp yêu
cầu xây dựng lại kế hoạch và qui trình mua [66]. Nghiên cứu của Zainutdinov



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status