TÀI LIỆU THAM KHẢO ý thức đạo đức và vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho HỌC SINH, SINH VIÊN trường cao đẳng LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM đà nẵng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 41

Ý thức đạo đức và vấn đề giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho HS,SV Trường Cao Đẳng LT - TP Đà Nẵng
trong giai đoạn hiện nay
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó chi phối mạnh mẽ mọi mặt của đời sống con
người, trong các quan hệ xã hội, đạo đức là gốc của mọi sự tốt đẹp, đặt nền tảng cho mọi công việc
như Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân ” [44, tr. 252 - 253].
Trong hoàn cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
WTO, điều này đã tạo ra một sức sống mới cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng, ngược lại
có nguy cơ cắt đứt mối dây liên hệ với các giá trị truyền thống của dân tộc. Văn kiện Đại Hội Đảng
lần thứ VIII khẳng định: Đi vào cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, tiếp thu những tinh hoa nhân loại song phải luôn coi trong những giá trị truyền
thống và bản sắc dân tộc, quyết không tự đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc sao chép người
khác.... Trong thời gian vừa qua tình trạng suy thoái đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói
riêng ở nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều nghành nghề. Đặc biệt ở
thế hệ trẻ nói chung và HS,SV nói riêng đã trở thành một hồi chuông cảnh báo buộc chúng ta những
người làm công tác lí luận và công tác giáo dục không thể làm ngơ.
Vì vậy, Đảng ta đã mở cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh ” Theo Chỉ thị số 06 -TC/TW ngày 17/11/2006 của Bộ Chính Trị. Tại hội nghị tổng kết năm
học 2006-2007 do Bộ GD - ĐT tổ chức ngày 22-7-2007 tại Vũng Tàu từ Cuộc vận động “hai không”
năm học 2007-2008 của ngành sẽ được tiếp tục thành cuộc vận động “bốn không”: Nói không với
tiêu cực trong thi cử ; nói không với bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với giáo viên không
đạt chuẩn và nói không với học sinh ngồi “nhầm” lớp... với những bước đột phá về nhận thức của
Đảng, Bộ giáo dục sẽ giúp cho công tác giáo dục và giáo dục đạo đức sẽ có những bước chuyển biến
nhất định.
Ngày nay, với sự biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội đã tác động không nhỏ tới đời sống
đạo đức nói chung và đạo đức của HS,SV nói riêng. Sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường đang
làm cho đạo đức xã hội biến đổi theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Vì vậy, mỗi HS,SV (Học
sinh, sinh viên) Việt Nam trong điều kiện hiện nay, để tiếp nối được truyền thống đạo đức cao đẹp
của cha ông, các lớp đàn anh đi trước, xứng đáng với lòng mong đợi của toàn xã hội; đáp ứng được

nhân đã được xã hội hoá. đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng ở
hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã
hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.
Còn trong thời đại ngày nay thì đạo đức được xem xét ở ba phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm toàn bộ những quan
điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con người với
con người, con người với xã hội nhằm bảo đảm quan
hệ lợi ích của cá nhân và cộng đồng.
Thứ hai, đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người mà những chuẩn mực
(khuôn phép) và quy tắc ấy lại là những yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định nhằm
điều chỉnh mỗi hành vi của cá nhân trong quan hệ với nhau và với xã hội. Những chuẩn mực và quy
tắc, hành vi nhất định được công luận xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận, hướng dẫn
các cá nhân hoạt động trong khuôn khổ được phép và tránh những hành vi không được phép.


Thứ ba, đạo đức là một hệ thống giá trị: đó là các giá trị vật chất tinh thần, giá trị sản xuất và
tiêu dùng, các giá trị chính trị - xã hội, nhận thức, đạo đức, thẫm mỹ, tôn giáo.
1.1.2. Chuân mực đạo đức

Từ những nghiên cứu trên cho thấy đạo đức còn liên quan chặt chẽ đến các giá trị chuẩn mực
của cá nhân, làm cơ sở cho các hành vi và những lựa chọn đạo đức của mộ t cá nhân trong tình huống
cụ thể. Theo Học viện vì sự tiến bộ của đạo đức Josenphson cho rằng: “Những giá trị đạo đức được
đánh giá là cần thiết đối với cuộc sống là tính trung thực, tính chính trực, sự giữ lời hứa, lòng trung
thành, tính thẳng thắn, sự quan tâm đến người khác, tôn trọng đến người khác, một công dân có
trách nhiệm, mưu cầu sự xuất sắc và có trách nhiệm giải trình” (Học viện Josephson 2003)
đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội là tổng số các nguyên tắc, các quy tắc định
hướng hành vi con người trong giao tiếp xã hội. Những nguyên tắc và quy tắc ấy là sự biểu hiện
những quan hệ hiện thực xác định của con người với nhau, những cộng đồng người khác nhau như
(gia đình, giai cấp và dân tộc...).

con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phải xuất phát từ những nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Kế thừa và phát triển những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc vì đạo đức
truyền thống là sức mạnh nội sinh của mỗi người. Song điều quan trọng là phải biết kế thừa những
truyền thống tốt đẹp và phải thổi vào đó những nội dung mới, phù hợp với thời đại thì truyền thống
mới có ý nghĩa sức mạnh tinh thần.
Thứ hai: Trong thời đại hội nhập, để cùng phát triển và tồn tại không thể không tiếp thu
những giá trị đạo đức nhân văn chung của nhân loại mà chúng ta cần phải tiếp thu những chuẩn mực
đạo đức nhân văn và kinh nghiệm của thời đại một cách có chọn lọc. Trong khi thực hiện đổi mới đất
nước, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường có sự quản
lý và điều tiết của Nhà nước. Điều đó liên quan đến những giá trị kinh tế, văn hoá của thời đạ i. Vì
vậy, tiếp thu những giá trị đạo đức chung của thời đại là điều kiện để con người Việt Nam có khả
năng hội nhập một cách năng động, sáng tạo trong sự phát triển chung của xã hội.
Thứ ba: Coi trọng và kết hợp chuẩn mực đạo đức với tri thức pháp luật, giáo dục đạo đức với
giáo dục pháp luật là việc làm cần thiết. Vì chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền nên việc
trang bị kiến thức pháp luật, hình thành thái độ, hành vi tự giác tuân thủ pháp luật là đòi hỏi bức xúc
đối với mỗi công dân hiện nay. Thực hiện quá trình CNH, HĐH phải giáo dục tinh thần công dân.
Song cần nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, phải thấy được “đạo đức là cái
gốc”, nhất là những giá trị nhân bản, có tác dụng điều chỉnh hành vi pháp luật của mỗi cá nhân. Hành
vi đạo đức được điều chỉnh bằng lương tâm và dư luận xã hội, bằng truyền thống. Còn hành vi pháp
luật được điều tiết bằng cơ chế quản lý và giám sát của cơ quan chức năng.
1.1.3. Ý thức đạo đức
Khi nghiên cứu đạo đức chúng ta đều biết rằng, mỗi hành động đạo đức đều xuất phát từ
những cơ sở nhất định của một ý thức đạo đức. Trên cơ sở của ý thức đạo đức, chủ thể hành động
đưa ra những nhận định và phán quyết của mình cho một sự kiện cần phải có sự đánh giá về mặt đạo
đức. Do vậy, việc hiểu những cơ sở ý thức đó là gì và bản chất của nó như thế nào? Đó là điều có ý
nghĩa quan trọng trong việc định hướng xây dựng, đồng thời giúp chúng ta có được những lí giải về
rất nhiều vấn đề đạo đức phức tạp trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phức tạp của một giai đoạn
đang có sự chuyển đổi những giá trị đạo đức ở nước ta khi bước vào cơ chế thị trường, toàn cầu hoá
kinh tế tri thức và hội nhập thế giới.
Trong lịch sử tư tưởng đạo đức đã có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở ý thức của đạo

loại: chân, thiện, mỹ ” [86, tr. 2]. Thiện là đạo đức, hay nói đúng hơn, bản chất đạo đức là cái thiện.
Chỉ nói cái thiện không thôi thì con người nhận thức vẫn còn nông cạn, nó phải được phát triển
thành thông điệp, hay thậm chí thành một quy chế, để cho con người nhận thức ra nó dưới dạng thức
cụ thể và có tính thực hành. Không có cái thiện thì không thể có đạo đức và không có cái thiện thì
người ta gọi là đạo đức giả.
Con người chỉ có thể là con người xã hội, trong đó các cá nhân, ở những mức độ khác nhau,
đều được xã hội hoá. Họ sống, làm việc, hành động theo những qui tắc ứng xử đã hình thành trong
xã hội. Như thế, chúng ta có thể nói rằng, mỗi cá nhân đã tiếp nhận một hệ thống các qui tắc và các
thước đo văn hoá của xã hội và thể hiện chúng trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Những thước đo này về bản chất là những tiêu chuẩn lý tưởng mang tính chất qui ước mà mỗi cá
nhân cần phải tuân theo. đạo đức có cấu trúc của nó và các thành tố của đạo đức là: ý thức đạo đức,
hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức.
Như vậy, ý thức phản ánh lĩnh vực nào của xã hội? Với tư cách là một hình thái ý thức, đạo
đức không là kết quả riêng biệt của bất kỳ một tác động nào, mà tính phức tạp và thống nhất của hiện
tượng cũng như biện chứng của sự phát triển của nó luôn đặt ra và gắn liền với chính các tác động đa
tầng và đa hướng đó. Nhưng vấn đề đặt ra là: vậy phải chăng trong sự hình thành và phát triển của
đạo đức, các yếu tố đã tác động vào xã hội khác nhau đều mang vai trò và ý nghĩa như nhau? Về
thực chất chúng bao gồm những yếu tố nào? về vấn đề này theo sự nhận định của các tác giả Xô viết
trong công trình “đạo đức học macxit ” là tương đối hợp lý đó là: Sự hình thành và phát triển của
đạo đức ở đây được xác định gắn liền với các yếu tố là hướng vận động của các lợi ích hiệ n có trong
xã hội; là hệ thống các giá trị đạo đức đang tác động; là sự thay đổi các tình huống của sự lựa chọn
đạo đức (chẳng hạn sự thay đổi các chuẩn mực trong cách mạng khoa học kỹ thuật); là sự tác động
của các phương tiện điều chỉnh xã hội khác (quy định của pháp luật, các thiết chế hành chính...); là
điều kiện giao tiếp, dư luận xã hội, kinh nghiệm đạo đức cá nhân; là trạng thái tâm lý xã hội; là sự
tác động của các yếu tố trong lĩnh vực văn hóa tinh thần: khoa học, nghệ thuật, tôn giáo... Và xét đến
cùng đó là sự tự quy định của các điều kiện kinh tế, xã hội. Trong hệ thống các yếu tố kể trên thì sự
tác động của các lợi ích được coi là một trong những yếu tố có vai trò trực tiếp và gần gũi nhất trong
việc tạo ra các định hướng đạo đức ở con người.
Tóm lại: Ý thức đạo đức như ở trên chúng ta đã xem xét, con người không thể sống bên ngoài
các mối quan hệ xã hội. Cốt lõi của những mối quan hệ đó là tương quan của những quyền lợi cá

thuyết “vô vi ”, có nghĩa là “con người cần phải hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không
hành động có tính chất giả tạo, gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình” [78, tr.52]. Để làm được
điều đó con người phải sống từ ái, khoan dung, khiêm nhường, không phô trương, thái quá, phải thâu
suốt mọi lẽ của tự nhiên.
Trong triết học Trung Quốc cổ đại, phạm trù “đạo ” luôn được xem xét trong mối quan hệ
với phạm trù “Đức”, đức là biểu hiện của đạo, đức đó chính là “biểu hiện khát vọng được trời ban
cho điều tốt lành” hay Cíđiều tốt lành mà các thế hệ trước để lại cho con cháu”. Theo Khổng Tử làm
người thì phải “khắc kỷ tu thân1”, có nghĩa là để đạt được đức con người phải tu dưỡng, phải hoàn
thiện về mặt đạo đức, làm những việc chính đáng mà không gượng ép, đây cũng chính là hạnh kiểm
của nhân cách con người.
Trong hệ thống triết học Trung Quốc nói chung, đều lấy đạo đức - luân lý làm nội dung chủ
yếu cho các luận thuyết, xem nó là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, thậm chí
luân lý còn nằm trong cả vạn vật. vì vậy, những nguyên tắc đạo đức được xem như là “khuôn vàng,
thước ngọc” [74, tr. 66] để đánh giá con người và vạn vật. Trong cuộc sống con người phải “tồn kỳ
tâm, dưỡng kỳ tính”, có nghĩa là phải rèn luyện đạo đức, nhân cách. Khi có được phẩm chất đạo đức
cao đẹp thì lúc đó con người không chỉ biết mình mà còn biết được cả thiên hạ, sẵn sàng chấp nhận
gian khổ, hy sinh để đạt được luân lý - đạo đức và khi đó sẽ được xã hội đánh giá cao. Mặc dù, ở
một khía cạnh nào đó quan niệm trên có ý nghĩa tích cực trong việc điều chỉnh hoạt động đạo đức
của con người, xây dựng mẫu hình nhân cách lý tưởng cho thời đại, nhưng xét về góc độ triết học
các quan niệm về đạo đức, đạo lý của triết học Trung Quốc cổ đại với hạn chế là: đều mang tính chất
duy tâm và quá đề cao đạo đức - luân lý, coi đây là phương thức chủ yếu để xây dựng xã hội.
Nhưng, trong xã hội đương thời hay ngay cả thời đại hiện nay thật khó khi chỉ dùng đạo đức, luân lí
để điều chỉnh, xây dựng trật tự xã hội mà không cần đến những quy định của pháp luật.
Trong triết học Kitôgiáo, dựa vào Kinh thánh đã khẳng định đạo đức có nguồn gốc từ thượng
đế. Trong vũ trụ bao la này, con người là thực thể duy nhất có khả năng điều chỉnh hành vi củ a mình
thông qua sự cảm nhận về ý nghĩa của hành vi. Đó không phải là kết quả hợp thành từ thực tiễn sinh
tồn của con người mà là sự mặc định sẵn bởi Thiên chúa. Con người là hình ảnh của chúa nhưng là
một hình ảnh không hoàn chỉnh, vì con người đã tự đánh mất cái chân, thiện, mỹ vĩnh cửu, những
tặng vật của Thiên chúa chỉ có ban cho con người và trong quá trình sáng tạo ra muôn loài, do không
vâng lời Chúa nên đã phạm “tội tổ tông''”. Chính vì thế, đạo đức ở trần gian và đạo đức của loài

Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học Phương Tây kể cả trường phái duy vật và duy tâm, đều
bàn về đạo đức, khác với ở Phương Đông họ coi đạo đức là nội dung chủ yếu trong các học thuyết
chính trị - xã hội, và là khuôn mẫu để cả xã hội tuân theo thì ở
Phương Tây, đạo đức được bàn đến như là một bộ phận của hệ thống triết học, có mối quan hệ mật
thiết với triết học.
Khi bàn về đạo đức, Democrit (460-370 TCN) nhà triết học cổ đại Hy lạp đã cho rằng: đạo đức
đã trở thành nhân tố quyết định đời sống của con người, chính vì thế mà khi đứng trên lập trường
duy vật thì ông lại tìm thấy đúng đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống của con người,
ông viết: “Cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi con người cụ thể là đối tượng nghiên cứu của đạo
đức học và để nhận biết một người trung thực và nhận biết một người không trung thực, không
những căn cứ vào việc làm của họ mà còn phải căn cứ vào ý muốn của họ ” [36, tr.65] .
Với luận điểm nổi tiếng “con người hãy nhận thức chính mình ”, Socrate đã bàn nhiều vấn đề
liên quan đến con người trong đó có đạo đức. Ông cho rằng, đạo đức không phải tự nó có mà phải do
mỗi con người tự ý thức, mà muốn có điều này thì phải có tri thức. Vì vậy, tri thức là cái cốt lõi của
đạo đức, tri thức chính là cái thiện. Còn Aristote thì cho rằng, đạo đức là cái vốn có của con người,
sống trong xã hội con người phải tuân theo những quy tắc, để hướng tới cái cao cả, cái thiện:
“Chúng ta không bất tử, song chúng ta không nên phục tùng những điều xấu xa mà hãy vươn tới sự
bất tử sống phù hợp với những gì tốt nhất ở nơi ta, ta đang có” [36, tr. 68]. Theo Aristote, phẩm
hạnh là cái quan trọng nhất của đạo đức, phẩm hạnh có được một mặt là do kết quả của giáo dục khi
con người có tri thức, mặt khác, kinh nghiệm còn là “con đẻ ” của thói quen, tập quán. Như vậy,
Aristote đã nhìn thấy ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với sự hình thành đạo đức, nhân cách của con
người, và nhân cách đó không chỉ thuần tuý phụ thuộc vào sự tác động của hoàn cảnh mà còn phụ
thuộc vào khả năng con người tiếp nhận nó như thế nào. Tuy nhiên, đứng trên lập trường giai cấp
chủ nô, ông lại biện hộ cho trật tự xã hội có đẳng cấp, và cũng từ đó chúng ta nhận thấy rằng, trong
xã hội có giai cấp đối kháng đạo đức không thể là yếu tố chung, chuẩn mực chung cho mọi giai cấp
mà những chuẩn mực đó nó chỉ phù hợp với một giai cấp nào đó mà thôi.
Đến thời Trung cổ, các nhà triết học bàn đến đạo đức chủ yếu bằng đức tin và coi đức tin là
nền tảng của mọi hành động, theo đó Chúa đã thiết định tất cả, mọi sự vùng vẫy, níu kéo của con
người chỉ là hiện tội tổ tông, con người cần phải tin vào
Chúa, Chúa là đấng tối cao, không có đạo đức nào ngoài sự tuân theo ý Chúa. Vì vậy, con người

chuẩn mực lý tưởng mà con người phải luôn hướng tới, tự do cũng chính là niềm tin để con người
thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức.
Trong hệ thống triết học của Kant, các quy tắc đạo đức có quyền uy tối thượng, là mệnh lệnh
tuyệt đối mà con người phải tuân theo. Bởi theo ông, nhiệm vụ của triết học không gì khác hơn là
phải giải quyết các vấn đề mà con người băn khoăn, trăn trở trong suốt quá trình tồn tại của mình.
Tuy nhiên, so với các nhà triết học duy tâm chủ quan thời bấy giờ, quan điểm đạo đức của Kant có
những nhân tố hợp lý nhưng khi lý giải bản chất của vấn đề ông vẫn chưa thoát được khỏi ngưỡng
thời đại mà ông đang sống, mặc dù ông có đề cao vai trò của chủ thể đạo đức thì đạo đức cũng mới
chỉ là điểm hội tụ của kinh nghiệm mà thôi.
Tuy thấm đượm tính nhân văn sâu sắc, lên án chế độ phong kiến, hướng con người tới mộ t xã
hội tốt đẹp hơn, mong muốn cuộc sống tự do cho con người, v.v ... nhưng những quan niệm của
Kant đã thể hiện lập trường duy tâm rõ rệt, thể hiện tính phi lịch sử, phi giai cấp, thiếu cơ sở thực
tiễn trong các quan niệm về đạo đức.
Hegel (1770-1831) nhà triết học Đức và là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm khách quan trước
Mác. Mặc dù có thế giới quan duy tâm, nhưng ông vẫn được lịch sử tư tưởng thế giới thừa nhận là
một nhà biện chứng lỗi lạc. Hệ thống triết học của ông được coi là một hệ thống quan trọng để hình
thành triết học Mác.
Nếu như Platon cho rằng đạo đức của con người là sự mô phỏng ý niệm thiện thì khi bàn về
đạo đức Hegel cho rằng, đạo đức có nguồn gốc từ pháp luật, một ý niệm phát sinh từ ý niệm tuyệt
đối. Giống như ý niệm tuyệt đối, ý niệm pháp lý vận động từ trừu tượng đến cụ thể. Quá trình vận
động của ý niệm pháp luật có ba nấc thang đó là : điểm xuất phát, với tên gọi là pháp luật trừu tượng,
là cơ sở khách quan của quan hệ giữa người với người. Sự vận động và phát triển củ a ý niệm pháp
luật trừu tượng sẽ dẫn đến nấc thang thứ hai đó là pháp luật chủ quan, giữ vai trò điều chỉnh hành vi
của cá nhân, ông gọi là luân lý. đạo đức là nấc thang phát triển thứ ba của ý niệm pháp luật, theo
ông đạo đức là sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan. Như vậy, với Hegel
hình thái ý thức đạo đức, một trong những tấm gương phản chiếu tồn tại xã hội đã bị xoá đi cái cơ sở
tồn tại chân thực của nó, chỉ còn là một trắc diện biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Bên cạnh đó ông
còn cho rằng, con người chỉ thực hiện các hành vi đạo đức khi có sự thôi thúc bên trong, từ niềm tin
của chính mình, mà không ai có thể ra lệnh hay cưỡng bức. Hay nói cách khác, trong quan hệ đạo
đức Hegel đề cao vai trò chủ thể của con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status