TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN GIÁ TRỊ TRONG LỊCH sử CÁC HỌC THUYẾT KINH tế VÀ sự vận DỤNG VÀO xây DỰNG THỂ CHẾ KINH tế THỊ TRƯỜNG ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 41

1

SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN GIÁ TRỊ
TRONG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO
XÂY DỰNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
* Vị trí của lý luận giá trị trong lịch sử các học thuyết kinh tế.
Nghiên cứu lý luận giá trị trong lịch sử các học thuyết kinh tế, một mặt cho
chúng ta thấy sự phát triển liên tục của lý luận giá trị trong dòng chảy của lịch sử,
mặt khác càng làm cho chúng ta thấy thiên tài và công lao vĩ đại của C. Mác trong
vấn đề này.
Học thuyết giá trị là cơ sở của học thuyết giá trị tặng dư trong kinh tế chính
trị Mác Xít. Để hoàn thiện học thuyết giá trị của mình, C.Mác đã có sự kế thừa,
phê phán các quan điểm trước đó về lý luận giá trị. Sự phát triển lý luận giá trị
trong lịch sử các học thuyết kinh tế có thể được chia ra làm ba thời kỳ: giai đoạn
tan ra của chế độ phong kiến, tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản (tiêu biểu
là tư tưởng của trường phái Trọng thương, Trọng nông); giai đoạn chủ nghĩa tư bản
cạnh tranh tự do (tiêu biểu là các đại biểu của trường phái kinh tế chính trị tư sản
cổ điển và đặc biệt là tư tưởng của C.Mác, Ph. Ăngghen) và giai đoạn chủ nghĩa tư
bản độc quyền (Lênin bảo vệ và phát triển học thuyết giá trị của C.Mác).
1. Lý luận giá trị trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến, giai
đoạn tích luỹ nguyên thuỷ của CNTB
a. Lý luận giá trị của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương hay trường phái coi trọng thương mại là hệ thống tư
tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XV,
phát triển tới giữa thế kỷ XVII. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất phong
kiến tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời, gắn liền với nó
là quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản, tước đoạt nền sản xuất nhỏ và tích
luỹ tiền tệ...tạo điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Trong thời kỳ này, sản xuất chưa phát triển nên để có tích luỹ tiền tệ phải
thông qua hoạt động thương mại, đặc biệt là thương mại không ngang giá. Do
đó, đã nảy sinh và phát triển một khuynh hướng và chính sách kinh tế coi trọng

hoá đắt đỏ, quần chúng nhân dân nghèo đi, vì vậy phải giữ tiền lại ở nước Anh.
Ông chỉ ra các biện pháp để giữ tiền lại ở nước Anh là nhà nước phải thông
qua các biện pháp:
- Cấm nhập khẩu hàng hoá xa xỉ và một số hàng hoá khác


3

- Thực hiện chế định thương mại và mở rộng chế biến len… Chính phủ phải
đình chỉ việc phát hành tiền đúc không đủ giá;
- Cấm trả cho thương nhân nước ngoài lượng tiền nhiều hơn nhà nước quy định.
- Cấm xuất khẩu tiền tệ và buộc thương nhân nước ngoài phải chi tiêu toàn bộ
số tiền thu được trên nước Anh.
Như vậy, Chủ nghĩa trọng thương giai đoạn này chưa biết đến giá trị của hàng
hoá, họ mới chỉ nhìn thấy hình thái cao nhất của giá trị là tiền với chức năng
phương tiện cất trữ, chưa hiểu được bản chất của tiền và quy luật lưu thông tiền tệ.
Do đó tư tưởng của những người trọng thương giai đoạn này là ngăn chặn không
cho tiền ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền từ nước ngoài về càng nhiều càng
tốt, và chủ yếu là dùng biện pháp hành chính của nhà nước để trực tiếp can thiệp
vào lưu thông tiền tệ.
- Giai đoạn thứ hai, từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII.
Tư tưởng trung tâm của chủ nghĩa trọng thương giai đoạn này là “học
thuyết trọng thương” trên nguyên tắc: bán nhiều, mua ít, như vậy tiền tự nó sẽ
chạy vào trong nước. Học thuyết trọng thương đã đặt vấn đề không phải là giữ
khối lượng tiền tệ có sẵn trong nước mà là làm tăng lượng tiền tệ trong nước...
Đại biểu của chủ nghĩa trọng thương Anh giai đoạn này là Thomas Mun, (15711641). Ông đã phê phán gay gắt học thuyết tiền tệ, đồng thời phát triển lý luận về
bảng “Cân đối thương mại”. Ông cho rằng, “Cân đối tiền tệ” không phải là chính,
mà “Cân đối thương mại” mới là chính, do đó xuất khẩu phải nhiều hơn nhập khẩu.
Ông coi ngoại thương là công cụ bình thường và tốt nhất để làm cho đất nước trở
nên giàu có và tích luỹ tiền tệ; rằng không có phương pháp nào khác để kiếm tiền, trừ

và lưu thông hàng hoá, ở một góc độ nhất định họ đã nhìn thấy vai trò của công
nghiệp đối với thương nghiệp. Họ vẫn coi nhà nước là một công cụ đắc lực để
làm tăng của cải, song các biện pháp hành chính của nhà nước được thay thế
dần bằng các biện pháp kinh tế...
Tóm lại:
Lý luận giá trị của chủ nghĩa trọng thương chưa rõ ràng, kém về mặt lý
luận. Cụ thể:
- Chỉ biết của cải xã hội dưới hình thức duy nhất là tiền, chưa biết đến hàng hoá,
nên không đi sâu phân tích hàng hoá để tìm ra cơ sở bên trong của sự trao đổi là gì
(chưa biết đến giá trị)
- Họ chỉ nhìn thấy hình thức cao nhất của giá trị là tiền tệ. Cho rằng một quốc gia


5

càng nhiều tiền thì càng giàu có.
- Để tích luỹ tiền phải đẩy mạnh hoạt động thương mại; lưu thông là ngành
duy nhất làm tăng tiền tệ.
- Không biết đến các quy luật kinh tế khách quan, dựa vào nhà nước để
thực hiện tích luỹ tiền.
Tuy nhiên, công lao lớn nhất của chủ nghĩa trọng thương là đã nêu ra vấn
đề tích luỹ tiền tệ để các đại biểu sau này tiếp tục nghiên cứu, phát triển.
b. Lý luận giá trị của chủ nghĩa trọng nông
Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII chế độ chuyên chế phong kiến Pháp đã phát
triển đến đỉnh cao nhất, giới quý tộc và tăng lữ thống trị xã hội nắm hầu hết ruộng đất.
Nông dân Pháp đã được hưởng quyền tự do về thân thể, nhưng cuộc sống rất cực khổ.
Chính sách trọng thương của Colbert (Bộ trưởng bộ tài chính) đã làm cho nền nông
nghiệp bị suy sụp nghiêm trọng nạn đói kém lan tràn, thuế khoá nặng nề. Nông dân
phải nộp cho Nhà nước phong kiến, thuế cho nhà thờ, thường chiếm 1/3 đến 1/4 nông
phẩm sản xuất ra. Trong khi đó Nhà nước phong kiến Pháp tiếp tục chính sách bảo vệ

(giá trị thặng dư) chỉ được tạo ra trong quá trình sản xuất, song chỉ có lao động
nông nghiệp mới là lao động sản xuất, vì vậy chỉ có nông nghiệp mới là ngành sản
xuất, còn các ngành khác đều là ngành không sản xuất. Quan niệm này vừa là bước
tiến, vừa là bước lùi của phái trọng nông so với phái trọng thương.
F. Quesnay quan niệm “Sản phẩm thuần tuý là sản phẩm của đất đai dôi ra
còn lại sau khi đã trừ đi những chi phí lao động và những chi phí cần thiết khác
cho việc thực hiện canh tác ruộng đất”.
Như vậy, sản phẩm thuần tuý = tổng sản phẩm – chi phí sản xuất.
F. Quesnay khẳng định có hai nguyên tắc hình thành giá trị tương ứng trong
công nghiệp và nông nghiệp. Theo đó, trong công nghiệp giá trị hàng hóa = tổng
chi phí sản xuất (gồm chi phí về nguyên liệu, tiền lương công nhân, tiền lương của
nhà tư bản, chi phí bổ sung của tư bản thương nghiệp). Còn trong nông nghiệp, giá
trị hàng hóa = tổng chi phí + sản phẩm thuần tuý. F. Quesnay giải thích sở dĩ có hai
nguyên tắc hình thành giá trị như trên là do công nghiệp chỉ là quá trình kết họp
giản đơn các chất cũ, không có sự tăng lên về chất nên không tạo ra sản phẩm
thuần tuý. Ngược lại trong nông nghiệp, nhờ có tác động của tự nhiên nên có sự
phát triển về chất, tạo ra chất mới, tạo ra sản phẩm thuần tuý. Ví dụ gieo một hạt
lúa đến mùa có thể thu hoạch 10 hạt lúa.
So với trường phái trọng thương, trường phái trọng nông có bước tiến hơn


7

về lý luận giá trị, song nhìn chung còn kém tính lý luận. Cụ thể:
+ Chủ nghĩa trọng nông đứng trên lập trường duy vật để giải thích các hiện
tượng kinh tế, họ chỉ ra hai loại quy luật đó là quy luật luân lý tác động trong xã
hội và quy luật vật lý tác động trong tự nhiên và khẳng định những quy luật đó là
khách quan. Họ đã tiến xa hơn chủ nghĩa trọng thương, bởi chủ nghĩa trọng thương
không công nhận có quy luật xã hội. Tuy nhiên, mặc dù đứng trên lập trường duy
vật, song là duy vật siêu hình. Do vậy, phái trọng nông đã đồng nhất quy luật tự

sản xuất sản phẩm dôi ra ngoài số giá trị sử dụng mà anh ta đã tiêu dùng đi trong
thời gian sản xuất. Số thặng dư ấy như là tặng vật của tự nhiên, của ruộng đất.
+ Một hạn chế nữa của trường phái trọng nông là chỉ coi sản phẩm thuần tuý
(giá trị thặng dư) là phần phải nộp cho chủ ruộng với tư cách địa tô. Quan niệm
này chưa đánh giá được đầy đủ bản chất bóc lột, giá trị thặng dư không phải chỉ
tồn tại dưới hình thái địa tô. Họ coi những người Fecmiêr (nhà tư bản nông nghiệp)
cũng được trả lương như công nhân nông nghiệp.
2. Lý luận giá trị của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
(Uyliam Pét ty, A.Đ.Smit, Đa vít Ri các đô) trong giai đoạn CNTB cạnh tranh tự do
a. Lý luận giá trị của Uyliam Pét ty
Uyliam Pét ty (1623 – 1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết
kinh tế chính trị tư sản cổ điển ở Anh. Ông sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ
công, người có học rộng, biết nhiều và có tài trên nhiều lĩnh vực hoạt động khoa
học và thực tiễn. Ông sống trong giai đoạn quá độ chuyển từ giai đoạn tích luỹ
nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn công trường thủ công tư bản chủ
nghĩa, sự phát triển mạnh mẽ của công trường thủ công đã làm cho thương nghiệp
mất dần vị trí lịch sử. Thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản cũng kết thúc và thay
vào đó là tích luỹ tư bản, nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất đặt ra vượt quá khả
năng giải thích của chủ nghĩa trọng thương. Điều đó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh
tế mới dẫn đường. Học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ra đời mà
Uyliam Pét ty là một trong những đại biểu kiệt xuất nhất.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương nhưng Uyliam Pét ty đã
có những cống hiến nhất định trong lịch sử tư tưởng kinh tế, những vấn đề lý luận
mà ông trình bày trong các tác phẩm đã có nhiều vấn đề vượt ra khỏi khuôn khổ
của chủ nghĩa trọng thương. Vì vậy, Mác đã đánh giá cao công lao của ông và cho
rằng U.Pét ty là người mở đầu lịch sử trường phái cổ điển Anh, người sáng lập ra
khoa học kinh tế chính trị tư sản với tư cách là một khoa học. Ông là người đầu


9



10

- Giá cả chính trị: Là người đương thời của cách mạng tư sản và chiến tranh
vệ quốc, được chứng kiến những biến động thường xuyên của tình hình chính trị
xã hội và sự tác động của nó đến quá trình sản xuất và sự phát triển của kinh tế xã
hội, Uyliam Pét ty đã phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả chính trị của hàng hoá.
Theo ông: Giá cả chính trị là một loại giá đặc biệt của giá cả tự nhiên. Nó
cũng là chi phí lao động để sản xuất ra hàng hoá, nhưng trong điều kiện chính trị
không thuận lợi như: Chiến tranh hay sự mất ổn định về chính trị, kinh tế xã hội
tác động xấu đến quá trình sản xuất. Do đó, chi phí lao động trong giá cả chính trị
thường cao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường. Luận
điểm về giá cả chính trị và việc phân biệt giá cả tự nhiên, tức chi phí lao động
trong điều kiện bình thường với giá cả chính trị là lao động chi phí trong điều kiện
chính trị không thuận lợi Uyliam Pét ty là vấn đề có ý nghĩa to lớn, ngày nay luận
điểm đó vẫn còn nguyên giá trị. Uyliam Pét ty cũng đặt vấn đề lao động giản đơn
và lao động phức tạp khi cho rằng: "Sự khác nhau của các loại lao động ở đây
không có quan hệ gì cả, chỉ tuỳ thuộc vào thời gian lao động. Ông đã so sánh các
loại lao động trong một thời gian dài và lấy năng suất lao động trung bình trong
nhiều năm để loại trừ tình trạng ngẫu nhiên.
Từ những thành tựu trên có thể khẳng định trong lịch sử kinh tế chính trị,
Uyliam Pét ty đặt nền móng cho giá trị lao động. Song đây mới chỉ là mầm mống
của lý luận giá trị, lý thuyết giá trị lao động của ông còn chịu ảnh hưởng nhiều của
tư tưởng trọng thương chủ nghĩa. Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là
nguồn gốc giá trị, còn giá trị của các loại hàng hoá khác chỉ được xác định nhờ quá
trình trao đổi với bạc.
Uyliam Pét ty đưa ra luận điểm nổi tiếng: "Lao động là cha và là nhân tố tích
cực của của cải, còn đất đai là mẹ của nó". Luận điểm đó là đúng nếu xem của cải
là những giá trị sử dụng nhưng do chưa phân biệt được giá trị và giá trị sử dụng,

"Lời nói với những người khôn" ông đã cho rằng sự thừa thãi tiền có thể có hại
giống như một loại " mỡ của một cơ thể chính trị", ông phê phán chủ nghĩa trọng
thương, muốn tích trữ tiền vô hạn độ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn của sự giàu có. Theo
ông, tiền tệ chỉ là công cụ của lưu thông hàng hóa, vì thế không phải tăng số lượng
tiền tệ quá mức cần thiết. Xuất phát từ quan điểm đó, ông đã mưu toan quy định số
lượng tiền cần thiết cho nước Anh. Theo đó nước Anh chỉ cần 1/ 10 số tiền chi phí
trong một năm là hoàn toàn đủ cho nước Anh. Vấn đề này đã được ông nghiên


12

cứu, giải quyết một cách chắc chắn trong tác phẩm "Những ý kiến về tiền tệ". Tuy
những tính toán còn có nhiều điều tùy tiện. Nhưng vấn đề quan trọng là Uyliam Pét
ty đã đưa ra được quy luật lưu thông tiền tệ. Những luận điểm mà ông đưa ra hoàn
toàn trái ngược với chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng thương. ông đã bác bỏ
tất cả mọi sự thao túng lưu thông tiền tệ. Chính sau này Mác đã nhận xét tác phẩm
"Những ý kiến về tiền tệ" không còn dấu vết của chủ nghĩa trọng thương.
* Thành tựu và hạnh chế của Uyliam Pét ty về lý luận giá trị
Thành tựu:Tiến bộ hơn trọng thương, trọng nông ở chổ: Ông là người đầu tiên
đặt nền móng cho nghiên cứu về lý luận giá trị
- Nhìn thấy thực thể của giá trị là lao động (tuy nhiên chỉ có lao động khai tác bạc).
- Đã phân tích được yếu tố năng suất lao động ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng
hoá; đã đặt vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao động phức tạp nhưng chưa đi sâu
nghiên làm rõ.
- Thấy được các hình thức của giá cả hàng hoá (hình thức biểu hiện của giá trị trong
lưu thông: giá cả tự nhiên, giá cả nhâ tạo, giá cả chính trị).
- Nhìn thấy hình thức cao nhất của giá trị là tiền tệ: cho tiền không phải là của cải
duy nhất của quốc gia, đánh giá triền như mỡ của cơ thể chính trị; là người đặt nền móng
cho nghiên cứu số lượng tiền cần thiết trong lưu thông (quy luật lưu thông tiền tệ)
Hạn chế: - Pécty mới đặt nền móng cho nghiên cứu lý luận giá trị, lý luận giá trị của ông

hiểu những quy luật vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; mặt khác, ông
vẫn thường dùng phương pháp mô tả, liệt kê, thuật lại bằng khái niệm có tính chất
công thức những biểu hiện bề ngoài của đời sống kinh tế và do đó cũng thường dẫn
ông đến những kết luận phi lý tầm thường. Hai phương pháp này của A.Smíth luôn
sống bên nhau quyện chặt vào nhau và thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Vì vậy
mà lý luận của ông thường có mâu thuẫn, thiếu nhất quán.
Nội dung lý luận giá trị của S.Mít
- A.Smíth có công lớn khi ông phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao
đổi. Ông khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi và đã kịch liệt
phê phán lý luận về lợi ích của Caliton và Tuyếtgô, ông khẳng định ích lợi không
có liên hệ gì tới giá trị trao đổi, A.Smíth nói rằng - không khí chẳng có chút gì giá
trị, mặc dù nó rất có ích.
- A.Smíth đã nêu hai định nghĩa về giá trị hàng hoá; định nghĩa thứ nhất giá trị là
do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định. Đây là khái niệm đúng đắn về


14

giá trị. A.Smíth còn nêu định nghĩa thứ hai về giá trị của hàng hoá là do lao động quyết
định, mà lao động đó có thể mua bán, đổi lấy hàng hoá.
Ở định nghĩa thứ nhất, A.Smíth tỏ ra là người đứng vững trên cơ sở lý thuyết
về giá trị lao động nhưng định nghĩa thứ hai lại bộc lộ sự lẫn lộn giữa lao động
sống và lao động quá khứ.
- Khi bàn về các bộ phận cấu thành giá trị của hàng hoá, A.Smíth cho rằng
trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc
đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của mọi giá trị trao đổi. A.Smíth coi tiền
lương, lợi nhuận và địa tô là nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm
đúng đắn. Nhưng ông lại sai lầm khi coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên
của mọi giá trị trao đổi. Ông đã lẫn lộn vấn đề hình thành giá trị và vấn đề phân
phối giá trị, ông xem thường tư bản bất biến (c), coi giá trị chỉ có (v + m). A.Smíth

- Xác định các bộ phận cấu thành của giá trị là tiền lương, lợi nhuận, địa tô là sai.
- Chưa đi sâu nghiên cứu các bộ phận cấu thành của giá trị vì không biết tính hai
mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
- Chưa biết lượng của giá trị (tính ở mức hao phí lao động trung bình)
C. lý luận giá trị của Đavít Ricác đô (1772 - 1823)
Đa vít Ri các đô sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp được bắt đầu ở
Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ chuyển từ công trường thủ
công sang công xưởng cơ khí, hệ thống công xưởng của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã bám rễ vững chắc ở nước Anh, giai cấp tiểu tư sản điêu đứng, giai cấp
nông dân Anh bị phân hóa sâu sắc, giai cấp công nhân và giai cấp tư sản thực sự
trở thành hai giai cấp cơ bản của xã hội. Điều đó chứng tỏ, cuộc cách mạng công
nghiệp không chỉ là cuộc cách mạng kỹ thuật mà còn gắn liền với những biến đổi
sâu sắc về kinh tế xã hội, đánh dấu sự thắng thế của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa ở Anh. Chủ nghĩa tư bản thực sự đứng vững trên hai chân của nó với hai
giai cấp đối lập là tư bản và vô sản.
Song song với quá trình hình thành giai cấp máy móc do cuộc đại cách mạng,
công nghiệp tạo ra đã tạo tiền đề ràng buộc giai cấp vô sản vào giai cấp tư sản, tạo
thuận lợi cho bóc lột giá trị thăng dư. Đời sống giai cấp công nhân ngày càng cùng
cực, thất nghiệp tràn lan.
Thế giới quan của ông có tính duy vật, quá trình phát triển kinh tế bao giờ


16

cũng được ông coi như một quá trình khách quan và có tính qui luật. Tuy nhiên
chủ nghĩa duy vật của Đa vít Ri các đô là chủ nghĩa duy vật máy móc.
Về phương pháp luận Đa vít Ri các đô đã sử dụng các phương pháp của khoa
học tự nhiên, phương pháp suy diễn để phân tích, mổ xẻ nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, nhưng chủ yếu là phương pháp trừu tượng hóa. Ông đã sử dụng rộng rãi
phương pháp này để nghiên cứu bản chất các hiện tượng kinh tế của xã hội tư bản.

trao đổi, mà chỉ là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi”. Nếu một vật không có
ích cho ai cả thì nó sẽ không có giá trị trao đổi. Theo ông, giá trị trao đổi chịu ảnh
hưởng của hai nhân tố: số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng và tính
chất hiếm có của nó.
Những hàng hóa hiếm có, theo Đa vít Ri các đô là những hàng hóa mà “giá trị
trao đổi của chúng không thể giảm xuống do lượng cung tăng lên”, những hàng
hóa này chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ bé trong tổng số hàng hóa của xã hội. Nên
ông cho rằng, khi nghiên cứu giá trị trao đổi và những quy luật điều tiết giá trị
tương đối của các hàng hóa, người ta có thể chỉ lấy những hàng hóa mà số lượng
có thể được tăng lên bằng lao động của con người, và trong lĩnh vực sản xuất ra
chúng cạnh tranh không hạn chế.
Đa vít Ri các đô kiên trì quan điểm lao động là nguồn gốc duy nhất của giá
trị. (ông đã tranh luận với Bas Ty Xay, Xay cho rằng giá trị sử dụng quyết định giá
trị trao đổi. Ri Các Đô lập luậ vậy thì vàng có giá trị trao đổi lớn gấp 1000 lần sắt
phải chăng giá trị sử dụng của vàng lớn gấp 1000 lần giá trị sử dụng của sắt. Xay
đúi lý viện dẫ ra giá trị mất tiền mua và không mất tiền mua). Đây là công lao to
lớn của ông và ông luôn luôn đứng trên quan điểm này để xây dựng toàn bộ hệ
thống lý luận của mình. Ông khẳng định rằng: hao phí lao động để sản xuất ra các
hàng hóa nhưng không phải chỉ có lao động trực tiếp chi phí vào việc sản xuất ra
các hàng hóa đó mà còn có cả lao động cần thiết trước đó để sản xuất ra các công
cụ, dụng cụ và nhà xưởng dùng vào việc sản xuất ấy.
- Như vậy, ông đã thừa nhận trong cơ cấu giá trị hàng hóa không thể loại trừ
lao động quá khứ (c) mà giá trị hàng hóa bao gồm cả lao động quá khứ và lao động
sống (c + v + m), tiền công và lợi nhuận là những yếu tố cấu thành giá trị hàng
hóa, do lao động trực tiếp chi phí vào việc sản xuất các hàng hóa đó tạo ra. Do đó,
việc nâng cao tiền công chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà tư bản, chứ không
ảnh hưởng gì đến giá trị của các hàng hóa. Ông cho rằng, sự khác nhau trong mức
độ lâu bền của tư bản cố định và sự khác nhau trong tỷ lệ giữa hai hình thái của tư



cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, còn giá trị được đo bằng số lượng lao động
đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa. Giá cả hàng hóa có thể lên, xuống không cùng


19

chiều với giá trị. Cung và cầu chỉ ảnh hưởng có tính nhất thời đến giá cả hàng hóa.
Theo ông, “Xét đến cùng, giá cả hàng hóa là do chi phí sản xuất điều tiết”. Việc
giảm chi phí sản xuất sẽ làm cho giá cả hạ xuống ngang với giá cả tự nhiên.
- Ông giải thích giá cả tự nhiên “không phải là giá cả thông thường, mà là
giá cả cần thiết để thường xuyên thỏa mãn được lượng cầu” với một lợi nhuận
thông thường. Chính quan niệm về giá cả tự nhiên nêu trên, chứng tỏ Đa vít Ri các
đô đã tiếp cận đến giá cả sản xuất - một hình thái chuyển hóa của giá trị trong điều
kiện tự do cạnh tranh, nhưng ông không phân biệt được giá trị và giá cả sản xuất và
lẫn lộn hai khái niệm đó. Ông đã không nhận thức được sự phân phối lại giá trị
thặng dư trong quá trình thực hiện nó và việc quy luật giá trị chuyển hóa thành quy
luật giá cả sản xuất.
- Đa vít Ri các đô cũng đã đề cập đến lao động phức tạp và lao động giản
đơn, nhưng ông đã không lý giải được việc quy lao động phức tạp thành lao động
giản đơn trong quá trình trao đổi hàng hóa.
Học thuyết giá trị của Đa vít Ri các đô là một cống hiến to lớn cho khoa Kinh
tế chính trị cổ điển. Nếu như A.Smíth có công đưa lý luận giá trị thành một hệ thống
thì Đa vít Ri các đô đã có công đưa lý luận giá trị thành một khoa học trên cơ sở
nhất quán quan điểm giá trị hàng hoá do lao động tạo nên. Song không phải ông
không có những hạn chế khiếm khuyết. Mặc dù đã biết được lao động tạo ra giá trị
là một thứ lao động không kể đến hình thức cụ thể của nó, nhưng ông lại không
biết được tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, nên đã không chứng
minh được sự chuyển dịch giá trị tư bản bất biến vào sản phẩm mới diễn ra như thế
nào. Do chưa phân biệt được giá trị và giá cả sản xuất nên Đa vít Ri các đô còn có
sự lẫn lộn giữa quy luật giá trị với quy luật giá cả sản xuất. Ông chưa thấy được

loại làm tiêu chuẩn tiền tệ. Ông khẳng định tiền giấy không điều tiết được giá trị
của vàng với tư cách là hàng hoá, mà vàng điều tiết tiền giấy. Nếu giá trị của vàng
không hạ xuống thì không thể đưa thêm tiền giấy vào lưu thông.
Đa vít Ri các đô cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa giá cả hàng hoá và giá trị
của tiền (vàng). Theo ông " khi nào vàng rẻ thì hàng hoá đắt, còn khi nào vàng đắt
thì hàng hoá rẻ, giá của chúng hạ xuống".
Mặc dù có nhiều luận điểm đúng đắn về tiền tệ, song lý luận tiền tệ của Đa vít


21

Ri các đô vẫn còn những hạn chế. Ông chưa phân biệt được tiền giấy với tiền tín
dụng (giấy bạc ngân hàng), và coi tiền tín dụng ngang với tiền giấy. Do chưa phân
biệt rõ ràng giữa lưu thông tiền giấy và tiền kim loại sự khác nhau có tính nguyên
tắc giữa tiền giấy và tiền kim loại, nên ông đã có kết luận chung rằng: giá trị của
tiền là do số lượng của chúng điều tiết, còn giá cả của hàng hoá tăng lên theo tỷ lệ
tăng của số lượng tiền.
Học thuyết số lượng tiền tệ của Đa vít Ri các đô chưa triệt để. Mác đã phê
phán sự nhượng bộ của ông đối với học thuyết số lượng tiền tệ và tính chất phản
lịch sử trong việc phân tích tiền tệ. Đa vít Ri các đô không hiểu được bản chất chức
năng của tiền và sự phát triển của các hình thái giá trị coi tiền chỉ là phương tiện kỹ
thuật thuần tuý cho lưu thông hàng hoá.
Đáng giá công lao và hạn chế của Đa vít Ri về lý luận giá trị
Về công lao:
- Phân biệt rõ ràng giá trị và giá trị trao đổi.
- Cho cơ sở của giá trị trao đổi là hao phí lao động (giá trị)
- Đã nhìn thấy các bộ phận cấu thành giá trị (C1 +v +m).
- Bước đầu đã nhìn thấy lao động giản đơn và lao dộng phức tạp ảnh hưởng
đến giá trị của hàng hoá.
- Ông chính là người đã đưa lý luận giá trị lao động thành một hệ thống thống

Học thuyết kinh tế Mác là sự kế thừa có phê phán kinh tế chính trị cổ điển
Anh, mà trọng tâm là lý luận giá trị – lao động chính trị để C. Mác xây dựng lý
luận giá trị thặng dư, giải thích một cách khoa học bản chất bóc lột của chủ nghĩa
tư bản. Lý luận chủ nghĩa xã hội của các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa không tưởng
phương tây đã lên án, phê phán chủ nghĩa tư bản, vạch ra một cách tài tình hình
mẫu về chủ nghĩa xã hội: bình đẳng, không có bóc lột, nhưng lại không thấy được
vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nên kế hoạch xã hội chủ nghĩa của
họ chỉ là ước mơ không tưởng.
Kế thừa và phát triển các tinh hoa trí tuệ của nhân loại, kết hợp với thực tế
lịch sử thế giới đang diễn ra lúc đó, C. Mác đã có hai phát kiến vĩ đại là: chủ nghĩa
duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. Nhờ đó đã đưa chủ nghĩa xã hội
không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học.
Học thuyết giá trị của của C.Mác.
C. Mác đã hoàn thiện lý luận giá trị, làm cơ sở để nghiên cứu lý luận giá trị
thặng dư. Cụ thể:


23

- Phân biệt rõ ràng giá trị và giá trị sử dụng, trong đó giá trị quyết định giá trị
trao đổi, là cơ sở duy nhất của giá trị trao đổi.
- Giá trị hàng hoá được nghiên cứu ở các cấp độ ngày càng sâu: giá trị là do
lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá; là do lao động trừ
tượng giản đơn xã hội càn thiết tạo nên.
- Phân biệt rõ chất và lượng của giá trị:
+ về chất: là do lao động kết tinh trong hàng hoá. Gồm lao động quá khư c (c1
và c2) và lao động sống (v+m) tạo nên
+ Về lượng: là số lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá. Song phải
tính ở điều kiện trung bình của xã hội chứ không phải ở điều kiện cá biệt.
- Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá: Năng suất lao

ca trng phỏi ny l Simonde Sismondi, Pierr Joseph Proudon.
Mc dự cú rt nhiu quan im sai lm v t tng kinh t núi chung, song
i vi hc thuyt giỏ tr núi riờng, trng phỏi ny ó cú cụng phỏt trin t tng
ca Ricaro, nht l v thc o giỏ tr hng hoỏ v mõu thun gia giỏ tr v giỏ
tr s dng. Sismondi ng trờn lp trng giỏ tr - lao ng, ly lao ng lm
thc o giỏ tr ca hng hoỏ, thy c mõu thun gia giỏ tr s dng v giỏ tr
ca hng hoỏ. ễng ó tin thờm mt bc so vi Ricaro khi cho rng thc o giỏ
tr hng hoỏ l do thi gian lao ng xó hi cn thit quy nh.
Tuy nhiờn, Ricardo coi giỏ tr tng i ca hng hoỏ c o bng lng lao
ng chi phớ sn xut ra hng hoỏ, cũn Sismondi cho giỏ tr tng i ca hng
hoỏ c qui nh bi cnh tranh, lng cu, t l gia thu nhp v lng cung v
hng hoỏ. ễng ng nht gia giỏ tr vi giỏ c. ễng cũn a ra khỏi nim giỏ tr
tuyt i hay chõn chớnh, iu m Ricaro khụng cp. Nhng Sismondi gii
thớch khỏi nim ú theo kiu t nhiờn ch ngha v i tỡm giỏ tr ú trong mt n
v kinh t c lp, theo kiu Rụbinxn.
b. Lý lun giỏ tr ca kinh tế chính trị tầm thờng.
Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, phơng thức sản
xuất t bản chủ nghĩa đợc xác lập ở hầu hết các nớc Tây Âu. Từ năm 1830 giai cấp t
sản thực hiện đợc sự thống trị về chính trị ở Anh và Pháp. Đồng thời, giai cấp vô
sản cũng ngày càng lớn mạnh, chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác,
mang tính chất giai cấp quyết liệt, đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa t bản. Sự xuất
hiện và phát triển của trào lu chủ nghĩa xã hội không tởng tiêu biểu là Saint
Simond, M.Farier và R.Owen phê phán kịch liệt chủ nghĩa t bản đã có ảnh hởng
sâu rộng trong phong trào của giai cấp công nhân. Để bảo vệ chủ nghĩa t bản,


25
giai cấp t sản cần một lý luận chống lại chủ nghĩa xã hội không tởng. Trong bối
cảnh lịch sử đó, kinh tế chính trị tầm thờng ra đời đã biểu hiện sự phản ứng của
giai cấp t sản đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và những t tởng của chủ nghĩa xã hội không tởng. C.Mác viết: "Đồng thời, giờ tận số của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status