Tiểu luận môn triết học vận dụng ý nghĩa cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong giải thích hành vi gian lận và trốn thuế thu nhập doanh nghiệp - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

TRIẾT HỌC
Bài tiểu luận

VẬN DỤNG Ý NGHĨA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN
VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI THÍCH HÀNH VI GIAN LẬN
VÀ TRỐN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM

GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Nhóm thực hiện: Nhóm 1– Lớp Tối thứ 3 – K25

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2016
BÁO CÁO TÌNH HÌNH LÀM VIỆC NHÓM
 Danh sách thành viên nhóm 1:


1. Bùi Thị Năm: Nhóm trưởng
2. Võ Thị Bích Hà
3. Phạm Anh Thư
 Quá trình làm việc nhóm:

- Sau khi thành lập nhóm, nhóm tiến hành họp nhóm để định hướng chọn đề tài;
- Tiến hành tìm tài liệu và đưa đến quyết định chọn đề tài;
- Thảo luận nội dung đề tài và lập dàn bài;
- Phân công nội dung trình bày;
- Tổng hợp nội dung các phần, và tiến hành điều chỉnh thành bài hoàn chỉnh.
Tất cả các công việc trên được thực hiện tại lớp, sau giờ học và kết hợp với tương tác
trên 1 Group được lập trên Facebook.

mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện
tượng thuộc một lĩnh vực nhất định, hay đơn giản hơn phạm trù chính là kết quả của

14


những quá trình phản ánh những mối liên hệ được lặp đi lặp lại của đời sống, trong đó
không thể không nhắc đến cặp phạm trù nguyên nhân kết quả, với tầng suất xuất hiện
trong hiện thực có thể nói là nhiều nhất và phổ biến nhất, nó là một trong những mối
liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào bộ óc con người.
Một Nhà nước muốn có nền tài chính quốc gia lành mạnh thì phải dựa chủ yếu
vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay
mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác.... Song thực tế các hình
thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó
thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và
khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Có thể nói vai trò của thuế
- đặc biết là thuế thu nhập doanh nghiệp - rất quan trọng, bởi vì nó chính là nguồn thu
của ngân sách nhà nước, là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Thuế thu nhập doanh nghiệp quan trọng là vậy nhưng hiện nay với một hệ thống
pháp luật về thuế ngoằn ngoèo, hướng dẫn thực thi phức tạp, chịu sự quản lý của nhiều
ban ngành khác nhau thì việc có những lỗ hổng để những hành vi gian lận và trốn thuế
xảy ra là không thể tránh khỏi.
Nhóm thực hiện đề tài nhận thấy rằng càng ngày số lượng các vụ vi phạm thuế
thu nhập doanh nghiệp càng cao, mức độ tinh vi càng tăng, gây thất thoát hàng tỷ đồng
ngân sách nhà nước. Do đó nhóm đã quyết định thực hiện đề tài “VẬN DỤNG Ý
NGHĨA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI
THÍCH HÀNH VI GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM” nhằm đi tìm những lời giải thích cụ thể cho hành vi không tuân thủ
pháp luật này.

chủ nghĩa Mác-Lênin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng hai phạm trù là:
- Nguyên nhân: chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
- Kết quả: chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra, qua đó phản ánh mối
quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
2. Tính chất của mối liên hệ nhân quả
Phép biện chứng duy vật của triết học Marx-Lenin khẳng định mối liên hệ nhân
quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu, cụ thể:
- Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không
phụ thuộc vào ý thức của con người, dù con người biết hay không biết, thì các sự vật
vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định. Con người
chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên
hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực
từ trong đầu mình.
- Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có
nguyên nhân nhất định gây ra, không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có
điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi. Không nên đồng nhất
vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối
liên hệ đó trong hiện thực.
- Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống
nhau sẽ gây ra kết quả như nhau, tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn

14


tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính tất yếu của
mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: nguyên nhân tác động trong những
điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng

Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự
vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân, nhưng không
phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. Do đó cần phải tìm ra
nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy từ trong thế giới
hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ
không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực.
“Hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính nhân quả” – Ph.Ăng-ghen
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện
tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện
tượng đó xuất hiện.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, những nguyên nhân này có vai
trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chủ thể
cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu,
nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân
khách quan...đồng thời, phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ
đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt
động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.
II. Thực trạng gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
1. Một số khái niệm liên quan
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt động
sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế là tất cả các tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp.
- Hành vi gian lận thuế: là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý làm sai lệch các
thông tin kế toán – tài chính làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được
hoàn, miễn, giảm.
- Hành vi trốn thuế: là hành vi của các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định
của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được
hoàn, miễn, trả.

14

triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.151.834 triệu đồng.

14


- Về kiểm tra, ngành thuế đã kiểm tra 59.296 doanh nghiệp; tổng số truy thu,
phạt và truy hoàn 4.728.108 triệu đồng, giảm khấu trừ 519.617 triệu đồng, giảm lỗ
8.952.686 triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.526.968 triệu đồng.
- Ngành thuế cũng đã thực hiện kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
với 1.227.180 hồ sơ; xử lý điều chỉnh thu vào ngân sách 303.467 triệu đồng, số giảm
khấu trừ 55.961 triệu đồng, giảm lỗ 274.627 triệu đồng.
- Về kiểm tra nội bộ, toàn hệ thống thuế đã thực hiện 2.058 cuộc, phát hiện số
tiền thuế sai phạm là 127.184 triệu.
- Kiểm tra 69.541 doanh nghiệp, cơ quan thuế cũng truy thu, truy hoàn, phạt
5.775,91 tỷ đồng, giảm khấu trừ 575,3 tỷ đồng, giảm lỗ 10.418,64 tỷ đồng, đặc biệt
qua kiểm tra 1.332.799 hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế, ngành Thuế đã điều
chỉnh thuế hơn 900 tỷ đồng, kiểm tra rà soát các hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế đã
phát hiện những sai sót, ẩn của người nộp thuế, qua đó điều chỉnh tăng số thuế kê khai
hoặc ấn định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước.
- Thực hiện chuyên đề đấu tranh chống chuyển giá, toàn ngành đã tiến hành
thanh tra, kiểm tra 4.751 doanh nghiệp lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và doanh nghiệp có
hoạt động giao dịch liên kết. Theo đó đã giảm lỗ 10.050 tỷ đồng; truy thu, truy hoàn và
phạt 1.062,74 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 302 tỷ đồng; số thuế đã nộp ngân sách nhà
nước 887 tỷ đồng.
Hiện, công tác hiện đại hóa phương thức kê khai và nộp thuế đang được Bộ Tài
chính triển khai mạnh mẽ, từ chỗ quản lý thủ công, đến nay 98% doanh nghiệp đã kê
khai thuế điện tử, 55% đã nộp thuế điện tử. Đối với các hộ cá thể, Bộ Tài chính cũng
đang từng bước nghiên cứu để có thể phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp ủy
nhiệm thu, tiến tới người dân có thể nộp thuế thông qua phương tiện điện tử như qua
điện thoại.

- Trình độ chuyên môn và thực thi chính sách thuế của một bộ phận cán bộ thuế
còn hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu của công tác quản lý thuế, đặc biệt trong
nền kinh tế phát triển nhanh, yêu cầu quản lý hiện đại và các cải cách hành chính trong
quản lý thuế.
- Thái độ và phong cách ứng xử của một số cán bộ thuế chưa thật sự chuyên

nghiệp, tận tụy; vẫn còn tồn tại những biểu hiện quan liêu, cửa quyền. Sự biến chất,
thoái hóa về đạo đức, phẩm chất của một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý thuế,

14


đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, coi lợi ích trước mắt hơn là lợi ích lâu dài.
Bộ phận cán bộ này thậm chí đã gợi ý, tiếp tay cho các doanh nghiệp thực hiện hành vi
trốn thuế.
1.2. Những nguyên nhân thuộc về đối tượng nộp thuế
- Trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp của các đối tượng nộp thuế còn nhiều hạn chế, chưa thực sự coi nộp thuế là
nghĩa vụ công dân. Họ cho rằng, nhà nước quy định nghĩa vụ nộp thuế là làm giảm sút
lợi ích vật chất mà lẽ ra họ phải được hưởng và tìm cách để gian lận, trốn thuế. Một số
doanh nghiệp cố ý lợi dụng các khe hở của pháp luật hiện hành, tìm mọi thủ đoạn,
dưới mọi hình thức để gian lận, trốn thuế hoặc cố tình chây ỳ trong việc nộp thuế. Đặc
biệt, tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn kê khai tài chính "lỗ giả lãi
thật", gian lận thuế dưới hình thức chuyển giá. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp còn
suy tính rằng tỷ lệ phạt nộp chậm thuế còn thấp hơn lãi suất vay vốn ngân hàng nên cố
tình nợ thuế. Theo qui định của Luật quản lý thuế hiện hành, nếu doanh nghiệp chậm
nộp tiền thuế thì chỉ bị phạt nộp chậm, không xử phạt vi phạm hành chính và mức phạt
nộp chậm rất thấp. Cụ thể, mức phạt là 0,05%/ngày nộp chậm nếu nợ thuế dưới 90
ngày, và 0,07%/ngày nếu nợ thuế trên 90 ngày. Thêm nữa, cơ quan thuế chỉ được phép
cưỡng chế theo luật định đối với các khoản nợ thuế trên 90 ngày, tuy nhiên, việc

kỹ thuật cao còn rất hạn chế. Điều này tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp lập hồ sơ thanh
toán giả mạo, không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ. Đối với các cá nhân
và doanh nghiệp sử dụng hành vi “trao tay” trực tiếp những khoản thu bằng tiền mặt
cũng đã giúp họ trốn được một khoản tiền thuế lớn phải nộp. Việc làm này được rất
nhiều doanh nghiệp áp dụng mà các cơ quan chức năng rất khó kiểm soát và ngăn
chặn.
- Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, phần lớn là các cơ sở kinh
doanh quy mô nhỏ lẻ, doanh nghiệp tư nhân, họ không quan tâm đến chế độ, quy định
kế toán mà hạch toán theo kiểu logic thô sơ. Bên cạnh đó, các đối tượng này còn cho
rằng sổ sách kế toán là công cụ để nhà nước quản lý, kiểm soát và thu thuế; mà chưa
nhận thức được đây chính là phương tiện cơ bản giúp họ trong quản lý và phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Một bộ phận công chúng rất lớn chưa có thói quen, ý thức sử dụng hóa đơn
thanh toán trong các giao dịch kinh tế. Đối với người tiêu dùng, việc không lấy hóa
đơn khi mua hàng đã vô ý tiếp tay cho các doanh nghiệp thực hiện hành vi gian lận.
Đây là sự yếu kém về mặt nhận thức của công chúng.

14


Trên đây là một số các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thực trạng
gian lận và trốn thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay tại Việt Nam. Các nguyên nhân
này có thể tác động riêng lẻ, hoặc cùng kết hợp tác động dẫn đến những hệ quả nghiêm
trọng lên nền kinh tế, chính trị, xã hội nước ta.
II. Hậu quả của gian lận và trốn thuế thu nhập doanh nghiệp
Từ những nguyên nhân được nhận định ở phần trước, ta xem xét sự tác động của
chúng sẽ gây nên những hậu quả như thế nào. Hậu quả của hành vi gian lận, trốn thuế
thu nhập doanh nghiệp đến các đối tượng cụ thể như sau
1. Hậu quả đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng
- Gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp gây thiệt hại rất lớn cho ngân sách

nghiệp chân chính, tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

14


KẾT LUẬN
Hành vi gian lận, trốn lậu thuế xuất hiện ngày càng nhiều, phức tạp và tinh vi
hơn, gây tổn thất lớn cho ngân sách Nhà nước. Do đó, cần thiết phải có những hành
động quyết liệt để phòng ngừa, xử lý, trừng phạt với các hành vi này để giữ được trật
tự, kỹ cương, cũng như xây dựng niềm tin của người dân vào Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, tạo hình ảnh tốt đẹp về các doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ nguyên nhân - kết quả, sẽ giúp nhận thức
đúng về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, xác định mức độ, vai
trò của những nguyên nhân đó đối với những hậu quả gây ra. Từ đó rút ra những
phương hướng, biện pháp nhằm từng bước cải thiện tình hình hiện tại.

14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa – TS. Trần Nguyên Ký – TS. Bùi Bá Linh – TS. Bùi Xuân
Thanh: Giáo trình triết học cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc
chuyên ngành triết học, 2014.
2. Tạp chí tài chính (2016). Ngành Thuế: Tập trung nguồn lực cho công tác
thanh, kiểm tra thuế. Tại website: http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/su-kien-taichinh/nganh-thue-tap-trung-nguon-luc-cho-cong-tac-thanh-kiem-tra-thue-78332.html.
Truy cập lần cuối 25/08/2016.
3. Nguyễn Ngọc Hùng, Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục thất
thu thuế ở Việt Nam, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, 2015.

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status