PHẦN THỨ NHẤT: ĐẠT VẤN ĐỀ
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dục
thời đại mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương pháp
sao cho đạt được 2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng sống
cho học sinh. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành thì gần
đây chúng ta thường thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng về bạo
lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tệ
nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình….Trong quá trình giảng dạy thì rèn kỹ
năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự phục vụ
bản thân cho học sinh là rất cần thiết…Hơn thế nữa, đứng trước thềm hội nhập
quốc tế đòi hỏi thế hệ trẻ phải tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải
có một số kỹ năng: sống khỏe, sống lành mạnh, giỏi lập trình, giỏi tiếng Anh.
Hiện nay một số học sinh thiếu kỹ năng sống, thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích
kỷ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân đang là những cản trở lớn
cho sự phát triển của thanh thiếu niên khiến không ít các bậc cha mẹ phải phiền
lòng vì con. Nhiều vị phụ huynh lo lắng trước tình trạng con của mình thiếu tự tin,
luôn tỏ ra rụt rè khi có cơ hội thể hiện mình trước đám đông hoặc không biết
cách xử lý tình huống dù là thật đơn giản như kêu gọi sự giúp đỡ từ người khác,
khi tìm đường, định hướng, đi xe buýt...
Trước tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng thì kỹ năng tự bảo vệ
mình cũng cần được coi trọng khi các nhóm trẻ xấu luôn lấy sức mạnh cơ bắp hoặc
đám đông để bắt nạt, ức hiếp các trẻ hiền, ngoan . Nhiều em học sinh có cuộc sống
khép kín với thực tại, đắm chìm trong thế giới ảo của Internet của thế giới game
mà quên đi và đánh mất những cơ hội kết bạn , thể hiện những khả năng tiềm ẩn
của mình, lo sợ, rụt rè khi tiếp xúc với cộng đồng, xã hội.
Để thực hiện tốt “Phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” và trước những yêu cầu hết sức thiết thực, tôi xin trình bày ra đây
những điều mà qua thực tiễn đã thấy, mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm
đóng góp phần nào kinh nghiệm giáo dục cho con em chúng ta trở thành những
con người toàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho
xã hội.
khăn trong cuộc sống hằng ngày.
- Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng.
- Mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn
những hành vi đúng đắn.
Như chúng ta đã biết, khoảng cách giữa nhận thức và hành động luôn khá lớn.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho HS cần phải khơi gợi và phát huy sự tham gia của
các em trên cơ sở có sự hướng dẫn của GV, không nên giáo dục theo cách áp đặt ý
kiến hay suy nghĩ chủ quan của GV cũng như người lớn. Kĩ năng sống cần được
xây dựng trên tình huống cụ thể, gắn với đời sống thực, trong môi trường an toàn,
lành mạnh để các em có thể hiểu và thực hành. Kĩ năng sống được hình thành và
củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân, nó giúp cho mỗi cá
nhân nâng cao năng lực ứng phó trong mọi tình huống căng thẳng mà mỗi người
gặp phải hàng ngày. Bản thân kĩ năng sống có tính hành vi. Vì vậy , các kĩ năng
sống cho phép chúng ta chuyển dịch kiến thức( cái chúng ta đã biết), thái độ và giá
trị( cái chúng ta nghĩ và cảm thấy tin tưởng) thành hành động( cái cần làm và cách
cần làm nó) theo xu hướng tích cực mang tính xây dựng. Như vậy, kĩ năng sống sẽ
như những nhịp cầu bắc qua khoảng cách từ giữa kiến thức sự hiểu biết đến những
hành vi có lợi cho sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người. Những người có kĩ năng
sống là những người biết làm cho mình và người khác hạnh phúc. Họ thành công
hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính họ. Kĩ năng
sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội , ngăn ngừa các vấn đề có
hại cho sức khoẻ, xã hội và bảo vệ quyền con người. Các cá nhân thiếu kĩ năng
sống là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Giáo dục kĩ năng sống
2
có thể thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và do vậy sẽ giảm bớt tệ
nạn xã hội. Kĩ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn
ngừa các vấn đề sức khoẻ, xã hội và bảo vệ quyền con người. Giáo dục kĩ năng
sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượngtrong một xã hội
cách giúp HS biết cách phòng tránh các chấn thương trong tập luyện TDTT và các
xử lý ban đầu là rất quan trọng, giúp học sinh phòng tránh được rủi ro trong tập
luyện TDTT. Việc tập luyện các bài tập giúp HS rèn luyện sức khỏe và nâng cao thể
lực, qua đó GV giáo dục tư tưởng đạo đức rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh để
tiết học hiệu quả hơn.
II. Mục đích nghiên cứu
3
Giúp học sinh phòng tránh được các chấn thương thường gặp trong hoạt
động TDTT nói chung và trong cuộc sống hàng ngày nói riêng.
III.Phạm vi nghiên cứu – tích hợp
- Đối tượng: HS THCS
- Kết hợp các bộ môn: Sinh học, Hoạt động ngoài giờ lên lớp,Ngũ văn, GDCD…
IV. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ.
A- CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1. Khái niệm Kỹ năng sống.
Hiện nay có khá nhiều khái niệm về KNS, tuỳ từng góc nhìn khác nhau người
ta có những khái niệm về KNS khác nhau, chẳng hạn:
- Theo Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc
(UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham
gia vào cuộc sống hàng ngày – đó là những kĩ năng cơ bản như kĩ năng đọc, viết,
làm tính, giao tiếp ứng xử, giới thiệu bản thân, thuyết trình trước đám đông, làm
việc nhóm, khám phá những thay đổi của bản thân, tư duy hiệu quả…
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): KNS là những kĩ năng thiết thực mà
con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính
tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày
để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những
vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
*) Nhóm kĩ năng chuyên biệt:
Ngoài những KNS chung như đã nêu trên, KNS còn thể hiện trong những vấn
đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: các vấn đề về giới tính, sức khoẻ
sinh sản; vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh sức khoẻ, vệ sinh dinh dưỡng; ngăn
ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; vấn đề sử dụng rượu, thuốc lá, ma tuý;
ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; đề phòng tai nạn thương tích; hoà bình và giải
quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và
môi trường; văn hoá; ngôn ngữ; công nghệ…
b. Cách phân loại thứ hai: (theo quan điểm phân loại tâm lí học) Theo
cách này, KNS được chia làm ba loại chính là:
-Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:
-Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác:
- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả:
Tóm lại: Dù đứng ở góc độ nào để phân loại thì chúng ta cũng cần nắm vững
ba quan điểm phân loại này trong thể thống nhất của chúng. Trong thực tế các KNS
không hoàn toàn tách rời nhau. Cuộc sống luôn đặt mỗi cá nhân trước những tình
huống, hoàn cảnh bất ngờ không bình thường, nên khi cần quyết định vấn đề một
cách hiệu quả thì nhiều kĩ năng được huy động đan xen, hoà trộn nhau để vận dụng.
3. Tiếp cận KNS qua 4 trụ cột học tập do UNESCO đề xuất.
Năm 1996 hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ 21 của UNESCO (Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) đã đưa ra một báo cáo khẳng
định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của cá nhân, dân tộc và
nhân loại dựa trên bốn trụ cột sau:
- Học để biết – Kỹ năng sống liên quan đến nhận thức..
- Học để làm – Kỹ năng sống liên quan đến thực tiễn.
- Học để chung sống- KNS liên quan đến xã hội.
- Học để tự khẳng định: Kĩ năng sống nhận thức bản thân.
4. Thế nào là Giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh.
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng
những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở
rằng: mình là ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét điều gì, điểm
mạnh và điểm yếu của mình ra sao, mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào…
6.2. Nhóm kỹ năng quản lý bản thân.
Một người làm chủ bản thân, có kĩ năng quản lý bản thân biết: Mình muốn gì,
không muốn gì, thuận lợi và khó khăn có thể gặp khi thực hiện mục tiêu, sự kiên
định mục tiêu đã đề ra, biết điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp khi cần thiết, lường
trước những hậu quả xấu có thể xảy ra và tìm được giải pháp khắc phục, đánh giá
kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra.
6.3. Nhóm kỹ năng xã hội.
Kỹ năng xã hội là năng lực giao tiếp, thuyết phục và tường tác với các thành
viên khác trong xã hội mà không tạo ra xung đột hay bất hòa.
Kỹ năng xã hội là tập hợp các kỹ năng con người sử sụng để tương tác và
giao tiếp với người khác. Kỹ năng xã hội là một tập hợp các kỹ năng mà cho phép
chúng ta giao tiếp, tương tác và hòa nhập, thích nghi với xã hội. Kỹ năng xã hội
rất quan trọng và được xem là một trong các yếu tố của chỉ số thông minh cảm xúc .
B-. THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỐNG CỦA HỌC SINH THCS
1) Thực trạng chung
6
- Cụm từ kỹ năng sống (KNS) được định nghĩa thế nào? đưa vào rèn luyện cho
HS phải tiến hành ra sao? đây là một vấn đề cấn thiết nhưng tươngđối khó cho nhà
trường, gia đình và toàn xã hội.
- Thực chất cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về KNS
(mặc dù đã có các định nghĩa của WTO; UNESCO…) Nhưng nếu hiểu đơn giản thì
kỹ năng sống là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những nhu cầu và
thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả (cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại).
xanh - sạch - đẹp; xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực…
- Hơn nữa nhận thấy tính cấp bách của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Các giáo viên của trường nói chung và bản thân tôi là giáo viên TD nói riêng đều rất
7
trăn trở: làm thế nào để rèn luyện kĩ năng sống cho HS có hiệu quả để đưa trường
chúng tôi trở thành môi trường giáo dục tin cậy cho PHHS về mọi mặt.
b. Khó khăn
- Về phía học sinh: Một số em được gia đình nuông chiều quá trở thành các thói
quen xấu, khó thay đổi . Hơn thế do sức ép điểm số, do kỳ vọng của gia đình các em
thiên lệch về kiến thức, chưa chú trọng vào các môn học xếp loại , chưa chú trọng
rèn kĩ năng sống cho bản thân mình.
- Về phía giáo viên:
+ Chương trình giảng dạy nặng do đó phải nghiêng nhiều về kiến thức.
+ Một số còn lúng túng khi vận dụng, chưa thực sự khởi động, chưa gương
mẫu, chưa thực sự bắt kịp những thay đổi của xã hội
+ Chưa thực sự nắm vững về tâm lý lứa tuổi mặc dù chuyên môn rất vững.
Tóm lại rèn luyện KNS ở trường THCS là việc làm nhằm giúp cho HS có thói
quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan , trò giỏi, trở thành người có ích
cho gia đình cho xã hội.
- HS
C- ÁP DỤNG
RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁCH PHÒNG
TRÁNH CHẤN THƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG TDTT
1. Ý nghĩa của việc phòng tránh chấn thương trong hoạt động thể dục thể thao
(TDTT) :
Mục đích khi tham gia tập luyện TDTT là nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực.
Do không biết hoặc coi thường, không tuân theo các nguyên tắc phương pháp khoa
- Không thực hiện đúng một số nguyên tắc cơ bản trong tập luyện và thi đấu TDTT
như:
+ Nguyên tắc tăng tiến: Tập từ nhẹ đến nặng, từ đơn giản ->phức tạp, tập dần theo
một kế hoạch không nóng vội, ngẫu hứng, tuỳ tiện.
+ Nguyên tắc vừa sức: tập phù hợp với khả năng và sức khoẻ của mỗi người.
- Không đảm bảo nguyên tắc vệ sinh trong tập luyên TDTT như:
+ Trang phục không phù hợp
11
+ Địa điểm, phương tiện tập luyện không đảm bảo
an toàn, vệ sinh.
+ Môi trường tập luyện như ánh sáng,không khí, nhiệt độ, tiếng ồn,… không đảm
bảo yêu cầu.
12
+ Ăn, uống quá nhiều ngay trước hoặc sau khi tập…
13
- Không tuân thủ nội quy, kỷ luật trong tập luyện và thi đấu thể dục thể thao.
Trị liệu: Chườm nước đá, đưa nạn nhân đi khám. Các phương thuật như xoa bóp,
thuốc chống viêm, tập vật lý trị liệu, điều trị để có thể áp dụng cho loại trặc này.
+ Loại trầm trọng hơn cả. Các dây chằng bị đứt hẳn hay tách khỏi đầu xương.
Đau nhiều. Cử động bị tê liệt.
Trị liệu: Bất động hóa và đưa nạn nhân đến một trung tâm y khoa khám. Có thể
phải cần đến phẫu thuật.
Nên tránh: Trường hợp trật ở cổ chân, không nên cho bệnh nhân “đi lại xem có đau
không”. Dù mức độ trầm trọng như thế nào thì điều này cũng làm nạn nhân đau.
- Rã khớp: Đầu xương bung ra khỏi ổ khớp gây giãn hoặc rách các dây chằng và
chấn thương cho khoang khớp.
16
Triệu chứng: Đau nhiều, sưng vù tại chỗ, bầm tím, mất toàn bộ vận động chức
năng..
Nên tránh: Cố gắng nắn lại khớp.
Sơ cứu ban đầu: Cố gắng giữ bất động hoàn toàn chi bị sai khớp ở vị trí thuận lợi
nhất. Chườm nước đá hay “gạc” ướp lạnh. Băng nhẹ để hỗ trợ khớp. Đưa nạn nhân
đến bệnh viện .Nếu nặng sử dụng nẹp chuyên dùng để cố định, sau đó nhanh chóng
chuyển tới cơ sở y tế. Tuyệt đối nghiêm cấm việc cố gắng phục khớp của bạn tập,
hoặc người không có chuyên môn vì rất dễ dẫn tới những tổn thương phụ.
2) Gãy xương:
Thương tổn xương
Một vụ chấn động có thể gây gãy xương. Các chăm sóc y học là bắt buộc.
Nhưng phải coi chừng các chấn thương tiềm ẩn.
* Gãy xương hông .
* Chấn thương não.
* Gãy xương chày – mác
* Gãy xương đùi
Trị liệu: Thoạt tiên chườm nước đá. Sau đó sử dụng hơi nóng, gạc nước nóng, tia
hồng ngoại
Căng cơ: Một vài sợi cơ bị đứt. Đau nhiều và phải ngưng hoạt động. Vết máu
bầm sau một thời gian
Trị liệu: Chườm đá trong vòng hai ngày. Không xoa bóp; nghỉ ngơi. Sau 15 ngày ,
có thể xoa bóp cộng với tái tập luyện
Rách cơ: Số sợi cơ bị đứt nhiều hơn. Máu bầm xuất hiện nhanh hơn. Đau cũng
nhiều hơn, có thể gây ngất xỉu. Hoạt động chức năng của cơ bị tê liệt hoàn toàn.
Trị liệu: Chườm đá, tránh xoa bóp. Cần có y sĩ vì nếu việc rách cơ không được
chăm sóc thích hợp
Đứt cơ hoàn toàn: Cơ bị đứt hoàn toàn hay bị tách ra khỏi xương, một lỗ trũng
xuất hiện do cơ rút lại. Mất khả năng hoàn toàn. Nạn nhân không thể sử dụng chi bị
tổn thương.
Trị liệu: Cho người bệnh hoàn toàn bất động, lau sạch vết thương bằng chất sát
trùng và bao che bảo vệ. Nếu trầm trọng cần đến y sĩ hoặc bệnh viện.
5)Chuột rút.
20
Cách khắc phục: Khi bị chuột rút chúng ta sẽ cảm thấy đau. Để nhanh chóng thoát
khỏi tình trạng này, bạn cần làm ngay những bước sau:
- Kéo giãn phần cơ bị đau để chống lại sự co cơ do bị chuột rút gây nên.
- Nằm thẳng lưng, duỗi thẳng chân, gập bàn chân về phía người. Giữ nguyên tư thế
này trong khoảng vài giây.
- Xoa bóp nhẹ nhàng phần cơ bị chuột rút. Cần xoa bóp phần bắp chân từ dưới lên
trên để giúp máu lưu thông.
6)Đau xóc bụng.
Nguyên nhân: Cơn đau nhói thình lình diễn ra ở bụng, hông thường có từ sự gia
làm thế nào để học sinh biết phát huy sức mạnh nhóm, tăng cường sự hợp tác trong
giải quyết vấn đề thực tiễn.
Trong phạm vi chuyên đề này, tôi không thể liệt kê hết các loại chấn thương,
nhưng có thể thấy các chấn thương thường gặp trong luyện tập TDTT là kết quả của
việc học sinh không tuân thủ những nguyên tắc cần phải được thực hiện, trong tập
luyện và thi đấu. Cuộc chiến đấu với chấn thương phải bắt đầu từ công tác chuẩn bị,
hướng dẫn và người giáo viên, huấn luyện viên sẽ phải là người đi đầu trong cuộc
chiến này để giúp học sinh có thể phòng tránh được những chấn thương hay xảy ra
khi học TDTT.
22
23
24