Lý thuyết về lợi thế so sánh qua các thời kỳ và vận dụng vào lĩnh vự xuất nhập khẩu nông sản việt nam - Pdf 41

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------

TIỂU LUẬN
LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ SO SÁNH QUA CÁC THỜI KỲ
VÀ VẬN DỤNG VÀO LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU
NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Thầy Hoàng Vinh

Hà Nội, 3/2016


MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, tự do hoá thương mại đã và đang trở thành là xu

hướng chung của thế giới, và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Điều này mang
đến cho nước ta nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với việc phát triển nền
kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam nói đã đạt
được những thành tựu đáng kể, dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường
quốc tế, một trong số đó là lĩnh vực xuất nhập khẩu. Xuất khẩu ngày càng
đóng một vai trò lớn trong nền kinh tế, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, hàng
năm xuất khẩu nông sản đóng góp 20% GDP vào nền kinh tế. Việt Nam đã
trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về các mặt hàng



3.

Nhiệm vụ
Phân tích lý thuyết lợi thế so sánh
Trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của hoạt động

xuất nhập khẩu Việt Nam hiện nay
 Đề ra các giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu nông sản Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
 Phạm vi không gian:
 Phạm vi thời gian: 2000 - 2015
 Phạm vi nội dung: Từ cơ sở trình bày lý thuyết lợi thế so sánh, tập
trung phân tích thực trạng xuất nhập khẩu hiện nay, giải thích nguyên

4.

nhân dẫn đến thực trạng.
Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần:




Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng xuất nhập khẩu nông sản Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp

4








được xác định
Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong 1 phạm vi quốc gia
Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài
Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động
Công nghệ của hai quốc gia như nhau
Chi phí sản xuất là cố định
Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)
Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế
Chi phí vận chuyển bằng không
Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá.
Theo David Ricardo, lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi

thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và
trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn
5


nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Vì vậy, những nước có lợi thế
tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so
với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi
khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi
thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất


15

Sản phẩm

Theo số liệu trên thì Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh cả về
sản xuất lúa mì và rượu vang, năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp 2 lần
của Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ. Tuy
nhiên, nếu xét theo lợi thế so sánh, 1 đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất tốn
6


chi phí tương đương với chi phí sản xuất 2 đơn vị lúa mì. Như vậy, Bồ Đào
Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh và ở Anh sản xuất lúa
mỳ sẽ rẻ tương đối hơn so với Bồ Đào Nha. Anh có lợi thế so sánh về sản
xuất lúa mì còn Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vang. Từ đó,
Anh nên chuyên môn hoá vào sản xuất lùa mỳ, còn Bồ Đào Nha nên chuyên
môn hoá sản xuất rượu vang.
Từ ví dụ trên ta có thể kết luận rằng sau khi tập trung sản xuất mặt hàng
có lợi thế so sánh cùng với sự trao đổi thương mại giữa hai nước, tổng sản
phẩm tăng lên, thu nhập thực tế của xã hội nói chung, của mỗi quốc gia nói
riêng cũng tăng lên. Hay có thể nói ngắn gọn rằng, sau khi mỗi nước tập trung
chuyên môn hoá sản xuất ngành hàng có lợi thế và thông qua trao đổi thương
mại thì cả hai bên đều có lợi.


Ý nghĩa

Tư tưởng của D.Ricardo về lợi thế so sánh mở đầu cho những phân tích
mới về mối quan hệ của một nền kinh tế với thế giới bên ngoài. Nó chỉ ra

khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả tương đối của
các hàng hoá sau đó sẽ được chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của
hàng hoá. Sự khác biệt về gíá cả tuyệt đối của hàng hoá là nguồn lợi của hoạt
động xuất khẩu.
Nói một cách khác, một quốc gia dù ở trong tình huống bất lợi vẫn có
thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này các
quốc gia tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế
tương đối và nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế tương đối. Sự
chuyên môn hoá trong sản xuất này làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi
thế của mình một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được những nguồn lực như
vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất hàng hoá.
Chính vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ tăng.


Lợi thế so sánh theo mô hình trường đại học Stanford Hoa Kỳ

8


Một trong những quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh được áp dụng
rộng rãi trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay là lý thuyết lợi thế so sánh của
Đại học Stanford Hoa Kỳ. Nội dung của lý thuyết là một quốc gia được coi là
có lợi thế so sánh trong sản xuất sản phẩm X khi chi phí cơ hội xã hội để sản
xuất thêm một đơn vị sản phẩm X thấp hơn giá bên giới (trước khi thông
quan) của sản phẩm đó. Định nghĩa lợi thế so sánh này dựa vào hai khái niệm:
giá biên giới (trước khi thông quan) và chi phí cơ hội.


Giá biên giới của sản phẩm X trước khi thông quan bao gồm: giá
F.O.B đối với quốc gia xuất khẩu X và giá giá C.I.F đối với quốc

Tình huống này đặt ra cho nước đang phát triển ấp dụng để phát triển
một ngành hàng công nghiệp cụ thể. Ban đầu, quốc gia đó phải nhập khẩu sản
phẩm từ các nước công nghiệp phát triển đi trước. Sau đó, tích luỹ vốn và học
tập kinh nghiệm để phát triển sản xuất tại chỗ thay thế nhập khẩu. Trên cơ sở
đso, nhập khẩu sẽ giảm dần và tiến đến xuất khẩu.


Phiên bản 2: Một nước - nhiều ngành hàng

Quy luật phát triển trong từng ngành hàng giống như trong phiên bản 1.
Quy luật phát triển công nghiệp của một nước là: phát triển các ngành thứ cấp
trước, phát truueenr các ngành sơ cấp sau. Theo đó, lợi thế so sánh của một
quốc gia sẽ chuyển dịch liên tiếp giữa các ngành theo thứ tự trên.


Phiên bản 3: Nhiều nước - một ngành hàng

Quy luật phát triển công nghiệp từng nước giống như trong phiên bản 1
và phiên bản 2. Từ đó, sẽ diễn ra sự phân công lao động quốc tế theo khu vực
trong từng ngành hàng cụ thể.
Đội hình bay của đàn nhạn Đông Á: trong đó Nhật Bản là đầu đàn, các
nước NICs thuộc hàng thứ hai; các nước nổi trội ASEAN hàng ba; và Trung
Quốc và Việt Nam ở hàng thứ tư.
Đánh giá chung về lợi thế so sánh
Ưu điểm

1.1.3.


Dễ dàng tính toán, lượng hoá được mức lợi thế so sánh, từ đó đánh giá vị thế

phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của
chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho đến nay nó đã phát triển
rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của
nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc
hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu
đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và doanh nghiệp tham gia nói riêng.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng
quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa

11


các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt
động này.
Vai trò của xuất khẩu
Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
 Xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả kinh tế trong
1.2.2.

a)

nước
Hiện nay, trong xu hướng mở cửa nền kinh tế, xuất khẩu đóng vai trò
then chốt mở hướng phát triển mới tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng
sẵn có trong nước nhằm sử dụng phân công lao động quốc tế một cách hiệu
quả nhất.
Đối với các nước có trình độ phát triển tương đối thấp như nước ta thì
những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, những nhân tố
thiếu hụt là vốn, kĩ thuật, thị trường, kĩ năng quản lý. Xuất khẩu là giải pháp

Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng
nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất
về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản
xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó
các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan
điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất
khẩu. Nó thể hiện:
-

Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều này có
thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành
khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển.

-

Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản
xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.

-

Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mở
rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia.

13


-

Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất

Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng
cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,



nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công



tác quản trị kinh doanh.
Xuất khẩu tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, buộc các doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, hạ
giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác



tiết kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo
ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ, công nhân viên.

14




Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn
bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có
lợi.
1.3. Đánh giá về lợi thế so sánh của Việt Nam theo các quan điểm trên

vào lợi thế này thì Việt Nam khó có khả năng thay đổi và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở mức độ cao hơn. Mặt khác, điều kiện tự do của
AFTA, cùng với sự phát triển nhiều loại hình công nghệ mới, sẽ hướng các
công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước có các điều kiện và lợi thế sản
xuất cấp cao hơn (gọi là lợi thế “động” bao gồm vốn, công nghệ cao, nhân
công trình độ cao, cơ sở hạ tầng hiện đại…). Hơn nữa, giá cả của các loại
hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điều kiện sản
xuất cấp thấp luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa trên lợi thế về các
điều kiện sản xuất cấp cao hơn. Vì vậy, Việt Nam cần phải có một bước
chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế so sánh ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có
giá trị cao. Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận
lợi, tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó
nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra
bước nhảy vọt về năng suất.

16


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1.

Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông sản
2.1.1. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng nông sản
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập

khẩu của các nước là thước đo đánh giá quá trình hội nhập của các nước. Sự
phát triển của mỗi quốc gia đòi hỏi sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới
phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động xuất

trường thế giới trong nhiều năm trở lại đây (hạt điều, tiêu đen - đứng thứ nhất
thế giới cả về khối lượng và giá trị; cà phê nhân và sắn lát khô - đứng vị trí
thứ 2 và 2; gạo - đứng vị trí thứ 3 và 4; cao su - đứng vị trí thứ 4 và 4; chè đứng vị trí thứ 5 và 7). Điểm chú ý là trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
18


của cả nước năm 2015 thì có tới 4 mặt hàng nông sản (hàng thủy sản, gỗ và
sản phẩm đồ gỗ, cà phê và gạo).
Tuy nhiên bên cạnh những tín hiểu chuyển biến tăng trưởng đáng
mừng, hàng nông sản Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém. Thị trường xuất khẩu
hàng nông sản Việt Nam chủ yếu tập trung tại các nước trong khu vực, trong
khi thị trường các nước TPP có tiềm năng lớn chưa thực sự được chú trọng,
mới chiếm khoảng 11% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt
Nam. Hơn nữa, chất lượng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam tuy có
được cải thiện trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn ở mức thấp so với
đối thủ cạnh tranh.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện gần 90% hàng
nông sản của Việt Nam xuất khẩu dưới dạng thô, sơ chế, mang thương hiệu
nước ngoài. Do đó, khi xuất khẩu hàng nông sản, phần giá trị gia tăng thấp và
dễ gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh do giá cả sản phẩm thô trên thị
trường thế giới đang có xu hướng giảm mạnh và thường xuyên biến động với
biên độ cao. Một số mặt hàng nông sản của ta tuy đang được xếp ở vị trí cao
trên thị trường thế giới nhưng do chất lượng thấp nên thường bán với giá thấp
hơn giá thế giới.
Thực tiễn cho thấy, năm 2015, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực của nước ta như cà phê, ca cao, gạo… có xu hướng giảm cả về lượng
và kim ngạch. Thực trạng này do 1 phần ảnh hưởng từ suy giảm tổng cầu thế
giới tuy nhiên ó thực tế hơi buồn là lâu nay giá nông sản xuất khẩu của ta còn
luôn thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của nhiều quốc gia khác.
2.1.2.

một nửa nhu cầu gạo của Tanzania). Đất nước trồng rất nhiều điều với 12 nhà
máy chế biến nhưng do công nghệ chưa phát triển, xuất khẩu vẫn ở dạng sơ
chế nên giá rất rẻ mạt. Tanzania có rất nhiều chính sách lý thú thu hút đầu tư.
Chẳng hạn như bạn có thể mang toàn bộ lợi nhuận về VN, bạn có thể thoải
mái trong sử dụng ngoại tệ và bạn được nhiều chính sách miễn giảm thuế...
Chúng tôi đang mong chờ các bạn.

20


Ngoài ra, các thành viên TPP cũng là những thị trường vô cùng rộng
lớn của nông sản Việt Nam.
2.2.

Tình hình nhập khẩu nông sản Việt Nam
2.2.1. Tốc độ nhập khẩu của 1 số thị trường nông sản vào Việt Nam
Theo Thống kê của Bộ NN&PTNT, trong 10 tháng đầu năm 2015,

nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam lên tới 19,17 tỷ USD,
tăng 7%. Trong khi, ngành nông nghiệp chỉ xuất khẩu được 24,61 tỷ USD,
giảm 3,8% so với cùng kỳ. Trong đó, riêng mặt hàng ngô nhập khẩu tăng rất
mạnh. Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 10.2015 đạt 584 nghìn
tấn với giá trị đạt 119 triệu USD.
Như vậy khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm
2015 đạt 5,72 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 1,26 tỷ USD, tăng 55,8% về khối
lượng và tăng 32,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.
Bên cạnh ngô, mặt hàng đậu tương cũng tăng mạnh. Ước tính khối
lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 10.2015 đạt 23 nghìn tấn với giá trị
12 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 10 tháng đầu
năm 2015 đạt 1,29 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 592 triệu USD, tăng 1,1%

thị trường có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2014 là Malaixia (tăng
86%), Pháp (tăng 51,7%) và Hàn Quốc (tăng 47,7%).
Phân tích thực trạng xuất nhập khẩu nông sản Việt Nam
2.3.1. Lợi thế

2.3.

a) Lợi thế so sánh tự nhiên


Vị trí địa lý:
Nước ta có đường bờ biển giáp với các nước rất dài: biên giới Việt –

Trung dài xấp xỉ 1,400 km, phần lớn dự theo núi, sông tự nhiên và những hẻm
núi hiểm trở; biên giới với Lào là mộ xương sống chung, được hia ra nhiều
đoạn với những đèo thấp, không gây trở ngại cho sự giao lưu giữa hai nước
mà trái lại còn mở ra những tuyến giao thông quan trọng, giúp dễ dàng thông
thương giữa các tỉnh thành với các nước khác. Điều này giúp cho hoạt động
xuất nhập khẩu nông sản Việt Nam trở nên dễ dàng hơn.
22




Tài nguyên thiên nhiên:
Nước ta có nguồn tài nguyên tự nhiên vô cùng giàu có và phong phú,

đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng và thiết yếu góp phần vào sự
phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Tài nguyên đất: Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích

tăng vụ. Lượng mưa quanh năm cao nên cung cấp đủ nguồn nước để sản xuất
và phục vụ đời sống. Khí hậu phân hóa từ bắc tới nam, từ đông sang tây,
khiến cơ cấu cây trồng, vật nuôi nước ta rất đa dạng, phong phú. Nhờ đó ta sở
hữu nhiều loại đặc sản cây trái, thực phẩm từ các vùng miền như nhãn lồng
Hưng Yên, thịt dê Ninh Bình,…


Nguồn lao động:
Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người. Lực lượng lao động

nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng năm trung bình có khoảng
1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Thể lực và tầm vóc của
nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao. Lao động Việt
Nam được đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù.
Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh. Điều
này có thể được xem như là một thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đào tạo
nhân lực.
Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng
suất lao động đo bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành
chia cho tổng số người làm việc bình quân trong 01 năm, năng suất lao động
năm 2005 là 21,4 triệu đồng/người, năm 2010 là 44,0 triệu đồng/người, năm
2012 là 63,1 triệu đồng/người, sơ bộ năm 2013 là 68,7 triệu đồng/người.
Điều kiện này rất phù hợp cho nền sản xuất nông nghiệp của nước ta
khi mà ngành này đòi hỏi số lượng lớn lao động với các trình độ từ thấp tới
cao nhằm đáp ứng kịp thời các hoạt động sản xuất.
24


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status