MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
2.
3.
4.
5.
6.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
MỤC TIÊU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
PHẦN NỘI DUNG
Chương I. Khái quát chung một số vấn đề về người khuyết tật và pháp luật
người khuyết tật ở Việt Nam
1.
Khái niệm về người khuyết tật
1.
Định nghĩa về người khuyết tật
2.
Đặc điểm người khuyết tật
Chương II: Thực tiễn giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong thực tế
và 1 số vấn đề pháp lí trong việc đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết
tật.
1.
2.
Một số vấn đề pháp lý về giải quyết và đảm bảo cơ hội việc làm trong
pháp luật về người khuyết tật.
1.1.
Những ưu điểm của pháp luật quy định về việc làm cho người
khuyết tật.
1.2.
Những bất cập tồn tại trong pháp luật về đảm bảo cơ hội việc làm
người khuyết tật:
1.2.1.
Về vấn đề dạy nghề
1.2.2.
Về vấn đề sử dụng lao động:
1.2.3.
Về các chính sách hỗ trợ:
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
Việt Nam là một trong những nước có nguồn nhân lực dồi dào. Chính vì thế
việc đảm bảo việc làm cho người lao động luôn là một trong những ưu tiên hàng
đầu của chính phủ. Đảng và nhà nước đã đã đề ra rất nhiêù chính sách pháp luật
về việc làm được thực thi với mục tiêu tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội để mọi
người lao động có việc làm, có thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và
gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó các chính sách việc làm và
giải quyết việc làm của Đảng và nhà nước còn đặc biệt quan tâm tới những người
lao động yếu thế trong xã hội, cụ thể là đối tượng người khuyết tật (NKT) nhằm
giúp đỡ và tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động, ổn định cuộc
sống, vượt các rào cản và hòa nhập với cuộc sống.
Các chính sách về việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật là
tiền đề giúp hình thành nên nhiều văn bản pháp luật và hệ thống các luật chuyên
ngành như: Bộ luật Lao động; Luật người khuyết tật; Luật bảo vệ và chăm sóc,
giáo dục trẻ em; ......Các văn bản pháp luật này được ban hành nhằm tạo hành lang
pháp lý đảm bảo những quyền cơ bản của con người, tham gia vào đời sống và sự
phát triển của xã hội. Người khuyết tật đã được nhà nước và xã hội trợ giúp chăm
sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng những
đặc quyền khác theo quy định của pháp luật.
Sau nhiều năm thực hiện các chính sách pháp luật về người khuyết tật đặc
biệt là chính sách việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, nhà nước đã tạo ra hành lang
pháp lý giúp đỡ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, cải thiện đời sống; đồng
thời giúp các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm trong và ngoài nước hỗ trợ giúp đỡ
người khuyết tật.
Tuy nhiên , bên cạnh những cố gắng, kết quả đạt được từ những chính sách
pháp lệnh về người khuyết tật, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm vẫn còn nhiều hạn
chế bất cập. Theo thống kê của Bộ lao động thương binh và xã hội, hiện vẫn còn
hơn 50% người khuyết tật ở Việt Nam chưa có việc làm, số có việc làm thì thu
nhập thấp, không ổn định. Vẫn còn nhiều vấn đề nan giải trong việc đào tạo việc
3.
Điểm mạnh và hạn chế của pháp luật hiện hành đối với người khuyết tật
4.
Việc đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam đã
thực hiện tốt hay chưa?
5.
Cần đưa ra các giải pháp gì để giải quyết?
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề pháp lí về người khuyết tật, các chính
sách việc làm đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và nhà nước đối với người khuyết
tật,....để bổ sung kiến thức cơ bản về người khuyết tật vào vốn hiểu biết của bản
thân; tìm ra những điều còn chưa rõ về pháp lí trong việc đảm bảo quyền lợi việc
làm cho người khuyết tật và liên hệ với thực tế về việc đảm bảo quyền lợi việc
làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay để đưa ra các giải pháp giải quyết
hợp lí mang tính khả thi cao góp phần đảm bảo thực hiện quyền lợi việc làm của
người khuyết tật cũng như các quyền lợi cơ bản khác, tạo điều kiện và cơ hội cho
người khuyết tật hòa nhập cộng đồng.
2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
PP nghiên cứu tài liệu : nghiên cứu trên sách, báo, tài liệu liên quan
-
PP thu thập thông tin.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Nghiên cứu những vấn đề pháp lý về Luật việc làm cho người khuyết tật ở Việt
Nam. Hệ thống hóa kiến thức khái niệm về người khuyết tật, phân tích vai trò thực
hiện các chính sách chế độ việc làm cho người khuyết tật.
-
Phân tích đánh giá thực trạng và hoạt động việc thi hành các chính sách đảm bảo
quyền lợi về việc làm trong lao động của người khuyết tật, những ưu điểm và hạn
chế cũng như nguyên nhân để khắc phục.
-
Đưa ra quan điểm và các giải pháp tổng thể đảm bảo cho việc hoạt động đảm bảo
quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam.
5.
Kết quả thu được
xét dưới góc độ quyền con người, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có
quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và có phẩm giá đã được ghi nhận trong
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948. Tuy nhiên, quá trình
chuyển nhận thức về người khuyết tật như một vấn đề phúc lợi xã hội sang nhận
thức coi vấn đề khuyết tật là một vấn đề bình thường trong xã hội và coi trọng khả
năng, năng lực của người khuyết tật đã diễn ra trong khoảng thời gian tương đối
dài và không phải đã hết sự khác biệt.
-
Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái
niệm người khuyết tật. Hiện có hai quan điểm chính: Quan điểm khuyết tật cá
nhân và quan điểm khuyết tật xã hội.
Quan điểm khuyết tật cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế
(y học): Cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú
trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường
vật thể xung quanh người khuyết tật. Quan niệm này cho rằng người khuyết tật có
thể hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải
thiện chức năng. Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem
trọng việc trị liệu xã hội. Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật là một
vấn đề và đưa ra giải pháp để làm người đó “bình thường”. Mô hình y tế đưa đến
việc cung cấp giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lý trị liệu…
Nó cũng có thể dẫn đến việc chọn lọc khả năng sinh tồn, ngăn trẻ sơ sinh khuyết
tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ bình thường sinh ra
nó. Lý giải rõ thêm cho quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới,
có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và
tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của
cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm
xã hội và chính sách cơ bản làm thay đổi tình trạng và hoàn cảnh mà người khuyết
tật bị hạn chế hay ngăn cản tham gia đầy đủ như một công dân bình đẳng. Mô
hình xã hội về khuyết tật cho rằng nhiều người bị khiếm khuyết ở các cách khác
nhau nhưng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật. Con người bị khiếm khuyết
nhưng xã hội bị khuyết tật. Nói cách khác, mô hình xã hội khuyết tật coi xã hội là
vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội. Chính xã hội và chính sách cần phải cải
tổ chứ không phải người khuyết tật. Hiểu khiếm khuyết hay khuyết tật là riêng
biệt và khác nhau trong mô hình xã hội, trong đó khuyết tật là hạn chế và rào cản.
Tuy nhiên, mô hình xã hội không phủ nhận tầm quan trọng cũng như sự khác nhau
của khiếm khuyết. Đặc biệt trước đây sự khác biệt về khuyết tật chỉ được nhìn
nhận theo cách tiêu cực, điều này dẫn đến việc người khuyết tật bị phân biệt và
loại trừ khỏi đời sống xã hội. Mô hình xã hội giúp thừa nhận sự khác biệt theo
cách tích cực hoặc trung lập và khiến người khuyết tật được hưởng quyền công
dân và quyền con người. Vì mô hình xã hội phân biệt những rào cản khuyết tật và
khiếm khuyết nên nó tạo điều kiện cho người khuyết tật chỉ tập trung vào khả
năng và những điều cần làm là loại bỏ các yếu tố rào cản trợ giúp cho các khiếm
khuyết và được đối xử như những người khác. Mô hình xã hội giúp người khuyết
tật hiểu điều gì cần thực hiện để tiếp cận với quyền công dân và quyền con người.
Điều có ý nghĩa ở đây là chính người khuyết tật cũng phải nhận thức được đầy đủ
các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân trong mọi lĩnh vực đời sống,
kinh tế, chính trị, xã hội mà mình tham gia.
Nhiều nghiên cứu đã cố gắng chỉ ra những điểm khác biệt và tương đồng,
mối quan hệ giữa quan điểm y tế và quan điểm xã hội từ đó xác định vị trí và vai
trò của từng mô hình nói trên. Trước hết, sự khác biệt chủ yếu dựa vào khởi nguồn
của vấn đề gây nên khuyết tật đã được xác định: trong mô hình y tế là ở cá nhân,
trong mô hình xã hội là ở xã hội. Khuyết tật được nhìn nhận như là khó khăn và
khiếm khuyết của cá nhân trong mô hình y tế là sản phẩm của tổ chức xã hội trong
mô hình xã hội. Sự khác biệt thứ hai của hai mô hình là bản chất của khuyết tật:
định: Quan điểm khuyết tật cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh
vực cụ thể như y tế phục hồi chức năng và bảo đảm xã hội. Quan điểm khuyết tật
theo mô hình xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ
của người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống chung. Vấn đề về những bất lợi
và vấn đề phân biệt đối xử. Mô hình xã hội ghi nhận rằng câu trả lời cho câu hỏi
liệu một ai đó có bị xếp vào danh sách người khuyết tật hay không có liên quan
chặt chẽ đến các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường.
Qua hai quan điểm trên có thể thấy chưa có khái niệm nào về người khuyết
tật được thống nhất. Tuy nhiên dựa trên các yếu tố mà hai quan điểm trên đưa ra
về người khuyết tật ta có thể nhìn nhận định nghĩa chung về người khuyết tật
thông qua các đặc điểm cơ bản: khiếm khuyết, suy giảm một phần hoặc nhiều
phần về thể chất, cảm giác hoặc trí tuệ; gặp rào cản và bị hạn chế trong việc tham
gia vào môi trường xã hội;.....
Khái niệm người khuyết tật, cơ sở pháp lý để công nhận ai là người khuyết
tật và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào
mục tiêu mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi. Do vậy, không có một khái
niệm chung về người khuyết tật áp dụng chung cho các nước.
•
-
o
o
Tương ứng với các quan điểm đã nói đến ở trên, có những định nghĩa khác nhau
về người khuyết tật theo quy định pháp luật của các nước.
Như đã trình bày, định nghĩa theo quan điểm y tế thường tập trung vào sự khiếm
khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm thần… Có một
số định nghĩa theo quan niệm này như sau:
Trung Quốc: Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người
cơ thể, tâm lý và hành vi.
* Khuyết tật có nghĩa là sự khiếm khuyết về vận động hay trí não mà có ảnh
hưởng đáng kể một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá nhân
hay các hoạt động của cá nhân, hoặc được coi là có khiếm khuyết.
-
o
o
o
Định nghĩa người khuyết tật theo quan điểm xã hội là sự kết hợp giữa sự khiếm
khuyết và các yếu tố môi trường và tiếp cận dưới góc độ quyền của người khuyết
tật. Sau đây là một số định nghĩa người khuyết tật theo quan điểm này:
Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người
khuyết tật (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ
một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó
và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể
chất và tâm thần được thừa nhận”
Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1
quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần
kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng
loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người
khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.
Ở Đức, sách số chín của Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có
các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với
hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ước về
quyền của người khuyết tật.
Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy để đưa
ra một khái niệm thuyết phục và thống nhất về người khuyết tật là không dễ dàng.
Việc nghiên cứu để đưa ra một định nghĩa quốc tế về người khuyết tật là một
thách thức do những mô hình của khuyết tật chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa,
điều kiện kinh tế – xã hội và các tiêu chí xác định khuyết tật. Tuy nhiên, cũng cần
khẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ
nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào
cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động
kinh tế, chính trị, xã hội. Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách
nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư
cách là các quyền của con người. Với cách tiếp cận đó, có thể khái niệm người
khuyết tật như sau:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài
trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình
đẳng với những chủ thể khác.”
1.2.
Đặc điểm người khuyết tật.
Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc
điểm chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác
trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên
nhóm người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm người
không khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tương
đối so với nhóm người khuyết tật dạng khác. Về phương diện pháp lý, làm rõ các
Mặt khác, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, người khuyết tật phải gánh
chịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống. Khuyết tật là nguyên nhân chính
gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các công việc
sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn,
sinh con và tham gia các hoạt động xã hội. Để khắc phục những khó khăn này,
người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp đỡ chính đối với họ.
Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng
đối với người khuyết tật.
Quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu cực, dẫn đến sự kì thị và
phân biệt đối xử. Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác
nhau (gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổ chức ở
địa phương). Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi người khuyết tật là “đáng
thương”, không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của xã hội… Về
nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết đến quy định của pháp luật về
người khuyết tật. Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử và nó diễn ra ở nhiều
nơi, nhiều lĩnh vực: gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia
hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính người khuyết tật (hầu hết người
khuyết tật cho rằng mình kém cỏi hơn, mặc cảm, thấy khó hòa nhập cộng đồng).
Hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có
sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họ nhận
được. Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát
triển con người. Hầu hết người khuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo
hiểm xã hội, lương thực… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và
tham gia hoạt động xã hội.
1.2.2.
Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật
và mức độ khuyết tật.
cảm thông lại vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của người nghe.
Khiếm thính: Theo quan điểm y tế (lâm sàng) thì người khiếm thính là những
người bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển
ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp. Đặc điểm của những người khó khăn
về nghe (khiếm thính) là những người bị phá hủy cơ quan thính giác ở các mức độ
khác nhau dẫn đến việc người khiếm thính không có khả năng tri giác thế giới âm
thanh đặc biệt ngôn ngữ âm thanh. Hỗ trợ cần thiết với họ là phát hiện, chẩn đoán,
chữa trị sớm; cung cấp phương tiện trợ giúp (máy trợ thính); giao tiếp tổng hợp.
-
-
Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những người có tật về mắt như:
hỏng mắt, không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắt hoặc nhìn thấy
không rõ ràng. Tổ chức y tế thế giới (1992) còn đưa ra các khái niệm để phân biệt
mức độ khuyết tật nhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn kém, mù (hoàn toàn). Người
khuyết tật nhìn có trí tuệ phát triển bình thường, có hai cơ quan phân tích thường
rất phát triển: thính giác và xúc giác, nếu được huấn luyện sớm và khoa học hoàn
toàn có thể thay thế cơ quan thị giác bị phá hủy. Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách
ứng xử của những người này cũng giống người bình thường. Tuy nhiên, cũng có
những tồn tại nhất định như ngôn ngữ thiếu hình ảnh, không thể viết và đọc bằng
chữ phẳng. Ít di chuyển nên thể lực giảm sút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ty
và thiếu niềm tin ở bản thân. Môi trường cần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm
bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt
động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hình ảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông
minh, lối đi thuận tiện và dễ nhận biết…
Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu nhiều sự
thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống. Khuyết tật về trí tuệ được xác định khi:
Ngoài các nhóm trên còn có những nhóm người khuyết tật như: người bị rối
loạn hành vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rối loạn ngôn ngữ,
người đa tật…
2. Khái quát chung về pháp luật người khuyết tật:
2.1.
Khái niệm pháp luật người khuyết tật.
Người khuyết tật là một bộ phận của xã hội, dù chỉ là một nhóm nhỏ nhưng
cũng là thành phần cấu thành của cộng đồng xã hội. Quốc gia nào cũng có người
khuyết tật, và hơn 2/3 trong đó tập trung ở các nước đang phát triển. Nhiều ý kiến
cho rằng sự thiệt thòi, tình trạng bất lợi thậm chí có những trường hợp được cho là
bất công của người khuyết tật trong nhiều lĩnh vực của đời sống là hậu quả không
thể tránh khỏi từ sự sút kém về tinh thần và thể chất của người khuyết tật. Trong
đó việc từ chối các cơ hội việc làm công bằng cho người khuyết tật chính là một
trong những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự nghèo đói và tình trạng bị phân biệt
đối xử cho nhiều trong số những người khuyết tật. Có nhiều bằng chứng cho thấy
người khuyết tật dễ vấp phải những bất lợi, bị đứng ngoài lề và bị phân biệt đối xử
trên thị trường lao động và cả ở những nơi khác hay trong các lĩnh vực khác nhau.
Biểu hiện của hậu quả là tỉ lệ người khuyết tật không có việc làm cao hơn tỉ lê
những người khác. Kể cả khi họ có việc làm thì đó cũng là những công việc không
chính thức trong thị trường lao động với đồng lương rẻ mạt, vị trí tri thức kĩ năng
thấp, không đòi hỏi tay nghề, có ít hoặc không có cơ hội thăng tiến trong nghề
nghiệp.
Mỗi quốc gia đều có luật pháp phù hợp với hoàn cảnh riêng của đất nước
nhằm tăng cường các cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật trên thị trường lao
động, trong các lĩnh vực đời sống của xã hội cũng như có các biện pháp chính
sách để thực thi pháp luật cho người khuyết tật. Hệ thống pháp luật Việt Nam
cũng đã có những quy định tương thích có hiệu lực cao để đảm bảo thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật dưới góc độ quyền con người dựa trên
2.2.
Các nguyên tắc cơ bản xây dựng nên pháp luật người khuyết
tật.
Nước ta là thành viên của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) và đã tham gia
ký Công ước Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật, pháp luật Việt Nam
cần phải và đã bước đầu nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Công
ước.Xong khác với một số nước, Luật Người khuyết tật của Việt Nam không có
điều luật cụ thể quy định về các nguyên tắc. Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp
luật đã được ban hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số
nguyên tắc cơ bản của pháp luật người khuyết tật như sau:
2.2.1.
Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền lợi của
Người khuyết tật:
Ngày nay, với sự nỗ lực của người khuyết tật, tổ chức xã hội của họ và cộng
đồng quốc tế – trên cơ sở các quyền con người, Đại hội đồng Liên hiệp quốc tại
kỳ họp 61 ngày 06/12/2006 đã thông qua Công ước về quyền của người khuyết
tật, tại khoản 1 Điều 4 quy định: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ bảo đảm và
thúc đẩy sự công nhận đầy đủ tất cả các quyền con người và tự do của tất cả
người khuyết tật mà không có bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào do bị khuyết
tật”. Hiện nay, khái niệm quyền của người khuyết tật được chia sẻ ở cấp độ toàn
cầu và nhờ đó nó dần là một phương tiện mà người khuyết tật có thể sử dụng như
một công cụ để biến đổi nhận thức xã hội.Quyền của người khuyết tật dần mang
tính phổ quát có nghĩa là chúng được thừa nhận và áp dụng ở khắp nơi. Ở phạm vi
quốc gia, quyền của người khuyết tật trong phạm vi, mức độ khác nhau được văn
(1948) thì: " Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do, bình đẳng về nhân phẩm và
quyền ...". Tuyên bố của Tổ chức Lao động Quốc tế tại Philadelphia (1944) đã
khẳng định mọi con người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, giới
tính, đều có quyền được mưu cầu sự đầy đủ về vật chất và phát triển về tinh thần
trong điều kiện tự do, bảo đảm nhân phẩm, bảo đảm kinh tế và bình đẳng (trên
danh nghĩa, về cơ hội, về kết quả). Điều này có nghĩa là tất cả mọi người, kể cả
nam và nữ, cần được đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng để tham gia các
hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động. Vì vậy, người khuyết tật có quyền
được đối xử công bằng và không bị phân biệt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2006 cũng đã ghi nhận nguyên
tắc này. Pháp luật các nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau cũng đã quy
định vấn đề này trong các văn bản luật.
Nguyên tắc bình đẳng ở đây được hiểu là sự ngang nhau trong việc tiếp cận
các cơ hội về học tập, việc làm; chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ công… của người
khuyết tật trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Tuy nhiên, nguyên tắc bình đẳng không
có nghĩa là bằng nhau hoặc/và như nhau. Người khuyết tật gặp phải những dạng
tật khác nhau và mức độ khuyết tật không giống nhau cần phải được sự đảm bảo
khác nhau (ví dụ: Một người bị khuyết tật đặc biệt nặng cần phải có sự bảo trợ
hoàn toàn của xã hội, trong khi một người bị khuyết tật nhẹ thì không cần phải
như vậy). Tương tự, việc ngăn cấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho
mọi hình thức phân biệt là trái pháp luật (ví dụ: Trong quan hệ lao động, người sử
dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động phải có những kỹ năng và trình
độ cần thiết mà công việc hoặc môi trường công việc đòi hỏi và những yêu cầu
này là chính đáng. Do đó, dẫn đến khả năng loại trừ một số người khuyết tật khỏi
danh sách người tham gia làm việc, nhưng những trường hợp như vậy không được
coi là phân biệt đối xử – Chẳng hạn: Một công ty vệ sĩ tuyển nhân viên và đưa ra
những tiêu chuẩn về hình thức, sức khỏe, chiều cao, phản xạ…dẫn đến người
khuyết tật (khiếm thính, khiếm thị…) không được vào làm việc. Những yêu cầu
định nghĩa chính thức về việc làm. Khái niệm việc làm trong BLLĐ đã không chỉ
phản ánh được nội dung kinh tế-xã hội của việc làm mà còn phản ánh tính chất
pháp lý của việc làm. Cụ thể điều 13 BLLĐ việc làm được hiểu là mọi hoạt động
lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Hoạt động lao động nói
chung được hiểu là sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản
phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, những hoạt động được coi là việc làm ở đây phải là
những họat động có tính thường xuyên liên tục và mang tính nghề nghiệp. Vì vậy,
người được coi là có việc làm phải là người thực hiện các hoạt động lao động
trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định. Đồng thời các
hoạt động lao động này phải tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải là hợp pháp.
Việc làm cũng được đặt ra đối với người khuyết tật. Việc làm không chỉ
giúp người khuyết tật có thu nhập ổn định cuộc sống mà giúp họ hòa nhập vào
công đồng, cảm thấy mình là người có ích cho xã hội và đặc biệt là để họ thấy
rằng mình cũng được bình đẳng như những người bình thường khác. Người
khuyết tật cũng có thể tự mình tự tạo việc làm hoặc tham gia quan hệ lao động để
có việc làm. Việc làm đối với người khuyết tật cũng tương tự như những người
lao động khác. Vì vậy, việc làm đối với người khuyết tật cũng được hiểu là các
hoạt động lao động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật
cấm.
Tuy nhiên, đề cập đến vấn đề việc làm cho người khuyết tật là đề cập dưới
góc độ cơ hội việc làm cho họ. Việc làm ở đây bao gồm cả việc tiếp nhận đào tạo
nghề, được tiếp nhận việc làm và các loại nghề nghiệp và cả các điều kiện sử dụng
lao động cũng như đảm bảo việc làm, tức là đề cập đến cả một quá trình làm việc
của người khuyết tật. Đây cũng chính là quan niệm về việc làm theo quan niệm
của ILO trong công ước số 111- công ước về phân biệt đối xử trong việc làm nghề
nghiệp. Theo đó, người khuyết tật cũng được đối xử bình đẳng về cơ hội việc làm
như những người lao động khác mà không bị phân biệt đối xử.
Việc làm giúp người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng và tự tin hơn trong cuộc
sống.
Việc làm không chỉ giúp người khuyết tật có thu nhập ổn định đời sống mà
quan trọng hơn là nó giúp người khuyết tật có thể hòa nhập vào cộng đồng và tự
tin hơn trong cuộc sống. Nhiều người mặc dù bị khuyết tật nhưng vẫn ý thức được
vai trò và vị trí của họ trong xã hội, tự mình vươn lên trong cuộc sống học tập và
lao động như những người bình thường nhưng cũng có một bộ phận người khuyết
tật luôn luôn trong trạng thái tự ty, mặc cảm với số phận kém may mắn và phó
mặc số phận cho trời quyết định và chỉ biết sống dựa vào gia đình và sự trợ giúp
của Nhà nước. Chính vì vậy mà họ ngại hòa nhập vào cộng đồng. Đây chính là
những rào cản khiến họ trở nên không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại,
ngại giao tiếp. Việc làm sẽ là điều kiện và cơ hội tốt nhất để người khuyết tật trở
nên tự tin trong cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng. Môi trường lao động là môi
trường có sự tham gia của nhiều người, hoạt động lao động bao giờ cũng là hoạt
động mang tính tập thể. Bởi vậy, khi người khuyết tật có việc làm, họ sẽ được tiếp
xúc với nhiều người và làm việc trong môi trường tập thể. Điều đó sẽ nhanh
chóng giúp họ tái hòa nhập vào cộng đồng. Mặt khác, việc làm tạo ra thu nhập cho
người khuyết tật nên họ sẽ cảm thấy tự tin hơn trong cuộc sống khi thấy mình
cũng làm việc và cũng có ích như những người khác . Đồng thời, nó cũng xây
dựng nên lòng tự tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội từ đó mang lại lòng tự
hào và nhân phẩm cho người khuyết tật. Theo ông Tim de Meyer, chuyên gia về
các tiêu chuẩn lao động quốc tế và luật Lao động, văn phòng tiểu khu vực của ILO
tại khu vực Đông Á, Băng cốc thì: “ việc làm là công cụ quan trọng nhất để có
thể tái hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã hội” .
-
Việc làm cho người khuyết tật góp phần phát huy nguồn nhân lực cho xã hội.