ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------
PHẠM THỊ LUYỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG
CHO HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - Năm 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------
PHẠM THỊ LUYỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG
CHO HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ rất
nhiệt tình của các thầy cô giáo, của các cán bộ tỉnh Quảng Trị, của đồng nghiệp và
sự động viên, khích lệ từ phía gia đình và những người bạn.
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Văn Thông, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn tận tình và
những góp ý, động viên của thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá
trình thực hiện luận văn này.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo giảng dạy chương trình cao
học “Quản lý kinh tế” tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng
Trị; Hạt Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đakrông; Ủy ban Nhân
dân xã Triệu Nguyên, huyện Đakrông và các hộ gia đình đã tham gia phỏng vấn
trên địa bàn xã Triệu Nguyên đã cung cấp các thông tin và nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong quá trình điều tra.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, luận văn đã khai thác một số số liệu
điều tra ngoại nghiệp thuộc đề tài: “Nghiên cứu đề xuất mô hình liên kết theo chuỗi
giá trị trong sản xuất kinh doanh gỗ và sản phẩm gỗ rừng trồng”. Tác giả xin được
gửi lời cảm ơn chân thành tới chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên của đề tài.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động
viên tác giả rất nhiều để hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
2.1 Phƣơng pháp thu thập tài liệu...................................................................................... 34
2.1.1 Thu thập tài liệu thứ cấp.................................................................................34
2.1.2 Thu thập tài liệu sơ cấp...................................................................................34
2.2 Phƣơng pháp xử lý số liệu ................................................................................36
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả .........................................................................36
2.2.2 Phương pháp thống kê so sánh ......................................................................36
2.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp ...................................................................36
2.2.4 Phương pháp chuyên gia ................................................................................37
2.2.5 Các phương pháp khác ...................................................................................37
Chƣơng III: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIAO
ĐẤT, GIAO RỪNG CHO HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ THỜI
GIAN QUA ..............................................................................................................38
3.1 Khái quát chung về tỉnh Quảng Trị ............................................................................ 38
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ......................................................................38
3.1.2 Đặc điểm về Kinh tế - xã hội ...........................................................................40
3.1.3 Đặc điểm về rừng và đất rừng của tỉnh Quảng Trị .......................................41
3.2 Tình hình quản lý nhà nƣớc về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình trong thời
gian qua ................................................................................................................................... 45
3.2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình tại tỉnh
Quảng Trị .................................................................................................................45
3.2.2 Công tác quản lý nhà nước về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình tại
Quảng Trị thời gian qua ..........................................................................................51
3.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nƣớc về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình tại
Quảng Trị thời gian qua ...................................................................................................... 68
3.3.1 Thành tựu trong công tác quản lý nhà nước về giao đất, giao rừng cho hộ
gia đình tại tỉnh Quảng Trị ......................................................................................68
3.3.2 Tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về giao đất, giao rừng
cho hộ gia đình .........................................................................................................77
Nguyên nghĩa
1 ĐLN
Đất lâm nghiệp
2 GĐGR
Giao đất, giao rừng
3 GCNQSDĐLN
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
4 HGĐ
Hộ gia đình
5 LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
6 Luật BV&PTR
Luật Bảo vệ và phát triển rừng
7 NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Rừng trồng
16 RTN
Rừng tự nhiên
17 TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
18 UBND
Uỷ ban nhân dân
i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT BẢNG
NỘI DUNG
TRANG
1
Bảng 1.1
Bộ máy quản lý về GĐGR
Bảng 3.3
Các sản phẩm gỗ và LSNG của tỉnh Quảng Trị
45
6
Bảng 3.4
Kết quả thống kê các văn bản chính sách đang thực
hiện tại tỉnh có liên quan đến QLNN về GĐGR cho
HGĐ
52
7
Bảng 3.5
Kết quả thực hiện Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2010-2015 và định hướng đến năm 2020
55
8
Bảng 3.6
Kết quả thực hiện kế hoạch giao RTN cho HGĐ giai
72
12
Bảng 3.10
Đánh giá các lợi ích từ việc nhận đất, nhận rừng của
HGĐ điều tra
76
ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
BIỂU ĐỒ
NỘI DUNG
1
Biểu đồ 3.1
2
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sử dụng ĐLN phân theo chủ thể quản lý
NỘI DUNG
Sơ đồ mục tiêu của giao đất cho HGĐ
Sơ đồ hệ thống QLNN về GĐGR cho HGĐ tại tỉnh
Quảng Trị
Trình tự, thủ tục trong giao ĐLN cho HGĐ
iii
TRANG
15
46
63
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách giao đất, giao rừng (GĐGR) cho hộ gia đình (HGĐ) là một trong
những chính sách trọng tâm của ngành lâm nghiệp trong những thập niên gần đây.
Giao đất cho hộ cùng với việc trao cho hộ các quyền sử dụng đất lâu dài có tiềm
năng trong việc khuyến khích các hộ thực hiện đầu tư vào các hoạt động trên đất
nhằm nâng cao lợi ích từ đất, từ đó góp phần cải thiện sinh kế cho hộ, góp phần xóa
đói giảm nghèo.
Theo Quyết định 1482 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), tính
đến hết ngày 01 tháng 01 năm 2012, tổng diện tích đất lâm nghiệp (ĐLN) đã giao
cho các HGĐ và cá nhân là 4,46 triệu ha, trong đó đất rừng sản xuất (RSX) chiếm
69,5% (3,1 triệu ha), đất rừng phòng hộ (RPH) chiếm 29,8% (1,33 triệu ha), còn lại
đất rừng đặc dụng (RĐD) là 11.377 ha. Theo Quyết định 1739 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc
năm 2012, tổng số diện tích đất đã có rừng được giao cho hộ là gần 3,4 triệu ha,
từ trồng rừng, bởi rừng xa, chi phí sản xuất cao. Còn đối với rừng giao cho dân
quản lý thì nằm tận rừng sâu, xa đường, địa hình cách trở, lượng lâm sản ngoài gỗ
(LSNG) ít, tiền công chăm sóc và quản lý bảo vệ thấp. Điều này dẫn đến bà con còn
e ngại không dám nhận đất, nhận rừng. Trong khi đó, tỉnh vẫn còn tới 38.000ha
rừng do Ủy ban nhân dân (UBND) các xã quản lý chưa được giao, thường có nguy
cơ xâm hại cao. Do đó, Ngành NN&PTNT tỉnh Quảng Trị đang tích cực tiến hành
rà soát lại quỹ đất rừng, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước (QLNN) về GĐGR
để đẩy nhanh tiến độ GĐGR cho HGĐ, qua đó tạo công ăn việc làm cho người dân,
nhằm thực hiện tốt mục tiêu GĐGR đã đặt ra.
Có thể nói, GĐGR là tiến trình hiện vẫn đang diễn ra. Thay đổi về bản thân
chính sách cũng như cách thức thực hiện tại cấp địa phương, với ưu tiên dành cho
các HGĐ và cộng đồng có tiềm năng tạo ra những thay đổi lớn về hình thức quản lý
lâm nghiệp hiện tại theo hướng hiệu quả hơn trong sử dụng đất và bảo vệ rừng, góp
phần tạo ra những dịch chuyển từ lâm nghiệp Nhà nước sang hình thức lâm nghiệp
REED+: là chương trình giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng
Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ là đạo luật cấm buôn bán các loài cây và sản phẩm liên quan có
nguồn gốc bất hợp pháp, bao gồm cả gỗ và các sản phẩm gỗ
3
FLEGT: Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại Lâm sản
1
2
2
HGĐ và cộng đồng. Việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về giao
đất, giao rừng cho hộ gia đình tại tỉnh Quảng Trị” sẽ cung cấp một bức tranh rõ
ràng về thực trạng QLNN về công tác GĐGR cho HGĐ của tỉnh Quảng Trị, từ đó
đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về GĐGR cho
HGĐ tại tỉnh, góp phần cải thiện sinh kế và quản lý rừng bền vững.
- Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý chính là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị
trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị. Bên cạnh đó còn có sự phối hợp giữa các
cơ quan khác trong thực hiện công tác GĐGR như Sở TN&MT...
- Đối tượng chịu sự quản lý: Rừng và đất rừng; các HGĐ nhận rừng và đất rừng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Quảng Trị
- Về thời gian: Số liệu điều tra về GĐGR từ khi tỉnh thực hiện chính sách
này từ năm 2005 – 2016
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4
chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về QLNN
trong lĩnh vực GĐGR cho HGĐ
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng công tác QLNN về GĐGR cho HGĐ tại tỉnh Quảng
Trị thời gian qua
- Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về GĐGR
cho HGĐ tại tỉnh Quảng Trị
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC GIAO ĐẤT
GIAO RỪNG CHO HỘ GIA ĐÌNH
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực giao
đất, giao rừng cho hộ gia đình
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Cách thức giao đất, giao rừng
Cách thức tiến hành giao đất trên thực địa có vai trò quyết định đến hiệu quả
Từ khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1986 đã tạo ra sự thay đổi
trong công tác quản lý về GĐGR. Sự thay đổi này liên quan đến 3 khía cạnh cơ bản:
Thứ nhất, xóa bỏ hình thức hợp tác xã, giao đất cho người dân. Thứ 2, tăng đầu tư
cho phát triển miền núi thông qua các chương trình định canh định cư và trồng rừng
trên những diện tích đất trống, đồi núi trọc. Thứ 3, thúc đẩy mở rộng thị trường tạo
ra sự giao lưu hàng hóa giữa miền núi và đồng bằng, khuyến khích đầu tư từ khu
vưc nhà nước và khối tư nhân lên vùng cao (Swerwine, 2004).
1.1.1.3 Ảnh hưởng của công tác giao đất, giao rừng tới độ che phủ của rừng và chất
lượng rừng.
Nghiên cứu của Castella và cộng sự (2006) cũng chỉ ra rằng GĐGR làm hạn
chế canh tác nương rẫy của hộ, từ đó làm cho rừng tái sinh, góp phần tăng độ che
phủ của rừng. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng mối liên kết giữa GĐGR
và độ che phủ rừng không rõ ràng. Khi tiến hành nghiên cứu tại một số địa bàn
vùng núi phía Bắc, tác giả Sikor (2001) quan sát thấy diện tích rừng tăng lên sau
giao đất. Tuy nhiên, theo tác giả diện tích rừng được mở rộng không phải do thực
hiện GĐGR mà bởi các hộ trong điều kiện thị trường hàng hóa nông sản và dịch vụ
kỹ thuật nông nghiệp mở rộng đã tập trung nguồn lực, bao gồm cả lao động của hộ
vào canh tác các cây nông nghiệp, đặc biệt là cây ngô; điều này góp phần làm giảm
sức ép lên rừng. Kết quả là rừng được tái sinh và diện tích rừng được mở rộng. Tuy
nhiên, một điểm chung được các nghiên cứu đưa ra đó là GĐGR làm tăng diện tích
RT, đặc biệt là diện tích RT của hộ, và điều này góp phần nâng cao độ che phủ rừng
ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Meyfroid và Lambin (2008) có chỉ ra rằng, mặc dù tỷ lệ
6
che phủ rừng ở Việt Nam có tăng nhưng chất lượng RTN lại giảm. Giao đất tạo
động lực cho mở rộng diện tích RT nhưng mở rộng RT tác động trực tiếp và tiêu
ở những vị trí thuận lợi so với các hộ khác trong thôn. Đất được giao cho các hộ
dựa trên nguyên tắc “khả năng sử dụng đất của hộ”, được đo bằng số lao động
chính của hộ tại thời điểm giao đất. Điều này có nghĩa rằng những HGĐ có nhiều
lao động được nhận nhiều đất hơn so với các hộ có ít lao động. Nguyên tắc chia
đất dựa trên số lượng lao động chính sẵn có của các hộ đã làm cho các hộ mới
tách, thường là hộ có điều kiện khó khăn ở vị thế bất lợi. Kết quả là các hộ nghèo
thường nhận được ít đất.
Bên cạnh đó, giao đất cũng làm phát sinh mâu thuẫn giữa các hộ. Nghiên cứu
về tác động của GĐGR tại Hòa Bình, Phú Thọ và Hà Tây cũ của Tô Xuân Phúc
(2007) đã chỉ ra một số mâu thuẫn phổ biến có liên quan đến ranh giới đường biên
giữa các hộ, mâu thuẫn do sự bất bình đẳng giữa các hộ trong giao đất, đặc biệt giữa
các hộ cán bộ và các hộ dân khác.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Từ lâu, vấn đề GĐGR cho HGĐ đã được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu
bởi ý nghĩa, vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế lâm nghiệp nói
riêng và kinh tế - xã hội nói chung.
Tác giả Đinh Văn Thông (1993) đã cho rằng chủ trương GĐGR cho HGĐ là
một chủ trương kinh tế - xã hội đúng đắn, hợp lòng người dân miền núi. Việc
GĐGR cho HGĐ chính là quá trình từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở
nông thôn miền núi. Nó đã giải quyết tốt vấn đề quyền sở hữu và quyền sử dụng
rừng và đất rừng – tư liệu sản xuất chủ yếu đối với đồng bào dân tộc miền núi để
nhằm mục đích tổ chức và quản lý việc sản xuất, kinh doanh rừng và đất rừng một
cách có hiệu quả, cải thiện đời sống nhân dân, khẳng định quyền làm chủ của người
dân, khuyến khích người lao động mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, qua đó tăng
cường quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả. Đồng thời, chủ trương GĐGR là một giải
pháp quan trọng trong chiến lược phát triển nghề rừng, đó là chiến lược lâm nghiệp
xã hội nhằm thu hút nguồn vốn trong dân và các thành phần kinh tế khác cho bảo
vệ, phát triển rừng.
Các khía cạnh khác nhau trong GĐGR cũng được nhiều tác giả nghiên cứu :
trong các quy định pháp lý quy định quyền lợi của hộ đối với đất RSX là RT và
quyền lợi của hộ đối với RSX là RTN làm hạn chế việc thực hiện các quyền của hộ.
Thứ nhất là pháp luật đất đai, điều chỉnh mối quan hệ, bao gồm cả trách nhiệm và
9
quyền lợi của bên giao đất (Nhà nước) và bên nhận đất (hộ) thông qua đất đai, và
Luật BV&PTR điều chỉnh mối quan hệ giữa 2 bên thông qua RSX là RTN. Luật
Đất đai cho phép hộ nhận đất được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được cho
thuê quyền sử dụng đất, có quyền thực hiện thừa kế, tặng quyền sử dụng, được thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với RTN, được coi
là tài sản ở trên đất, tuy nhiên Luật BV&PTR không cho phép việc thực hiện các
quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho tặng đối với các quyền sử dụng
rừng được giao cho HGĐ. Bên cạnh đó, các quyền cho, tặng, thế chấp đối với rừng
nói chung và RTN nói riêng lại hết sức hạn chế. Điều này chỉ ra tính phức tạp trong
quản lý và sử dụng đất RSX là RTN ở Việt Nam.
1.1.2.4 Tác động của chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập và tiếp cận đất
đai của hộ
Khi nghiên cứu về tác động của GĐGR đến sinh kế của người dân tại 2 xã
thuộc hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, tác giả Hoàng Liên Sơn (2012) đã chỉ
ra GĐGR giúp công nhận quyền hợp pháp của các hộ trên đất nương rẫy cũ của các
hộ. Việc công nhận quyền hợp pháp và lâu dài cho đất nương rẫy đã tạo tâm lý ổn
định cho hộ, tạo động lực cho hộ đặc biệt là các hộ kinh tế khá huy động nguồn lực
thực hiện đầu tư trồng cây công nghiệp và trồng rừng trên đất nương rẫy cũ của
mình. Điều này tạo cơ hội cho các hộ trong việc tạo nguồn thu mới từ cây công
nghiệp và RT trong tương lai. Bên cạnh việc giúp tăng nguồn thu của hộ, GĐGR
cũng góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp ở vùng nông thôn (Sunderlin và Huỳnh Thu
Ba 2005).
1.1.2.5 Công bằng trong giao đất
quyết định nhượng lại phần đất của mình cho các hộ khác trong cộng đồng và
những hộ bên ngoài có điều kiện kinh tế đầu tư vào trồng rừng. Nghiên cứu của Lê
Trọng Hùng (2008) cũng cho thấy hiện đang hình thành các xu hướng trao đổi đất
đai giữa các hộ trong cùng cộng đồng và các hộ bên ngoài. Trong số các hộ điều tra,
tác giả quan sát thấy rằng không phải chỉ các hộ nghèo mà cả các hộ khá giả cũng
bán đất. Tuy nhiên động cơ bán đất của 2 nhóm hộ khác nhau: nhóm hộ nghèo bán
đất để lấy tiền duy trì sinh kế trong khi nhóm hộ khá bán đất do không có lao động
làm nghề rừng mà muốn tập trung lao động vào thâm canh cây chè.
Trong một nghiên cứu gần đây, Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị (2013) chỉ
11
ra rằng trong vài năm gần đây đã có trên 18.000 HGĐ trong đó chủ yếu là các hộ
nghèo người dân tộc thiểu số sống tại Điện Biên, Lai Châu, và Sơn La đã góp đất
cùng với các công ty Cao su để hình thành mô hình liên doanh trồng cao su. Giao
đất đã tạo cơ hội cho các hộ được tham gia vào mô hình liên doanh liên kết này. Nói
cách khác, thị trường đất đai và các hình thức liên doanh liên kết đã được tạo ra bởi
những quyền liên quan tới đất được cấp cho các hộ.
1.1.2.8 Giao đất, giao rừng đối với việc thực hiện Flegt VPA và Reed+ ở Việt Nam
Tác giả Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị (2014) cho rằng, cách thức thực
hiện Chính sách cũng như một số yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội và thiết chế của
cộng đồng có liên quan đến sử dụng và quản lý tài nguyên đã làm cho việc xác định
tính pháp lý của các mảnh đất được giao (và của các sản phẩm trên đất, bao gồm cả
nguồn gỗ RT) trở lên khó khăn. Điều này ảnh hưởng tới việc đàm phán và thực thi
FLEGT/VPA4, cũng như không tạo ra cơ hội cho các HGĐ được tiếp cận lâu dài đối
với lợi ích tiềm năng mà REDD+ mang lại trong tương lai.
Nhận xét:
- Có thể thấy rằng đã có nhiều những nghiên cứu trong nước và quốc tế về
GĐGR cho HGĐ trên nhiều khía cạnh khác nhau như: cách thức GĐGR, công bằng
gây trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật. (Điều 1, Nghị định 02/CP của
Chính phủ ngày 15 tháng 1 năm 1994). Nhà nước GĐLN cho tổ chức, HGĐ, cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài theo đúng mục đích sử dụng của từng loại rừng. (Điều
2, Nghị định 02/CP của Chính phủ ngày 15 tháng 1 năm 1994).
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre
nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng
từ 0,1 trở lên. Rừng gồm RT và RTN trên đất RSX, đất RPH, đất RĐĐ (Điều 3,
Luật BV&PTR, 2004).
Giao rừng là việc nhà nước giao tài sản trên đất (rừng) cho các tổ chức,
HGĐ, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn. Thực chất của việc giao rừng là nhà nước
trao quyền sử dụng rừng cho các tổ chức, HGĐ, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
để quản lý, BV&PTR.
HGĐ chính là chủ thể được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất ,
cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu
rRSX là RT, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu RSX là
RT (Điều 4, Luật BV&PTR, 2004).
Trong giao rừng, HGĐ được nhà nước giao RPH, RSX và được hưởng các
13
quyền lợi và nghĩa vụ được quy định rõ trong điều 69, Luật BV&PRT, 2004.
Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng chính
là một nội dung quan trọng trong QLNN về BV&PTR được quy định trong điều 7,
Luật BV&PTR, 2004.
Khái niệm về GĐGR mà tác giả sử dụng trong luận văn này chính là việc
nhà nước thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với việc giao đất,
cho thuê ĐLN.
Như vậy, GĐGR là việc Nhà nước với vai trò là chủ sở hữu về đất và
rừng tiến hành GĐGR cho các tổ chức, các HGĐ và cá nhân nhằm sử dụng đất
Cải thiện sinh kế hộ
Áp dụng hình thức
định canh định cư
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mục tiêu của giao đất cho HGĐ.
1.2.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao đất, giao rừng cho hộ gia
đình
- ĐLN và rừng là đối tượng QLNN đặc thù
Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định
trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu; rừng bao gồm các yếu tố thực vật,
động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn
cảnh rừng đặc trưng.
Đất và rừng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu người dân
sống trong rừng và gần rừng; diện tích ĐLN được giao cho các chủ thể kinh tế khác
nhau trong đó có HGĐ; diện tích rừng quốc gia được chia thành 3 loại theo chức
năng và công dụng của các yếu tố để quản lý gồm: RPH, RĐD và RSX; mỗi loại
rừng tùy vào đặc điểm mà được giao, khoán, cho thuê...cho các chủ thể kinh tế khác
nhau. Vì vậy, QLNN trong lĩnh vực GĐGR cho HGĐ phải áp dụng những cơ chế,
chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với
từng loại rừng và từng đối tượng nhận giao trong đó có HGĐ. QLNN trong lĩnh vực
15