Giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho học sinh trường THPT lam kinh thông qua việc đọc hiểu các bài thơ mới - Pdf 44

GIÁO DỤC TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT LAM KINH THÔNG QUA VIỆC ĐỌC HIỂU
CÁC BÀI THƠ MỚI.
1.
Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước Việt Nam nhỏ bé nhưng ẩn chứa bao điều đặc biệt. Mỗi một vùng
quê đều mang một màu sắc riêng với những địa danh, phong tục, lễ hội độc đáo. Ở
đó còn có biết bao vị quê: Là vị mặn mòi của biển, là mùi thơm rơm rạ, là mát ngọt
bát nước chè xanh ... Những hình ảnh giản dị, thân thương ấy cứ như dòng suối
nhỏ, mát lành, là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm, trở thành cội nguồn
sức mạnh của mọi suy nghĩ hành động, sáng tạo trong mỗi người.
Thế hệ trẻ hôm nay đang lớn lên trong một thế giới hội nhập, thế giới của công
nghệ thông tin đa chiều, tiếp xúc với những nền văn hóa đa dạng nên nhiều học
sinh, sinh viên sống trong thế giới ảo, vô cảm trước truyền thống văn hóa dân
tộc, tình yêu quê hương, yêu gia đình ... Một bộ phận không nhỏ có lối sống
thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, danh vọng. Họ trở nên lãnh cảm, thờ ơ
trước mọi người, mọi việc; Thờ ơ trước thời cuộc và yêu cầu phát triển của đất
nước. Trước tình hình ấy, nhiều câu hỏi được đặt ra: Phải chăng, lớp trẻ ngày
nay không có tình cảm yêu nước? Đem băn khoăn ấy hỏi nhà sử học Dương
Trung Quốc, ông khẳng định: “Lòng yêu nước của con người Việt Nam vẫn sâu
sắc, mạnh mẽ. Đã là người Việt Nam đều có lòng yêu nước. Khi có cơ hội, họ sẽ
thể hiện tình cảm đó của mình ... Vấn đề ở đây là chúng ta phải biết cách tập hợp
được lòng yêu nước, định hướng nó vào những lối phát triển đúng đắn...”
Như vậy, gia đình, nhà trường và xã hội phải đặt công tác giáo dục tình
yêu quê hương đất nước lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ then chốt trong công
tác đào tạo con người.
Là một môn khoa học xã hội, giáo dục tình cảm yêu nước là một lợi thế
của môn Ngữ văn. Một bài học văn không chỉ giúp học sinh thấy cái cái hay, cái
đẹp của câu, từ, chữ nghĩa của tiếng mẹ đẻ. Quan trọng hơn, học sinh có thể
khám phá, chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của quê hương đất nước, những giá trị

- Học sinh các lớp 11B2, 11B5 – Trường THPT Lam Kinh – Năm học 2016 –
2017.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát, thống kê kết quả tiếp nhận Thơ mới 1930 – 1945 của
học sinh lớp 11 – trường THPT Lam Kinh.
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm tích hợp liên môn: Vận dụng kiến
thức của nhiều môn học có liên quan để giải quyết vấn đề.
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quat.
2.
Nội dung:
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục tình cảm yêu nước cho học sinh
trung học phổ thông.
2.1.1.1 Lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam:
Trong số những vấn đề cần giáo dục thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt
lên hàng đầu vấn đề giáo dục tinh thần yêu nước, Trong năm điều Bác dạy thiếu
niên nhi đồng thì điều thứ nhất là “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào”. Đối với thanh
niên, Bác yêu cầu “Trước hết là phải yêu tổ quốc, yêu nhân dân, phải có tinh
thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn”[1]. Tinh thần yêu nước,
như Bác khẳng định, là vốn quý, là sức mạnh tuyệt vời đã bao lần giúp dân tộc
ta đứng vững trước những thử thách nghiệt ngã của lịch sử.
Trong giáo dục đạo đức cho học sinh, việc giáo dục đạo đức truyền thống
của dân tộc là rất quan trọng. Những giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống
của dân tộc Việt Nam được lưu giữ, truyền lại cho các thế hệ và không ngừng
được phát huy qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng, oanh liệt.
Giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống của cha ông ta tựu chung lại, có
những nội dung cơ bản:
Sống hòa thuận, đoàn kết, thương yêu đồng bào, đồng loại. “Thương
người như thể thương thân”, nhất là những người gặp hoạn nạn, khốn khổ. Tình

Học sinh trung học phổ thông là thời kỳ đầu của lứa tuổi thanh niên, là lớp
người trẻ tuổi, có hoài bão, ước mơ và luôn khát khao hướng tới lý tưởng sống
cao đẹp. Đó là lứa tuổi có sức khỏe, trí lực dồi dào, ham hiểu biết, tự thể nghiệm
mình. Lứa tuổi có tính nhạy cảm với cái mới và cái đẹp, cái tiến bộ. Họ là lớp
người đại biểu cho tương lai của đất nước.
Học sinh THPT là một bộ phận thanh niên được giáo dục trong nhà
trường, được cả xã hội quan tâm chăm sóc, đào tạo bài bản, có mục đích trở
thành lực lượng lao động và quản lý xã hội; Là đội dự bị, nguồn lực chủ chốt
của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tương lai. Các em chính là lực lượng nòng cốt
đóng góp trí tuệ và sức lực cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Sự phát triển lâu dài của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào lứa tuổi này. Tại
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH trung ương Đảng (Khóa VII) đã nêu: “Sự
nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có xứng
đáng trong cộng đồng quốc tế hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước
trên con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng
thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thanh niên.
Tóm lại, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thanh niên, học
sinh THPT có vai trò, vị trí hết sức quan trọng. Vì thế, Đảng và toàn dân ta phải
chăm lo bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ thành những con người vừa hồng vừa
chuyên xứng đáng là người chủ tương lại của nước nhà. Giáo dục lòng yêu nước
cho học sinh là không chỉ trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về lịch
sử dân tộc và thế giới mà mục đích lớn nhất là giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các
3


giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con
người, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
2.1.1.3. Vai trò của môn Ngữ văn trong việc giáo dục tình cảm yêu nước
cho học sinh THPT.
Ngữ văn là một bộ môn khoa học gồm nhiều phân môn: Tiếng Việt, Đọc

động tinh tế, sâu sắc trước mọi vẻ đẹp của cuộc đời, hướng họ đến chân, thiện,
mỹ mà văn học còn góp phần hoàn thiện nhẫn cách con người, hướng họ đến
những hành động cụ thể, thiết thực vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn.
Riêng với Thơ mới – Đã từng có một thời ta coi đó là tiếng nói tình cảm
cá nhân ủy mị, tiêu cực. Là những tư tưởng thoát ly thực tế, Là lời rên xiết đắng
cay của những con người không tìm thấy lý tưởng của cuộc đời. Tuy nhiên, cùng
với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả, tác phẩm văn học lãng
mạn được nhìn nhận khách quan,công bằng và trên tinh thần nhân văn. Chúng ta
không thể phủ nhận được rằng, trong Thơ mới, tình yêu quê hương đất nước
được thể hiện rất cảm động, thiết, giản dị mà sâu sắc. Và việc truyền bá, thưởng
4


thức những tác phẩm văn học lãng mạn cũng là một cách giáo dục lòng yêu
nước cho thế hệ trẻ hôm nay.
2.1.1.4. Ý nghĩa của việc giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh, thanh
niên:
Từ nhận thức về vị trí, vai trò của học sinh, thanh niên đối với công cuộc
bảo về và dựng xây đất nước, nhận thấy rằng, việc giáo dục tình yêu quê hương
đất nước cho các em có ý nghĩa vô cùng to lớn: Hình thành ở các em lòng mến
yêu, tự hào, gắn bó với quê hương. Từ đó, giác ngộ cho học sinh mục tiêu, lý
tưởng của Đảng, lập trường cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung
thành với Đảng, với tổ quốc và nhân dân. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu
và là phẩm chất cơ bản nhất của một người Việt Nam yêu nước.
Giáo dục tình cảm yêu nước là giúp cho học sinh có khả năng ứng phó
thông minh với những mưu đồ “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc;
Chiến thắng mọi cám dỗ của tiền tài, danh vọng … nâng cao tinh thần cảnh giác
cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch.
Giáo dục tình cảm yêu nước cho học sinh là để cho các em thấy được nỗi
nhục của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, từ đó quyết tâm xây dựng một đất


“một tiếng chuông cảnh tỉnh làng thơ giữa lúc đang triền miên trong cõi
chết”[3]. Từ đó, qua những chặng đường đấu tranh bằng cả lý luận và thực tiễn
sáng tạo với một loạt các tên tuổi sáng chói đã khiến phong trào Thơ mới trưởng
thành và giành chiến thắng hoàn toàn trước thơ cũ: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,
Nguyễn Nhược Pháp rồi đến Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính,
Hàn Mặc Tử … cùng một loạt các tác giả khác đã tạo nên một dàn hợp ca với
nhiều cung bậc độc đáo.
Khuynh hướng chung của thời kỳ Thơ mới là khuynh hướng lãng mạn, là
lý tưởng thẩm mỹ của cái “tôi” tác giả, thẩm mỹ hóa cuộc sống rối ren, tơi bời
của xã hội thực dân nửa phong kiến và là tâm trạng buồn sầu, u uất, lạc lõng
giữa dòng đời.
Đặc điểm nổi bật của phong trào Thơ mới là sự khẳng định cái tôi cá
nhân. Cái tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh
của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Thơ mới còn mang một nỗi
buồn, nỗi cô đơn sâu sắc, đó là nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn của thời đại mất nước
tan nhà, nỗi buồn của những thanh niên trí thức không tìm thấy lý tưởng của
cuộc đời. Và vì bất mãn trước thực tại xã hội, các nhà thơ mới tìm đến thiên
nhiên và tình yêu như là một sự giải thoát. Ở đó, họ gửi gắm những tâm sự u ẩn
của mình, ở đó, họ thể hiện những khát khao mộng tưởng đẹp đẽ, và ở đó họ
cũng giãi bày tình cảm yêu nước kín đáo và thiết tha của những người dân mất
nước.
Chương trình Ngữ văn lớp 11 THPT dành 7 tiết để học các bài thơ mới:
“Vội vàng” – Xuân Diệu; “Tràng giang” – Huy Cận”; “Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn
Mặc Tử; Đọc thêm “Chiều xuân” – Anh Thơ; “Tương tư” – Nguyễn Bính và 2
tiết học bài nghị luận về Thơ mới “Một thời đại trong thi ca” – Hoài Thanh. Đó
là một thời lượng không nhỏ, đòi hỏi người giáo viên không chỉ hướng dẫn cho
học sinh khám phá, tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong mỗi thi phẩm thơ mới. Quan
trọng hơn là từ chiều sâu của những thi phẩm đó, hình thành cho học sinh những
phẩm chất nhân văn, trong đó có tình yêu quê hương đất nước.

trong “Chiều xuân” của Anh Thơ với bãi cỏ xanh, đàn bò hiền lành, mưa xuân
nhẹ nhẹ và những cô gái trẻ trung, gợi cảm … Tình yêu quê hương đất nước của
các nhà thơ mới được biểu hiện rất sinh động, cụ thể, phong phú. Đó là:
- Tình yêu quê hương thể hiện trong nỗi buồn của người dân mất nước:
Thơ mới là tiếng nói mới của cái tôi cá nhân, cái tôi sáng tạo xuất phát từ
mối quan hệ bất hòa trước thực tại trên cả hai phương diện: Nhân sinh và thẩm
mỹ. Nói đến cái tôi cá nhân là nói đến sự cô đơn. Biểu hiện thường trực của cô
đơn là nỗi buồn. Thơ mới ngập tràn nỗi buồn.
Nếu như văn trung đại có sự điều tiết rất lớn của lý trí, cái tôi cộng đồng
nên nỗi buồn ít được bộc lộ trực tiếp mà ẩn hiện sau ngôn từ, nấp sau cảnh vật,
thì Thơ mới không như vậy, nó để nỗi buồn ngang nhiên xuất lộ: Hôm nay trời
nhẹ lên cao / Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn (Xuân Diệu). Nó thường hằng:
Với tôi, tất cả đều vô nghĩa / tất cả không ngoài nghĩa khổ đau. (Chế Lan Viên).
Nó dai dẳng: Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn
buồn. (Huy Cận)…
Nỗi buồn chất chứa trong Thơ mới có nguyên nhân trước hết là do bản
chất người nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ lãng mạn. Cơ chế văn chương lãng mạn là cái
tôi cô đơn – một trạng thái cảm xúc – tinh thần không được chia sẻ và không
chia sẻ được. Cô đơn là điều kiện sáng tạo, là phẩm chất nghệ sĩ, phẩm chất tài
năng lớn.\
Một nguyên nhân khác là các nhà thơ mới coi cái buồn, cái đau là một
phạm trù mỹ học. cái buồn đã thấm sâu vào quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ.
Huy Cận quan niệm: “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”, với Hồ Dzếnh thì:
“Tình mất vui khi đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” …
Nỗi buồn Thơ mới vừa nằm trong quan niệm lại vừa là kết quả của sự tác
động ngoại cảnh. Cái tôi lý tưởng của thơ mới khi va đập thực tế nghiệt ngã của
thời đại – xã hội thực dân phong kiến – đã mất phương hướng, mất chỗ bấu víu,
đành phổ nỗi buồn vào thơ. Đâu đâu cũng bàng bạc nỗi buồn, đúng như Hoài
Thanh đã viết: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề
sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu

thi pháp văn học trung đại, quê hương và con người Việt Nam mới được nhìn
theo đúng sự gần gũi và chân thật của nó.
Thiên nhiên trong Thơ mới không tập trung, hạn định theo một số đề tài
nhất định mà mở rộng, phổ quát với nhiều không gian, nhiều hình tượng. Có
trăng, có hoa, có mùa xuân, mùa thu, có phố thị, có nông thôn … Và mỗi nhà
thơ lại có sự phát hiện, khám phá rất riêng về những hình tượng này: Tản Đà tìm
đến trăng để thoát tục, chạy trốn cuộc đời: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi / Trần
thế em nay chán nửa rồi… ; Hàn Mặc Tử mơ về bến sông trăng với niểm hoài
vọng kín đáo về một mối tình chưa hẹn ước: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó /
Có chở trăng về kịp tối nay …; Với quan niệm tương giao và tâm hồn tinh tế,
Xuân Diệu tạo nên những thơ trăng thật đẹp: “Trăng nhập vào dây cung nguyệt
lạnh / Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh”; Không miêu tả “trăng mờ, trăng
ngẩn ngơ”, “trăng lả lơi” như một số thi nhân khác,Thế Lữ tả trăng ở chốn rừng
thiêng. Phong cảnh ấy thật hùng tráng, lãng mạn bởi hình tượng “Nào đâu
những đêm vàng bên bò suối / Ta say mối đứng uống ánh trăng tan” .
Hình tượng mùa xuân trong Thơ mới cũng vậy. Có những mùa xuân tươi
tắn đậm đà sắc quê trong thơ của Hàn Mặc Tử: “Trong làn nắng ửng, khói mơ
tan / Đôi mái nhà gianh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn
thiên lý bóng xuân sang … ; Có những mùa xuân hồng hào, tình tứ, nồng căng
nhựa sống trong thơ Xuân Diệu: Của ong bướm, này đây tuần tháng mật / Này
đây hoa của đồng nội xanh rì / … Và này đây, ánh sáng chớp hàng mi / Mỗi
buổi sáng thần vui hằng gõ cửa / Tháng giêng ngon như một cặp môi gần … ;
8


Nhưng cũng có những mùa xuân buồn chán, bi quan trong cảm nhận của Chế
Lan Viên: Tôi có chờ đâu, có đợi đâu / Đem chi xuân đến, gợi thêm sầu / Với
tôi, tất cả đều vô nghĩa / tất cả không ngoài nghĩa khổ đau …
Quê hương chúng ta vốn có vẻ đẹp dân dã, bình dị nhưng không kém phần
quyến rũ, mê say, thiêng liêng, cao cả. Vẻ đẹp đó không ở đâu xa mà nằm ngay

khách đường xa / Áo em trắng quá nhìn không ra / ở đây sương khói mờ nhân
ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà. Chất tình của con người ở đây nhiều hơn chất
hình. Bóng áo trắng của em đã trở thành một điểm sáng, mà cái “điểm sáng” ấy
trong tâm hồn con người không dễ ai cũng có thể khám phá ra được. Người Việt
Nam là vậy, e ấp, kín đáo, dịu dàng hầu như đã trở thành bản chất, không phơi
bày ra ngoài lộ liễu. Chính vì thế, khi miêu tả con người, các nhà thơ thường
khai thác vẻ đẹp ở chiều sâu tâm hồn hơn là đẹp nhan sắc bên ngoài.
Điều này, ta cũng bắt gặp trong thơ Nguyễn Bính – nhà thơ của thôn quê
Việt Nam. Con người trong thơ ông được phác họa và miêu tả với nét đẹp rất
quê mùa, trong sáng, dịu dàng, thanh khiết. Đó là những cô thiếu nữ chân quê
9


hồn hậu, chưa vương vấn bụi đời: “Em là con gái trong khung cửi / Dệt lụa
quanh năm với mẹ già / Lòng trẻ còn như cây lụa trắng / Mẹ thời chưa bán chợ
đường xa … Vẻ đẹp ấy chỉ có ở con người Việt Nam, và Nguyễn Bính đã cố
công khai thác, miêu tả theo cách của mình để góp vào thơ mới cách nhìn riêng
về con người Việt Nam, quê hương Việt Nam thân thiết.
Qua những thi phẩm Thơ mới, ta thấy quê hương và con người Việt Nam
hiện lên gần gũi, chân thực, sống động và gợi cảm. Vẻ đẹp ấy khiến ta hiểu thêm
và yêu thêm quê hương, đất nước mình.
- Tình yêu quê hương trong Thơ mới thể hiện trong tình yêu đối với
những làng quê truyền thống.
Thi ca Việt nam trước đó đã bao lần miêu tả vẻ đẹp của phong cảnh làng
quê. Song về cơ bản, hầu hết những bức tranh quê trong thơ cổ điển nặng tính
ước lệ nên màu sắc dân tộc còn mờ nhạt. Ngay cả Nguyễn Khuyến được Xuân
Diệu coi là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” thì màu sắc dân tộc trong những
bức tranh quê của ông cũng chưa thật đậm đà, rõ nét. Phải đến Thơ mới, phong
cảnh làng quê mới thực sự “đậm đà phong vị quê hương” (Hoài Thanh). Con
đường làng trong thơ Huy Cận không còn xa lạ với “dặm liễu sương sa”, “ngàn


Việt Nam thì “dẫu phải theo chồng thân phận gái / Đường về quê mẹ vẫn không
quên” … vẻ đẹp tâm hồn người dân quê, nhất là vẻ đẹp của người phụ nữ đã
góp phần làm cho vẻ đẹp Việt Nam, tính cách Việt Nam tỏa sáng trong thơ.
Nặng tình với dân tộc, thi sĩ Thơ mới còn đặc biệt thiết tha, trân trọng vẻ đẹp
trong sinh hoạt văn hóa làng quê để từ đó, Thơ mới có hẳn một không gian văn
hóa làng quê. Các thi sĩ say sưa viết và viết đầy gợi cảm về ngày “hội làng”,
“hội cheo”, “hội chùa”, những đám cưới mùa xuân … rồi cảnh ngày Tết mồng
năm, Rằm tháng tám, “lễ vào hè” … Đặc biệt là tết Nguyên đán – Thơ mới có
hẳn một chùm thơ phong phú về đề tài này: “Chợ tết”, “Năm mới”, “Tết quê
bà”. (Đoàn Văn Cừ), “Chiều ba mươi tết”, “Đêm ba mươi tết”, “Ngày tết” (Anh
Thơ), “Xuân tha hương”, “Tết của tôi” (Nguyễn Bính) … Với bao phong tục cổ
truyền đẹp đẽ ấy, Têt với người dân quê thực sự là một sự kiện trọng đại, thiêng
liêng. Vì thế, khi phải xa quê khi tết đến, xuân về, mỗi người Việt Nam luôn
khắc khoải sống với tâm trạng nhớ da diết “Lênh đênh tóc rối cỏ bồng / Chiều
ba mươi tết ai không nhớ nhà” …
Có thể nói, chưa bao giờ trong thi ca trước đó, vẻ đẹp của văn hóa làng,
phong tục tập quán cha ông lại được miêu tả chân thực, sống động, phong phú
và hấp dẫn như trong Thơ mới. Chính ở những bài thơ hiện đại mà vẫn mang
phong vị chân quê này, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được lưu
giữ, bảo tồn, và ở đó, những thi sĩ lãng mạn cũng thể hiện niềm tự hào, tình yêu
tha thiết của mình đối với quê hương, đất nước.
- Tình yêu quê hương đất nước trong Thơ mới thể hiện trong tình yêu
Tiếng Việt.
Thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ ca. Chưa bao giờ trên thi đàn
thơ Việt Nam lại có sự xôn xao, náo nức đến vậy. Tiếng Việt được thăng hoa với
những nỗi niềm cảm xúc mới mẻ, táo bạo, rạo rực vô cùng. Nhà phê bình Hoài
Thanh đã từng nhận xét: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỷ đã
chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng
Việt”[5].

chuốt từ ngữ, hình ảnh để thể hiện ý tưởng.
Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật, ngôn từ, câu chữ, hình ảnh, nhịp
điệu, các biện pháp tu từ … các nhà thơ mới đã thể hiện sinh động trong thơ
những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh trí non sông. Từ tiếng Việt mà
những hình ảnh “Của ong bướm, này đây tuần tháng mật / Này đây hoa của
đồng nội xanh rì, / Này đây lá của cành tơ phơ phất, / Của yến anh, này đây
khúc tình si” … Hoặc “ Nhà em có một giàu giầu / Nhà anh có một hàng cau
liên phòng” … trở nên cụ thể, sống động, gợi cảm chứ không ước lệ, chung
chung như trong thơ cổ nữa. Đấy là hình ảnh của quê hương, đất nước Việt
Nam, hiện lên bằng chính ngôn ngữ, tiếng nói của con người Việt Nam. Không
chỉ vậy, tiếng Việt còn có thể gợi lên những khát vọng mãnh liệt của con người
Việt Nam hôm nay – khát vọng sống nhiệt tình, cháy bỏng, có ý nghĩa trong
từng phút, từng giây của cuộc đời: “Ta muốn ôm … cả sự sống mới bắt đầu mơn
mởn / Ta muốn riết mây đưa và gió lượn. / Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
… Có thể thấy, Thơ mới đã trau dồi tiếng Việt, làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam
uyển chuyển, hiện đại, mượt mà, chứa đựng nhiều năng lượng trữ tình. Đó cũng
là cách thi nhân ta gửi gắm tình cảm yêu nước thầm kín mà thiết tha của mình.
Từ Thơ mới, ta chợt hiểu ra yêu quê hương trước hết là phải là yêu
thương gắn bó với mảnh đất – con người quê hương, biết rung động trước những
vẻ đẹp của quê hương đất nước, vui buồn với vận mệnh dân tộc. Tình yêu quê
hương bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, sự
gắn bó với gia đình, làng quê. Đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp
phần làm thanh lọc tâm hồn con người. Đó cũng là tình cảm gắn kết cá nhân với
cộng đồng, tạo nên sự đồng cảm, sự lắng đọng sâu sắc và thường trực trong trái
tim con người. Chính sự gắn kết ấy làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, thành ý
chí bất khuất, sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ đất nước, đánh đuổi ngoại
xâm, xây dựng đất nước đàng hoàng, to đẹp hơn.
2.2. Thực trạng vấn đề:
Trong các nhà trường hiện nay, việc dạy phần đọc hiểu văn học rất
được chú trọng vì đây là nội dung chính có trong bài thi THPT Quốc gia của học

bài, ngay cả khâu kiểm tra bài trên lớp cũng chỉ dừng lại ở chỗ bắt học sinh tái hiện
lại kiến thức do thầy đã dạy ở bài trước hay yêu cầu học sinh thuộc lòng bài thơ …
Và vấn đề then chốt là học sinh chưa được phát huy tính tích cực trong học tập.
Làm việc theo lối mòn, tư duy theo những điều đã cũ … Hiệu quả bài dậy chưa
cao. Cũng vì thế mà tình cảm nhân văn chưa được xác định rõ.
Trong những năm học trước, chúng tôi đã làm một cuộc điều tra kết quả
tiếp nhận Thơ mới của học sinh một số lớp 11 – Trường THPT Lam Kinh. Quá
trình điều tra cho thấy đa số học sinh không có cảm hứng gì khi đọc Thơ mới.
Nhiều em không thuộc thơ, viết bài về Thơ mới với tình cảm hời hợt ..
2.3 Các giải pháp:
2.3.1. Khơi gợi hứng thú từ các giờ học văn bằng cách sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực: Tạo tâm thế chủ động học tập, Sử dụng công nghệ
thông tin, tạo điểm nhấn bằng những lời bình hay, kiến thức sâu rộng …
Bộ môn ngữ văn hiện nay ít hấp dẫn đối với học sinh là vì những vấn đề
mà tác phẩm đặt ra không hiển thị ngay bằng hình ảnh, đường nét, sắc màu, âm
thanh mà ản sau câu chữ, lời văn. Trong khi đa số học sinh rất hiếu động, ít tập
trung tư duy, không nghiền ngẫm, chiêm nghiệm … Bởi thế, để truyền thụ
thành công ý tưởng trong một tác phẩm văn học, đầu tiên là phải tạo tâm thế chủ
động, hứng thú cho người học.
Tạo tâm thế thực chất là việc giáo viên tạo cho học sinh một tư thế vững
vàng, một tâm lý thoải mái, một niềm say mê, hứng thú khi tiếp cận một tác
phẩm văn học cụ thể. Tôi đã tạo ra sự hứng thú ấy bằng nhiều cách:
13


- Sử dụng lời vào bài hấp dẫn: Vì văn học là một môn nghệ thuật. học văn là
học cách khám phá cái đẹp của tự nhiên, cái đẹp của xã hội, của con người, nên
không chỉ dùng lý trí mà quan trọng hơn là phải giúp các em cảm nhận được vẻ
đẹp ấy bằng tâm hồn và rung động của con tim.
Giới thiệu bài mới hấp dẫn sẽ tạo ra một tâm thế nhập cuộc cho học sinh

sắc. Đây chính yếu tố quan trọng vào bậc nhất để tạo thiện cảm với các em học
sinh. Muốn làm được điều này, tôi đã phải tìm tòi, học hỏi, không ngừng nâng
cao trình độ hiểu biết và chuyên môn.
- Hỗ trợ bài giảng bằng đồ dùng dạy học hoặc ứng dụng công nghệ thông tin.
Do đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi, học sinh THPT rất nhạy cảm với cái mới,
thích khám phá, tìm hiểu cái lạ. Những hình ảnh trực quan về phong cảnh, danh
lam, đất nước, con người nếu được trình chiếu trên màn hình sẽ giúp các em dễ tiếp
nhận và hiểu biết hơn. Nhờ có công nghệ thông tin, sẽ có những hình ảnh sinh
động, hấp dẫn về tác giả, tác phẩm, chi tiết về bài học. Bởi vậy, tôi đã lựa chọn
những hình ảnh phù hợp để học sinh tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quê hương.
14


Dạy bài “Vội vàng”, tôi chọn lựa những bức ảnh về mùa xuân tươi đẹp, có
ánh nắng, có đồng cỏ xanh, có sắc hoa, ong bướm …
Dạy “Tràng giang”: Chọn hình ảnh những dòng sông lớn mênh mang,
khoáng đạt, những ngọn núi hùng vĩ, những cánh đồng bát ngát …
Với “Đây thôn Vĩ Dạ” – Lựa chọn hình ảnh làng quê yên bình, dòng sông
Hương thơ mộng …
Qua những bức tranh sinh động ấy, học sinh tận mắt thấy vẻ đẹp của quê
hương mình từ đó thêm tự hào, yêu quý quê hương.
2.3.2. Tích hợp cùng các môn học: Lịch sử, địa lý, giáo dục công dân để
khơi gợi lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ.
Qua quá trình giảng dạy ngữ văn nhiều năm ở trường phổ thông, bản thân
tôi rút ra một kinh nghiệm mà tôi cho rằng rất quý: Khi sử dụng kiến thức lịch
sử, địa lý vào bài giảng văn, học sinh sẽ chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất hào
hứng, sôi nổi. các em phát biểu, tranh luận nhiều, giờ học hấp dẫn hơn. Mức độ
hiểu biết và tiếp thu bài của học sinh tốt hơn, hiệu quả giáo dục kỹ năng sống, lý
tưởng sống cho học sinh cao hơn.
Dạy bài thơ “Vội vàng”: Tôi dùng kiến thức văn hóa để giúp học sinh


2.3.3. Dùng phương pháp đàm thoại, liên hệ, so sánh để học sinh cảm nhận
được vẻ đẹp của quê hương, từ đó biết yên mến, tự hào về mảnh đất mình
đã sinh ra.
Đàm thoại là phương pháp mà giáo viên căn cứ vào nội dung bài học khéo
léo đạt ra câu hỏi để học sinh căn cứ vào kiến thức đã có kết hợp với sự hướng
dẫn của giáo viên qua các thiết bị giảng dạy để làm sáng tỏ vấn đề.
Trong khi đàm thoại, khuyến khích học sinh tư duy, liên tưởng, tưởng tượng về
những vẻ đẹp mà bài thơ thể hiện, vẻ đẹp của quê hương mình, tình cảm của thi
nhân đối với đất nước, tình cảm của bản thân đối với quê hương.
Bên cạnh những câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung, nghệ thuật
của tác phẩm, tôi đặt thêm các câu hỏi:
- Em hình dung như thế nào về vườn xuân, thiên đường trong “Vội vàng”?
- Hình ảnh “Tuần tháng mật”, “Ánh sáng chớp hàng mi”, “Tháng giêng
ngon như một cặp môi gần” được hiểu như thế nào?
- Cuộc đời trần thế trong thơ Xuân Diệu rất hấp dẫn. Còn trong đôi mắt của em?
- Lý tưởng sống của em và thanh niên ngày nay là gì?
+ Em hình dung như thế nào về bức tranh “Tràng giang”?, thôn Vĩ?
+ Hình ảnh làng quê xưa trong tưởng tượng của em?
+ Hình ảnh quê hương em có nét gì tương đồng với những bức tranh em vừa
chiêm ngưỡng trong “Tràng giang”, “Đây thôn Vĩ Dạ”, “Chiều xuân”? ...
+ Em cảm nhận được gì về nỗi lòng tác giả thể hiện qua mỗi bài thơ?
+ Tình cảm của em đối với quê hương mình?
+ Em sẽ làm gì để xây dựng cho quê hương đẹp hơn? ...
Bằng việc sử dụng các câu hỏi gợi mở và khuyến khích học sinh liên tưởng với
quê hương mình, tôi nhận thấy các em rất hứng thú, sôi nổi bàn luận, vì thế giờ
học rất sôi nổi và việc lồng ghép giáo dục ý thức công dân trở nên nhẹ nhàng,
hiệu quả hơn.
2.3.4. Dẫn dắt, phân tích để học sinh nhận thức về vẻ đẹp của ngôn ngữ
tiếng Việt – Tiếng nói của dân tộc Việt – nơi các nhà thơ mới gửi gắm tình

sáng tạo ngôn ngữ thơ trữ tình trung đại. Các nhà thơ mới đã tiếp nhận tinh thần
đổi mới này từ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát … và làm cho ngôn
ngữ thơ ca dịch chuyển gần hơn với ngôn ngữ truyền thống, gần hơn nữa với lời
ăn tiếng nói của nhân dân. Dạy “Tràng giang”, tôi gợi mở, hướng dẫn cho học
sinh thấy được điều này. “Tràng giang” là bài thơ mang đậm phong vị cổ điển từ
thi hứng, cảm xúc chủ đạo, hình ảnh thiên nhiên, con người, cách sử dụng ngôn
ngữ … “Tràng giang” cũng đậm chất hiện đại. Cái mới mẻ, sáng tạo này nằm
trên chính những yếu tố truyền thống của thơ ca trung đại.
Nhan đề “Tràng giang” mang sắc màu cổ kính, xa xưa, gợi liên tưởng về
sông Trường Giang đầy ắp những dữ liệu văn hóa, thi ca. Nhưng với việc đổi
mới, sáng tạo biến “Trường” thành “Tràng”, dòng sông ấy đã mang sắc màu dân
tộc và hiện đại – dòng sông dài, rộng của quê hương Việt Nam, dòng sông
mang nỗi niềm của con người Việt Nam …
Bên cạnh những hình ảnh, cách nói ước lệ, bóng gió, cầu kỳ, “Tràng
giang” còn có những hình ảnh, những cách nói giản dị, thô ráp, mang hơi thở
đời thường. “Củi một cành khô lạc mấy dòng” - Câu thơ đã tạo ra được nỗi ám
ảnh về thân phận con người nhỏ bé, cô đơn, vô nghĩa, lạc loài trên dòng đời vô
tận – đó cũng là nỗi niềm của con người sống trong thời đại mất nước đầu thế
kỷ; Sự sáng tạo trong cách diễn đạt: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót” khiến
không gian vũ trụ mở rộng đến tận cùng, vô biên. Đất trời, sông nước dài, rộng,
cao, sâu thăm thẳm, diệu vợi, vì thế mà sự sống càng mong manh, nhỏ bé …
Đặc biệt nhất trong “Tràng giang” là sự sáng tạo tứ thơ Đường của Thôi
Hiệu. Nhà thơ mới mượn ý thơ của người xưa và dùng cách nói của mình để
trực tiếp bộc lộ tình cảm nhớ quê, nhớ nước. “Không khói hoàng hôn cũng nhớ
nhà” - Lời thơ giản dị như một lời tâm sự, giản đơn, mộc mạc mà da diết, sâu
xa đến vô cùng. Tiếp thu thơ phương Đông nhưng Thơ mới đã thoát khỏi sự
mực thước, đoan trang, u trầm của thơ phương Đông để tạo cho ngôn từ một
dáng vẻ trẻ trung, hiện đại.
Thơ mới đã góp phần căn bản cải tạo thơ tiếng Việt. Ngôn từ thơ mới là
phương diện thể hiện đậm nét dấu ấn dân tộc. Điều đáng nói là ngay cả những

yêu, tự hào về quê mình, có chung lý tưởng xây đắp, bảo vệ giang sơn, tổ quốc.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi thấy hiệu quả học tập ở học sinh
được nâng cao rõ rệt. Các em nhiệt tình học tập, nhiệt tình thuộc lòng nhiều bài
thơ mới. Chất lượng bài viết về quê hương rất tốt, nhiều bức tranh vẽ về quê
hương rất sinh động. Quan trọng hơn là qua mỗi tác phẩm, các em đều thể hiện
rõ tình cảm mến yêu, tự hào về đất nước, quê hương mình.
Nhìn vào bảng thống kê kết quả học tập của các lớp 11A1, 11A5 năm học
2015 - 2016 và hai lớp 11B2, 11B5 năm học 2016 – 2017 (Sau khi áp dụng
SKKN), ta sẽ thấy rõ điều này.
- Về tình cảm đối với các bài Thơ mới và khả năng học thuộc lòng bài thơ.
Lớp

Sĩ số

Thích học

Không thích

Thuộc thơ

Không thuộc

11A1

45

20 – 44,4%

25 – 55,6%


42

37 – 88,1%

05 – 11,9%

42 – 100%

0 – 0%
18


-

Về chất lượng viết bài “Quê hương trong lòng tôi”

Lớp
11A1
11A5
11B2
11B5

Sĩ số
Giỏi
Khá
T. Bình
Yếu
45
02 – 4,4%

thực hành; tích hợp nhưng không được phép lạm dụng kiến thức Lịch sử, Địa
lý, GDCD và cả ứng dụng CNTT vào bài dạy.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra từ quá trình dạy
học văn để giáo dục tình cảm yêu nước. Giống như một bài tập lớn, chắc chắn
còn nhiều thiếu sót, rất mong được đồng nghiệp góp ý.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của nhà trường

Thọ Xuân ngày 20/05/2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do mình viêt,
Không sao chép nội dung của người khác.

Nguyễn Thị Thảo

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. Bài nói chuyện của Bác Hồ tại buổi lễ khai mạc trường Đại học nhân
dân Việt Nam – Ngày 19/01/1955.
[2]. Báo cáo chính trị trị của Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần II của Đảng Lao động Việt Nam – Tháng 2/1951.
[3]. Phụ nữ Tân Văn số 153 – Tháng 6/1932.
[4], [5],[7]. Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh – Hoài Chân – NXBVH
2008.
[6]. Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status