SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................1
MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu. ........................................................................3
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu............................................................4
NỘI DUNG...................................................................................................4
2. Thực trạng ..............................................................................................14
1. Đóng góp của đề tài................................................................................33
3. Kiến nghị hướng phát triển đề tài...........................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc
Việt Nam trong mấy ngàn năm lịch sử. Nắm vững và vận dụng quy luật đó, ngày
nay Đảng ta khẳng định: “Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”.
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng xác định Giáo dục Quốc phòng - An
ninh là một bộ phận quan trọng trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, đáp ứng
yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Trong
những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Giáo dục Quốc phòng - An ninh
là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương
trình giáo dục của cấp THPT.
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
Nam. Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa và vận mệnh của đất nước đều nhận được sự quan tâm của mọi người
trong đó có học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước.
Lợi dụng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, chủ quyền của Việt Nam
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các thế lực thù địch trong và ngoài
nước đã tiến hành xuyên tạc, kích động nhằm chống đối cách mạng nước ta, làm
mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đối với học sinh là lực lượng
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
2
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
đông đảo và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội; là bộ phận năng động, nhạy
bén, có khả năng thích nghi cái mới nhanh, nhiệt tình, xông xáo; nhưng vốn sống
và kinh nghiệm ít, kiến thức và bản lĩnh chính trị có hạn, mức độ kiềm chế và
năng lực đề kháng trước những cám dỗ còn thấp, dễ bị lôi kéo bởi những nguồn
thông tin sai lệch.
Từ ý nghĩa và thực tiễn đó tôi chọn đề tài: “Giáo dục tình yêu biển, đảo
cho học sinh trường THPT Gia Hội, thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng –
An ninh. ” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An
ninh tại các Trường THPT trong toàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và trường
THPT Gia Hội nói riêng, đồng thời để bồi dưỡng đào tạo thêm kiến thức GDQP AN cho đội ngũ giáo viên.
Giúp học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn trong quá trình tiếp nhận tri thức
và kiến thức về tình yêu biển, đảo; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và biên giới
quốc gia.
của Việt Nam và các bản đồ về biển, đảo để đưa vào các tiết dạy sao cho sinh động
hợp lý, phát huy tính tích cực, tự học, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt
động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thức một
chiều phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay.
NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái quát về biển, đảo Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của Đông
Nam Á. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía Đông Bắc tới Kiên
Giang ở phía Tây Nam. Có 28/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam nằm ven biển,
chiếm 42% diện tích và 45% dân số cả nước; có khoảng 15,5 triệu người sống gần
bờ biển và hơn 175 ngàn người sông ở đảo. Tính trung bình tỉ lệ diện tích theo số
km bờ biển thì cứ 100km 2 có 1km bờ biển (so với trung bình của thế giới là
600km2 đất liền trên 1km bờ biển).
Biển đảo Việt Nam có thể chia thành 4 khu vực: Biển Đông Bắc (một phần
vịnh Bắc Bộ) nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam và tiếp giáp với Trung Quốc (đảo
Hải Nam); Biển Bắc Trung Bộ (một phần biển Đông) ở phía Đông Việt Nam; Biển
Nam Trung Bộ (một phần biển Đông) ở phía Đông Nam và vùng biển Tây Nam
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
4
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
(một phần vịnh Thái Lan) nằm phía Tây Nam của Việt Nam tiếp giáp với
Campuchia và Thái Lan.
Vùng biển Việt Nam bao gồm vùng nội thủy nằm bên trong đường cơ sở;
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên của Thế Giới
1.2. Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
1.2.1. Vùng nội thủy
Vùng nội thủy là vùng nước biển được xác định bởi một bên là bờ biển và
một bên khác là đường cơ sở của quốc gia ven biển. Vùng nước nội thủy thuộc chủ
quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ của quốc gia ven biển. Chủ quyền này bao
gồm cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên nội thủy.
Thực tế của các quốc gia có biển cho thấy, vùng nước nội thủy bao gồm
nhiều bộ phận có tính chất và quy chế pháp lý khác nhau. Trong vùng này các quốc
gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như
trên đất liền. Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy
mà không có một ngoại lệ nào.
Chủ quyền quốc gia ven biển trong vùng nội thủy được quy định rõ ràng và
chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, chủ quyền
quốc gia trong nhiều văn bản pháp luật, từ hiến pháp đến các luật và các văn bản
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
6
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
dưới luật như Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gia năm
Theo các văn bản pháp luật này, chiều rộng của lãnh hải Việt Nam đã tuyên
bố hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 3 Công ước năm 1982. Theo đó: “Với
điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay
không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải”.
Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh quốc phòng của
các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay.
1.3. Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia
1.3.1. Vùng tiếp giáp lãnh hải
“Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để
tính chiều rộng của lãnh hải” (điều 33 Công ước 1982).
Tuyên bố 1977 của Chính Phủ Việt Nam: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải
Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển
rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”.
Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng
không phải là một bộ phận của biển quốc tế. Về bản chất, vùng tiếp giáp lãnh hải là
vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển. Trên
vùng biển này, quốc gia ven biển ngăn ngừa và trừng trị những vi phạm về hải
quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
8
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Ngày 26/05/2011 ba tàu Hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 12, 17 và 84 cắt cáp của tàu
Bình Minh 02 đang làm nhiệm vụ thăm dò khảo sát địa chấn bằng phương pháp thu nổ tại lô
125 – 126 và 148 – 149 thuộc vùng lãnh hải của Việt Nam.
Nguồn: www.laodong.com.vn
1.3.3. Thềm lục địa
“Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy
biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của
lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến các
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục
địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (Công ước 1982).
“ Thềm lục địa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bao gồm
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt
Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào
bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải
Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ
đường cơ sở đó” (Tuyên bố của Chính Phủ Việt Nam 1977).
Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
10
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền. Mặt khác, các quyền chủ quyền
này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Cực Bắc: Đảo Đá Bắc
170 06’ 0”
1110 30’ 8”
Cực Nam: Bãi ngầm Ốc Tai Voi
150 44’ 2”
1120 14’ 1”
Cực Đông: Bãi cạn Gò Nổi
160 49’ 7”
1120 53’ 4”
Cực Tây: Đảo Tri Ôn
150 47’ 2”
1110 11’ 8”
Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Ôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh
Quảng Nam là 135 hải lý; đến Cù Lao Ré tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý. Tổng diện
tích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10km 2, đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm
13
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
180.000km2. Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại
rất ít, chỉ tổng cộng 11km2.
Về số lượng đảo theo thống kê của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao (vụ Biển
thuộc Ban Biên Giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi; không kể 05
bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam gồm: bãi Phúc Trần; bãi Huyền Trân; bãi
Quế Đường; bãi Phúc Nguyên; bãi Tứ Chính.
Nguồn: www.baoquangngai.com.vn
2. Thực trạng
2.1. Nội dung chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông, nội dung kiến thức trong các môn Địa Lý,
Lịch Sử và Giáo dục Quốc phòng – An ninh có đề cập đến vấn đề biển, đảo chưa
nhiều; chưa đảm bảo để thực hiện được Quyết định số 373/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc “ Phê duyệt đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý,
bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam”; và Quyết định số
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
14
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
15
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Khái quát về biển, đảo Việt Nam.
Khái quát về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Khái quát về quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
3.2. Một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam theo pháp luật quốc tế
- Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.
+ Vùng nội thủy.
+ Vùng nước lãnh hải.
- Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia.
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải.
+ Vùng đặc quyền kinh tế.
+ Thềm lục địa.
3.3. Một số kiến thức về lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa
- Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và
thực thi chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa, ít nhất là từ thế kỷ XVII.
Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục, hòa bình, phù hợp
với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Chúng ta có đầy đủ các bằng
chứng pháp lý và cứ liệu lịch sử có giá trị để chứng minh sự thật hiển nhiên này
qua các giai đoạn lịch sử có liên quan.
- Trước năm 1884.
+ Nhà nước Đại Việt thời Chúa Nguyễn đã xác lập và thực thi chủ quyền tại
Hoàng Sa (Suốt trong ba thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX; một tổ chức
của Nhà nước Việt Nam: Đội Hoàng Sa, là bằng chứng hùng hồn về xác lập và
truyền trong cộng đồng các nước thành viên tấm bản đồ thể hiện đường lưỡi bò
(đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn).
Ngày 26/05/2011 ba tàu Hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 12, 17 và
84 cắt cáp của tàu Bình Minh 02 đang làm nhiệm vụ thăm dò khảo sát địa chấn
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
17
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
bằng phương pháp thu nổ tại lô 125 – 126 và 148 – 149 thuộc vùng lãnh hải của
Việt Nam.
Ngày 21/06/2012 Trung Quốc tuyên bố thành lập cái gọi là “thành phố Tam
Sa” (Trung Quốc chọn đảo Phú Lâm và đặt tên là Vĩnh Hưng làm thủ phủ).
Ngày 02/07/2012 đội tàu tuần tra Trung Quốc gồm bốn tàu Hải giám mang
số hiệu 83, 84, 66, 71 đã rời bãi đá Chữ thập tại quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ
quyền không thể tranh cải của Việt Nam và bắt đầu các cuộc diễn tập tuần tra phi
pháp trên biển Đông.
10 giờ 00 ngày 12/07/2012 (giờ Việt Nam). Trung Quốc xua 30 tàu cá chia
thành hai biên đội gồm 6 tổ nhỏ từ cảng Tam Á đến khu vực gần đảo Đá Chữ Thập
thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Ngày 21/07/2012 Trung Quốc tổ chức Đại hội Đại biểu nhân dân khóa I,
trong đó có hơn 1100 cử tri thuộc ba đảo mà Trung Quốc gọi là “thành phố Tam
Sa” đi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân.
Ngày 24/07/2012 trên đảo Phú Lâm, bất chấp Luật pháp quốc tế và sự phản
đối từ phía Việt Nam và các nước ASEAN khác, Trung Quốc ngang ngược và
trắng trợn tổ chức lễ ra mắt cái gọi là “thành phố Tam Sa”. Buổi lễ được truyền
hình trực tiếp trên đài truyền hình trung ương Trung Quốc.
giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; đi ngược lại tinh thần tuyên bố
về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung
Quốc. Những việc làm của phía Trung Quốc là hoàn toàn vô giá trị.
3.5. Một số bản đồ chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
không thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (NXB Thượng Hải 1904)
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
19
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của Trung Quốc được thực
hiện dưới thời nhà Thanh) Xuất bản năm 1904 ghi rõ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam,
không hề bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa. Nguồn www.hanoimoi.com.vn
Bản đồ An Nam Nhất Thống toàn đồ (đời Minh Mạng 1820 – 1841)
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
20
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Nguồn: www.tintuc.hoasen.edu.vn
Bản đồ Phủ Biên Tạp Lục.
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
23
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Đây là một trong những bản đồ của cuốn sách “Phủ Biên Tạp Lục” do Lê Quý Đôn (1726 –
1784), một nhà Bác học Việt Nam biên soạn năm 1776. Lê Quý Đôn mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý,
tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa; công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần
đảo này.
Nguồn: www.biengioilanhtho.gov.vn
Bản đồ Hàng hải Châu Âu (thế kỷ XV – XVI)
Nguyễn Đức Huyền Thắng – Trường THPT Gia Hội, Thành Phố Huế - Tỉnh TT. Huế
24
SKKN: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT Gia Hội,
thông qua bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh.
Bản đồ hàng hải Châu Âu (TK XV – XVI), thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như
hình cờ đuôi nheo
Nguồn: www.biengioilanhtho.gov.vn