Phân tích ba tình huống trong thực tiễn để làm rõ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế
giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Với tư
cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng
khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xã
hội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù: cái chung
và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện
tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả.
Trong sự vận động của hiện thực, mối liên hệ nguyên nhân và kết quả,
hay gọi tắt là mối liên hệ nhân - quả là mối liên hệ được lặp đi lặp lại nhiều
nhất, phổ biến nhất. Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là một trong
những mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của con
người. Mối liên hệ nhân - quả là mối liên hệ vốn có của thế giới vật chất, nó
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Bất kỳ một sự vận
động nào ở trong thế giới vật chất suy cho cùng đều là những mối liên hệ
nhân - quả, xét ở những phạm vi khác nhau, những thời điểm khác nhau và
những hình thức khác nhau.
Vì vậy, nghiên cứu cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả sẽ giúp ta
thấy được mối liên hệ nhân quả phức tạp, đa dạng trong đời sống và từ việc
ứng dụng quan hệ nhân - quả, chúng ta sẽ có được phương pháp giải quyết
đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
Với mục đích làm rõ và có cái nhìn khách quan hơn về cặp phạm trù
nguyên nhân kết quả, nhóm chúng em đã chọn “ Phân tích ba tình huống
trong thực tiễn để làm rõ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp
phạm trù nguyên nhân và kết quả” làm đề tài cho bài tập nhóm tháng của
mình. Trong quá trình làm bài, khai thác ví dụ minh họa, chúng em không thể
tránh khỏi những sai sót, hạn chế. Do đó chúng em rất mong được thầy cô góp
ý sửa chữa để rút kinh nghiệm và làm bài tốt hơn ở các bài tập sau.

1


trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián
tiếp, ...
Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu
tiên và kết quả cuối cùng. Ph.Ăngghen viết: “ Chúng ta cũng thấy rằng
nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và
kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một
khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của
nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn
xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách
phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau;
cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác lại
là kết quả và ngược lại.”
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên
trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân - quả. Trong
thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình
biến đổi không có nguyên nhân và ngược lai, không có nguyên nhân nào
không dẫn tới những kết quả nhất định.
Vì mối liên hệ nhân - quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt
chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù
hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết
quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn phải có
cách nhìn mang tính toàn diện và lịch sử - cụ thể trong phân tích, giải quyết
và vận dụng quan hệ nhân - quả.

3


CHƯƠNG II: BA TÌNH HUỐNG TRONG THỰC TẾ LÀM RÕ

4


tu bảo dưỡng kém, hoặc đã bị sử dụng vào mục đích khác; không có nguồn
nước để dập lửa; nhiều địa phương lơ là chủ quan với yêu cầu thường trực
phòng chống cháy rừng, có nơi khi xảy cháy rừng rất lâu mới tập trung được
lực lượng cứu hộ… Công tác “bốn tại chỗ” bị xem nhẹ, luôn ở trong tình
trạng “nước đến chân mới nhảy” không kịp đối phó hiệu quả với tình huống
xảy ra. Mặt khác, nguyên nhân cháy rừng chính là do ý thức của người dân sở
tại vì lợi ích cá nhân khi đi đốt nương làm rẫy hoặc vào rừng bắt tổ ong, châm
lửa rồi bỏ mặc lửa cháy, gây cháy rừng diện rộng. Đây là nguyên nhân cơ bản
gây các vụ cháy rừng, chiếm đến 60-70% tổng số các vụ cháy rừng ở nước ta.
2. Hậu quả
Tổng diện tích rừng bị cháy gần 700ha, trong đó rừng phục hồi tái sinh
và rừng nghèo là 664ha. Riêng tiểu khu 291 bị cháy 283ha rừng. Tại điểm
cháy thuộc khu vực Núi Xẻ, thôn Sín Chải, xã San Sả Hồ, giáp tỉnh Lai Châu,
rừng bị cháy 41,8 ha, khả năng phục hồi sau cháy chỉ còn 30%.
Vụ cháy rừng Hoàng Liên gây thiệt hại về kinh tế, đa dạng sinh học tự
nhiên Vườn quốc gia Hoàng Liên và môi trường. Theo Chi cục Bảo vệ môi
trường Lào Cai, vụ cháy rừng trên diện rộng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến nguồn
sinh thủy, gây nguy cơ hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất cho một số
hộ gia đình đang sinh sống ở vùng ven, vùng đệm của vườn; gia tăng nguy cơ
xói mòn, sụt lở đất, lũ quét; đất đai nơi bị cháy sẽ chai cứng, giảm độ màu
mỡ, gây khó khăn cho canh tác nông - lâm nghiệp. Chủ tịch UBND huyện Sa
Pa Hầu A Lềnh cho biết, vụ cháy làm thiệt hại một số diện tích thảo quả nguồn thu chính của đồng bào dân tộc Mông, Dao... ở vùng cao. Mất nguồn
thu này, đời sống bà con sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là trong mùa
giáp hạt.
3. Biện pháp khắc phục
Trách nhiệm từng người, từng đơn vị được xem xét cụ thể sau mỗi vụ
việc, nhưng vấn đề là chúng ta cần chủ động trong công tác phòng ngừa,


1. Nguyên nhân:

6


Giải trình về thực trạng tai nạn giao thông, Thiếu tướng Đỗ Đình
Nghị (đại diện Bộ Công an) cho biết: “Về hành vi gây tai nạn giao thông
chủ yếu là do chạy quá tốc độ chiếm 15%, vi phạm lòng đường, làn đường
chiếm 26,6%, tránh vượt sai quy định 16,4%, chuyển hướng không đúng
quy định 9,2%, không nhìn đường khi tránh, vượt 5%, sử dụng rượu bia có
nồng độ cồn gây tai nạn chiếm 4,3%. Về đối tượng gây tai nạn do lái xe ô
tô chiếm 22,3%, lái xe mô tô chiếm 69,4; địa bàn xảy ra tai nạn ở quốc lộ
chiếm 31,2%, độ thị 34,6%...
Theo các kết quả khảo sát và nghiên cứu thực tế, có nhiều nguyên
dẫn đến các vụ tai nạn giao thông: do lái xe bất cẩn hay quá mệt mỏi khi lái
xe liên tục trong nhiều giờ, uống rượu, bia, nghe điện thoại, không làm chủ
tốc độ khi gặp chướng ngại vật. Một số nguyên nhân khác là chủ xe chở
khách và hàng hóa quá tải, sử dụng xe lái xe không đủ tiêu chuẩn; lái xe
không có giấy phép hoặc dùng giấy lái xe giả; phương tiện giao thông kém
chất lượng, không đủ điều kiện về kỹ thuật và phòng chống cháy nổ nhưng
vẫn lưu hành. Các vụ tai nạn giao thông đặc biệt do xe khách gây ra trong
thời gian gần đây đã thực sự là hồi chuông cảnh báo về ý thức của người
tham gia giao thông. Một trong những vụ tai nạn giao thông đặc biệt
nghiêm trọng là vụ việc chiếc xe khách mang biển kiểm soát 47V- 2371
húc phăng một đoạn lan can trên cầu rồi lao xuống sông Sêrêpốk, ở ranh
giới giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, làm 36 người thiệt mạng và hơn
20 người trọng thương.
Qua khảo sát nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn có tới 80% là
do lỗi của người tham gia giao thông. Trong đó không thể không nhắc tới

ra 23.619 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6.908 người, bị thương trên
25.000 người. So với cùng thời điểm năm 2011, giảm 9.360 vụ, giảm trên
1.500 người chết và giảm 10.630 người bị thương. Tuy nhiên, số vụ nghiêm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng xảy ra còn nhiều.
3. Giải pháp

8


Để có thể phòng ngừa, kiềm chế và tiến tới giảm dần tai nạn giao
thông đường bộ, thiết nghĩ các ngành chức năng cần phải nghiên cứu đầy
đủ hệ thống đường xá phân luồng, phân tuyến khắc phục hiệu quả các
nguyên nhân dẫn tới tai nạn giao thông nêu trên. Người dân cần nâng cao ý
thức và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia
giao thông. Bên cạnh đó cần phê phán thái độ hành động coi nhẹ vấn đề
đảm bảo an toàn giao thông.
3. Tình huống trong lĩnh vực tư duy:
Phạm trù nguyên nhân và kết quả tồn tại không chỉ trong tự nhiên, xã
hội mà còn trong tư duy, nhận thức, tình cảm của con người.
Tình trạng sống thử của giới trẻ ngày nay
Đặt vấn đề: Tình huống: Nữ sinh M., sau khi đậu đại học đã ra Hà
Nội bắt đầu cuộc sống sinh viên, sống một mình xa gia đình. Năm đầu, M.
gặp T., hai người yêu nhau. Đến năm thứ ba, do cuộc sống của M. gặp nhiều
khó khăn về kinh tế nên M chuyển về sống với T. Nhưng hai năm sau hai
người chia tay vì lí do cãi vã, không hợp nhau. Sau khi tốt nghiệp, M. đã kết
hôn với người cùng quê là H. Cưới nhau được một năm nhưng vẫn chưa có
con, M. quyết định đi khám và biết mình bị vô sinh do uống thuốc tránh thai
quá liều (thời sinh viên) và do nạo phá thai nhiều lần không đúng cách. Cuộc
sống của M. hoàn toàn sụp đổ.
Cùng làm rõ tình huống trên, trước tiên ta phải hiểu sống thử là

mực đạo đức của cộng đồng, không coi trọng giá trị của đời sống gia đình.
Bản thân M mà nói cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng đó. Một tư tưởng phóng
khoáng, dễ lay động


Nguyên nhân khách quan:

+ Xã hội: Do ảnh hưởng từ cách mạng tình dục thập niên 1970 tại
phương Tây tràn vào, cùng sự thiếu kiến thức xã hội và định hướng cho tương
lai, nên tình trạng quan hệ tình dục và “sống thử” trước hôn nhân ở giới trẻ
(trong đó có M) đang tăng cao. Nhiều bạn bè của M dễ dãi, cho rằng việc đó
là bình thường, họ suy nghĩ một cách đơn giản rằng chỉ là "thử" thì sẽ không
gây hậu quả gì. Mặt khác M sống thử chỉ vì a dua theo bạn bè, vì tò mò “sống
thử để biết vì thấy bạn bè mình có nhiều cặp cũng đang sống chung”. Cách
suy nghĩ mang tính trào lưu này khiến các bạn trẻ dễ thả mình theo sống thử,

10


không thấy hợp thì chia tay, không còn xem trọng việc hệ trọng cả đời là hôn
nhân và gia đình.
+ Nguyên nhân gia đình: Do cha mẹ sống không hạnh phúc, cãi vã
thường xuyên, (hoặc ngoại tình “ông ăn chả, bà ăn nem”) khiến cho M.
không muốn nghĩ đến hôn nhân. Mặt khác, cha mẹ không quan tâm đến đời
sống và tình cảm của M., không động viên con cái sống lành mạnh, chỉ phó
mặc cho nhà trường. đồng thời điều kiện hoàn cảnh M. cũng vô cùng khó
khăn không đủ chu cấp cho M. có cuộc sống đầy đủ như những người khác.
Tất cả nhưng điều kiện trên tác động, khiến M. bị ảnh hưởng tư duy mà
dường như không làm chủ được ý thức của mình.
Biện hộ cho hành vi đó, M. lấy cớ thiếu thốn về tình cảm, vật chất, và

nhân quả là cơ sở lí luận giúp ta rút ra được những ý nghĩa phương pháp luận
và những bài học kinh nghiệm trong đời sống thực tiễn. Những ví dụ mà
nhóm em đã lấy ở trên chỉ là một trong những vấn đề đang rất được quan tâm
hiện nay về cả ba mặt của thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy. Hy vọng rằng sự
phân tích trên sẽ mang lại những ý nghĩa, những kinh nghiệm mà từ đó có thể
giúp con người phát triển tốt hơn, phát huy những cái tốt và hạn chế những sai
lầm không đáng có.

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2012. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang
69-72.
2. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Triết học,
2009. Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, trang 96-105.
3. Minh Thư, 2012. Tai nạn giao thông do rượu, bia chiếm 4,3%, Tạp chí đồ
uống Việt Nam.
URL: />option=com_content&view=article&id=5245:tai-nan-giao-thong-do-ruoubia-chiem-43&catid=55:tin-trong-nganh&Itemid=209
4. Thanh Tuyền, 2012. 9 tháng đầu năm 2012, tai nạn giao thông giảm đáng
kể, Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp
URL: />atintucsukien/sitavanhoaxahoi/20120926+tai+nan+giao+thong+ca+nuoc+g
iam
5. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Sống thử.
URL: />6. Trung Chuyên, 2012. Nghiên cứu về “sống thử”, Thanh Niên online.
URL: />7. Vũ Văn Trình, 2011. Vấn đề “sống thử” của giới trẻ ngày nay, Tổng
Giáo phận TP HCM.
URL: />8. Duy Vũ, 2012. Cháy rừng do đâu?, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status