VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN THỊ THANH NGA
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NANO CHITOSAN
TINH DẦU NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN QUẢ CAM
Chuyên ngành
Mã số
: Vi sinh vật học
: 60 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM VIỆT CƢỜNG
Hà Nội – Năm 2014
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô,
cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học
tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Phạm Việt
Cường – Phòng Công nghệ Sinh học – Viện Hóa sinh biển, người đã hết lòng
1.1.3. Hoạt tín
p
u
n no
tos n từ chitosan.. ...................... 7
ối kháng vi sinh vật của chitosan ............................. 10
1.1.4. Ứng dụng nano chitosan ............................................................. 11
1.2. Tinh dầu nghệ ..................................................................................... 12
1.2.1. Giới thiệu chung v nghệ ............................................................. 12
1.2.2. Thành phần hóa học .................................................................... 13
1.2.3. Hoạt tính sinh học của tinh dầu nghệ ........................................ 15
124 P
n t ức kháng khuẩn của tinh dầu.................................... 18
1.3. Cây Cam .............................................................................................. 20
1.3.1. Giới thiệu v cây Cam .................................................................. 20
1.3.2. Giá trị d n d ỡng trong 100g quả Cam..................................... 22
1.3.3. Vi sinh vật gây hỏng quả Cam..................................................... 22
1.3.4. Biện pháp bảo quản rau hoa quả t
s u t u oạch ............... 25
3.2.Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nano chitosan - tinh dầu nghệ xử lý
Cam trƣớc thu hoạch. ............................................................................... 41
3.3. Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nano chitosan – tinh dầu nghệ để
bảo quản Cam sau thu hoạch ................................................................... 46
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 56
PHỤ LỤC: HÌNH ẢNH CAM THÍ NGHIỆM TRƢỚC THU HOẠCH . 64
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT.
ĐC
: Đối chứng.
NCS – TDN
: Nano chitosan kết hợp với tinh dầu nghệ.
NC
: Nanochitosan
TDN
BVTV
: Bảo vệ thực vật
Cz
: Czapek – dok
ĐTG
: Độ thường gặp
CV%
: Sai số tương quan (CV% của thí nghiệm trong
phòng phải < 5%, còn thí nghiệm ngoài đồng CV phải < 10%).
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Giá trị dinh dƣỡng trong 100 g quả Cam) [58] ......................... 22
Bảng 3.1: Khả năng kháng nấm của các chế phẩm ................................... 39
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu sinh trƣởng của cây Cam CS1 ......................... 42
Bảng 3.3: Ảnh hƣởng của việc phun NCS-TDN lên năng suất và các yếu
Hình 1.8: Hình thái của Penicillium italicum.............................................. 24
Hình 1.9: Sự phát triển của Penicillium italicum trên môi trƣờng Czapek
có bổ sung chế phẩm ở các nồng độ khác nhau: (a) môi trƣờng không có
chế phẩm, ( ) môi trƣờng có bổ sung kháng sinh Miconazole 20 μg/ml, (c)
môi trƣờng có bổ sung Chitosan 100 μg/ml, (d) môi trƣờng có bổ sung
Tinh dầu nghệ 100 μg/ml, (e) môi trƣờng có bổ sung Nanochitosan 100
μg/ml, (f) môi trƣờng có bổ sung Nanochitosan - tinh dầu100 μg/ml. ..... 65
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
4
MỞ ĐẦU
Tinh dầu nghệ được biết đến như là một chất có khả năng chống oxy
hóa và có tính đối kháng vi sinh vật tốt, nhất là ức chế các vi sinh vật có khả
năng gây hỏng quả. Trong khi chitosan là một loại polymer carbohydrate tự
nhiên được tạo ra bằng cách deacetyl hóa chitin, có thể tìm thấy trong nhiều
loài động vật giáp xác, côn trùng và một vài loại nấm. Với nhiều tính năng
như tính tương thích sinh học, phân hủy sinh học, bám dính màng và không
độc hại nên hiện nay nó trở thành nguyên liệu cho nhiều ứng dụng trong dược
sinh học và thực phẩm chức năng. Vì những tính chất ưu việt của nó mà trong
những năm gần đây, chitosan đã được nghiên cứu sử dụng để tạo ra các hạt
nano chitosan. Cùng với tinh dầu nghệ, nano chitosan là chất có khả năng
kháng nấm và vi khuẩn mạnh.
Tinh dầu nghệ còn là một sản phẩm phụ của quá trình tách chiết
curcumin nên việc tận dụng tinh dầu nghệ để tạo hạt nanochitosan tinh dầu
nghệ dùng để bảo quản trái cây sau thu hoạch không những mở ra hướng mới
Thử nghiệm in vitro chế phẩm nano chitosan và tinh dầu nghệ
với vi sinh vật gây hỏng quả Cam.
Thử nghiệm chế phẩm nano chitosan và tinh dầu nghệ trên quả
để kéo dài thời gian bảo quản Cam, đảm bảo Cam còn tươi, không bị vi sinh
vật làm hỏng quả.
Nội dung nghiên cứu:
Đánh giá hoạt tính kháng nấm gây hỏng quả của chế phẩm nano
chitosan kết hợp với tinh dầu nghệ.
Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nanochitosan - tinh dầu nghệ để
xử lý Cam trước khi thu hoạch.
Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nanochitosan - tinh dầu nghệ để
bảo quản Cam sau khi thu hoạch.
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
của chitin.
Chitosan cũng được tìm thấy trong tự nhiên, chẳng hạn như trong thành
tế bào của nấm thuộc lớp Zygomycetes [43], tảo xanh Chlorella sp., nấm men
và động vật nguyên sinh cũng như lớp biểu bì trong côn trùng [ 38]. Gần đây
trong công nghệ lên men cho thấy nấm (Aspergillus niger) có thể cung cấp
một nguồn thay thế chitosan.
1.1 2 P
n p
p
u
n nochitosan từ chitosan.
Công nghệ nano là một công nghệ rất quan trọng trong khoa học, chủ
yếu là do ứng dụng rộng rãi của nó trong một phạm vi rộng lớn bao gồm các
ngành kỹ thuật, y học, hóa học và sinh học. Việc sử dụng các biopolymer như
polysaccharide trong công nghệ nano ngày càng được quan tâm, là trọng tâm
nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế giới.
Trong 30 năm qua, kỹ thuật điều chế nano chitosan đã được phát triển
dựa trên công nghệ chitosan vi hạt.Trước kia, người ta dùng sodium sulphate
như chất để tủa. Năm 1994, một số tác giả đã sử dụng glutaraldehyde như
chất liên kết để liên kết chéo các nhóm amino tự do của chitosan, sau đó nhũ
tương hóa (emulsifier), tạo hạt 5-fluorouracil (5-FU) chitosan với kích thước
trung bình 0,8 ± 0,1µm [42]. Phương pháp này hiện vẫn được dùng. Nhìn
chung, kỹ thuật chế tạo hạt chitosan nano (chitosan NP) đã được phát triển
dựa trên kỹ thuật vi hạt chitosan, có ít nhất 4 phương pháp dùng để điều chế
hạt nanochitosan: phương pháp tạo gel ion (ionotropic gelation), vi nhũ tương
n p
p M roemuls on (v n ũ t
n )
Nano chitosan được điều chế bằng kỹ thuật microemulsion lần đầu tiên
được phát triển bởi Maitra và cộng sự [7]. Kỹ thuật này dựa trên sự hình
thành của nano chitosan bên trong giọt micellar đảo ngược và sau đó liên kết
ngang qua glutaraldehyde. Trong phương pháp này, một chất hoạt động bề
mặt được hòa tan trong N-hexane. Sau đó, chitosan trong dung dịch acetic và
glutaraldehyde được thêm vào chất có hoạt tính bề mặt / hỗn hợp hexane,
khuấy liên tục ở nhiệt độ phòng. Hạt nano được hình thành trong sự hiện diện
của chất hoạt động bề mặt. Hệ thống này được khuấy qua đêm để hoàn thành
liên kết ngang, và nhóm amin của chitosan kết hợp với glutaraldehyde. Các
dung môi hữu cơ được lấy ra bằng cách bay hơi dưới áp suất thấp. Sản phẩm
thu được là nano chitosan liên kết ngang và chất hoạt động bề mặt dư thừa.
Chất hoạt động bề mặt dư thừa được lấy ra bằng cách kết tủa với CaCl2 và sau
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
9
đó được loại bỏ bằng ly tâm. Cuối cùng các hạt nano được thẩm tách và đông
khô (lyophilyzation). Kỹ thuật này cung cấp hạt kích thước nhỏ hơn 100 nm
và kích thước các hạt có thể được kiểm soát bằng cách thay đổi lượng
glutaraldehyde từ đó làm thay đổi mức độ liên kết ngang. Tuy nhiên, phương
pháp có một số nhược điểm như việc sử dụng các dung môi hữu cơ, quá trình
ện phân)
Màng polyelectrolyte hoặc tập hợp nhóm polyelectrolyte là một thuật
ngữ để mô tả màng được hình thành bằng cách tự lắp ráp của polyme mang
cation và DNA plasmid. Cơ chế của PEC hình thành liên quan đến việc trung
hòa điện tích giữa cation polymer và DNA dẫn tới phá vỡ phân tử ưa nước.
Một số polyme cation (tức là gelatin, polyethylenimine) cũng có tính chất
này. Nói chung, kỹ thuật này cung cấp phương pháp chuẩn bị đơn giản. Các
hạt nano được hình thành một cách tự nhiên sau khi bổ sung các DNA vào
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
10
chitosan hòa tan trong dung dịch axit axetic, tiếp theo khuấy cơ học ở nhiệt độ
phòng. Kích thước phức hợp có thể được thay đổi từ 50 nm đến 700 nm. [7]
1.1.3. Hoạt tín
ối kháng vi sinh vật của chitosan
Khả năng đối kháng vi sinh vật của chitosan được sử dụng rộng rãi, tuy
nhiên, cơ chế đối kháng vi sinh vật chính xác của nó cho đến nay vẫn chưa
được định rõ ràng.
Một vài cơ chế tác động kháng khuẩn của chitosan đã được đưa ra: (i)
tạo phức với các nguyên tố vết hoặc các chất dinh dưỡng thiết yếu, như vậy
ức chế sinh trưởng của vi khuẩn; (ii) có thể tương tác với các nhóm anion trên
bề mặt tế bào và tạo ra các phức hợp điện phân với các hợp chất trên bề mặt
sẽ ức chế tổng hợp mRNA và như vậy ảnh hưởng đến việc tạo ra các protein
và enzyme cần thiết. Mặt khác, một số báo cáo cho rằng còn các cơ chế hoạt
động khác, như liên kết với nước, làm bất hoạt enzyme, chọn lọc chelation vi
lượng khoáng cần thiết cho các enzyme của vi khuẩn, có thể sáng tỏ cơ chế
kháng vi sinh vật của chitosan. [29].
Young và cộng sự [36] cho rằng chitosan làm cho ion Ca2+ được giải
phóng từ phức tạo ổn định màng tế bào của Glycine max, kết quả làm mất ổn
định của màng và gây rò rỉ các thành phần tế bào. Tokura và cộng sự [43], đã
quan sát thấy chitosan (MW = 9300) xếp chồng lên nhau trên thành tế bào và
ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn E. coli. Họ cho rằng hoạt tính kháng
khuẩn có liên quan đến việc kìm hãm các hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn
bằng cách ngăn chặn cung cấp chất dinh dưỡng qua màng tế bào [43].
1.1.4. Ứng dụng nano chitosan
Các hạt nano chitosan chủ yếu được ứng dụng trong y học như chất
mang và phân phối thuốc. Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu tạo hạt nano
trên cơ sở polysacarit, đặc biệt là chitosan. Nói chung, những hạt nano này
mới chỉ được khảo sát về tính chất hóa lý và khả năng mang thuốc, được ứng
dụng trong y sinh, cụ thể là ứng dụng dẫn thuốc còn hầu như chưa được
nghiên cứu cho những ứng dụng khác (ngoại trừ nghiên cứu về axit glutamic
ứng dụng cho mục đích làm chất mang thuốc paclitaxel củaViện Hóa học,
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)[3].
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
12
Trên thế giới đã có nhiều công bố ứng dụng hạt nano trong y học. Hạt
có kích cỡ nano có thể được tiêm tĩnh mạch vì đường kính của mao mạch máu
Hình 1.2: Hình thái cây nghệ
Nghệ được trồng ở khu vực ấm áp và có mưa nhiều trên thế giới như
Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a. Tại Ấn Độ, nó được phổ biến và được gọi
là Haldi (Tiếng Hin-ddi). Tại Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Ấn Độ, nghệ đã
được nghiên cứu do tầm quan trọng về kinh tế của nó[19].
1.2.2. Thành phần hóa học
Thành phần trong củ nghệ vàng gồm: protein (6,3%), chất béo
(5,1%),khoáng
chất
(3,5%),
carbohydrates
(69,4%)
và
độ
ẩm
(13,1%). Phenolic diketone, curcumin (diferuloylmethane) (3 - 4%) quy định
màu vàng của nghệ, và bao gồm curcumin I (94%), chất curcumin II (6%) và
chất curcumin III (0,3%) (Hình 1.3). Phenolic diketones demethoxycurcumin
và bis-demethoxycurcumin cũng đã được phân lập từ thân rễ Curcuma
longa. Sự có mặt của tumerones (a, b), curdione, curzerenone, mono-và didemethoxycurcumin đã được tìm thấy trong thân rễ. Tinh dầu (5,8%) thu
được bằng cách chưng cất hơi nước, phần thân rễ có chứa thành
trong dầu củ. Gopalan và Ratnambal [20] so sánh các thành phần chính của
dầu nghệ sản xuất từ giống cây trồng khác nhau. Dầu lá nghệ Việt Nam chứa
chủ yếu là α-phellandrene (24,5%), 1,8-cineole (15,9%), p-cymene (13,2%)
và β-pinene (8,9%). Cooray và cộng sự [13] cho biết các thành phần chính
của dầu thân rễ được sản xuất từ một giống nghệ duy nhất được trồng ở Sri
Lanka, và nó đã được báo cáo rằng ar-turmerone (24,7-48,9%) và turmerone
(20-39%) là những hợp chất chính. McCarron và cộng sự đã sử dụng phương
pháp phân tích GC-MS để so sánh hợp chất monoterpene hydrocarbon của
các loại dầu sản xuất từ lá và rễ của C. longa tươi, phát hiện ra rằng
hydrocarbon monoterpene của lá và các loại dầu thân rễ tươi tương ứng là
92,9 và 16,3%. Dầu thân rễ của C. longa nguồn gốc Trung Quốc được phân
tích bằng GC-MS [44]. Dầu này được cho là chứa 17 thành phần hóa học,
trong đó turmerone (24%), ar-turmerone (18%) và germacrone (11%) là các
hợp chất chính.
1.2.3. Hoạt tính sinh học của tinh dầu nghệ
* Hoạt tính chống viêm: Tinh dầu của Curcuma longa có hiệu quả
chống viêm và anti-hyaluronidase. Các tác giả cho rằng hiệu quả chống oxy
hóa của dầu được chứng minh bằng sự ức chế khả năng khuếch tán của
hyaluronidase enzyme. Dầu từ lá Curcuma longa cũng cho thấy hoạt tính
chống viêm ở chuột bạch thực nghiệm. Dịch chiết thân rễ làm giảm sự phát
triển của u hạt và không độc đối với động vật.
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
16
* Hoạt tính chống oxy hóa: Scatezzini và cộng sự (2000) đã nghiên
cho thấy sinh trưởng của Staphylococcus albus, Staphylococcus aureus bị ức
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
17
chế ở các nồng độ khác nhau. Đối với vi khuẩn đường ruột, sinh trưởng của
lactobacilis bị ức chế bởi tinh dầu nghệ ở nồng độ 4,5-90μl/100 ml.
Jayaprakasha và cs (2002) báo cáo hoạt tính kháng khuẩn của dầu nghệ được
tách từ dịch mẹ sau khi đã tách lấy curcumin [26]. Dầu nghệ được phân đoạn
bằng chưng cất chân không thu được 2 phân đoạn, các phân đoạn này được
thử với một số chủng nấm như Aspergillus flavus, A. parasiticus, Fusarium
moniliforme và Penicillium digitatum bằng phương pháp nảy mầm bào tử.
Phân đoạn nhận được bằng chưng cất chân không ở 110-120ºC có hiệu quả
hơn. Kết quả phân tích GC/MS cho thấy trong phân đoạn này chủ yếu là
turmerone thơm, turmerone và curlone cùng với các hợp chất oxy hóa khác
[8;42]. Theo Dhingra và cs. (2007), tinh dầu nghệ (Curcuma longa L, ) độc
đối với 7 loại nấm hại nông sản trong kho. Phụ thuộc vào loại nấm, sự ức chế
phát triển của chúng dao động từ 36%-77%, Aspergillus flavus, Fusarium
semitectum, Colletotrichum gloeosporioides và C. musae là những loại mẫn
cảm nhất, bị ức chế sự phát triển trên 70%, ar-turmerone chiếm 87% của hợp
chất dầu kháng nấm và ar-turmerone tinh sạch có hoạt tính kháng nấm tương
tự như dầu thô [16]. Behura và cộng sự thấy trong 5 nguồn bệnh nấm lúa
được xử lý với tinh dầu nghệ, Rhizotonia solani mẫn cảm nhất và F.
moniliforme kháng mạnh nhất với sự phát triển bị giảm 81% và 2,5%, tương
ứng [9]. Tương tự, Saju và cộng sự báo cáo ở nồng độ 1%-5% tinh dầu nghệ,
sự phát triển của C. gloeosporioides, Sphaceloma caradmomi và
Pestdlotiopsis palmarum hoàn toàn bị ức chế, trong khi đó F.solani chỉ bị ức
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về thành phần và hoạt tính kháng
khuẩn của tinh dầu thực vật, nhưng cơ chế hoạt tính của chúng chưa được
nghiên cứu tỉ mỉ. Do tinh dầu có rất nhiều nhóm các hợp chất hóa học khác
nhau, nên có lẽ hoạt tính kháng khuẩn của chúng không do một cơ chế đặc
biệt nào mà có một vài đích trong tế bào (hình 1.5).
Hình 1.5: Vị tr và các cơ chế trong tế bào vi khuẩn đƣợc cho là điểm
hoạt tính của tinh dầu: phân hủy thành tế bào; làm hư hại màng tế bào; làm
hỏng protein màng; các thành phần tế bào bị rò rỉ; tủa tế bào chất; và lực đẩy
proton bị suy yếu [39].
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
19
Một đặc điểm quan trọng của tinh dầu là tính kỵ nước, cho phép chúng
phân cắt lipids của màng tế bào vi khuẩn và mitochondria, làm xáo trộn cấu
trúc và làm chúng dễ bị thẩm thấu hơn. Mặc dù một số lượng chất nhất định
nào đó bị mất đi nhưng tế bào vẫn không bị chết, nhưng khi mất nhiều hoặc
các phân tử quan trọng và ion bị mất đi tế bào sẽ bị chết.
Nhìn chung, tinh dầu thực vật chứa hàm lượng lớn các hợp chất phenol
cao như carvacrol, eugenol và thymol, có hoạt tính kháng nguồn bệnh thực
phẩm cao. Rất có lý khi cho rằng cơ chế hoạt tính của chúng tương tự như các
phenolics khác đó là làm xáo trộn màng tế bào chất, gián đoạn lực đẩy proton,
dòng electron, vận chuyển chủ động và làm tủa các chất trong tế bào.
Cấu trúc hóa học của các thành phần trong từng loại tinh dầu tác động
đến cơ chế hoạt động và hoạt tính của chúng. Tầm quan trọng của sự có mặt
của các nhóm hydroxyl trong các hợp chất phenolic đã được chứng minh. Các
1.3. Cây Cam
1.3.1. Giới thiệu v cây Cam
Quả Cam là một trong những loại trái cây quen thuộc có chứa tinh dầu
mang mùi thơm và nhiều vitamin C, rất mát và bổ dưỡng cho cơ thể. Ngoài
ra, mọi bộ phận của cây Cam từ lá, hạt, vỏ… đều có thể làm thuốc.
Theo y học cổ truyền, cam có vị ngọt, chua, tính hơi mát, công năng sinh tân
giải khát, khai vị, chữa ho, đầy bụng, giải độc cá, cua, giải rượu. Vỏ quả Cam
có vị cay, mùi thơm, tính ẩm, tác dụng tiêu đờm, thông khí trệ, giúp tiêu hoá...
Theo Viện Nghiên cứu nông học quốc gia Pháp, uống nửa lít nước Cam
mỗi ngày có thể cải thiện áp lực máu và tái hoạt động của mạch máu (khả
năng giãn nở). Chúng ta chỉ nhớ đến hàm lượng vitamin C trong Cam chứ ít
biết rằng Cam chứa một số các thành phần tổng hợp khác có ích cho sức
khỏe. Trên thực tế, hàm lượng vitamin C chỉ chiếm khoảng 15-20% trên tổng
số các chất chống oxy hóa trong trái cây này, trong khi những hợp chất khác
lại có khả năng chống oxy hóa cao hơn gấp 6 lần so với vitamin C: hesperidin
từ flavanoid, có nhiều trong lớp vỏ xơ trắng, màng bao múi cam và một ít
trong tép và hạt cam, có khả năng giảm cholesterol xấu (LDL) và tăng
cholesterol tốt (HDL). Cam được xem là một “đồng minh” giúp ngăn ngừa
Số hóa bởi trung tâm Học liệu– ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
21
các bệnh tim mạch, viêm nhiễm và cả ung thư, ngoài những tính năng mà
người ta nhận biết qua những nghiên cứu từ trước đến nay như củng cố hệ
miễn dịch, chống cảm cúm, giảm tỷ lệ cholesterol xấu, chống viêm, ức chế
các tế bào ung thư, xoa dịu các cơn đau ruột, dạ dày, gan và thúc đẩy nhanh
quá trình liền sẹo.