TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN
ĐỂ LÀM RÕ CÁC VẪN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : TS. BÙI VĂN MƯA
Nhóm thực hiện
: NHÓM 05
Lớp
: CAO HỌC K25 – TỐI THỨ 3
TP.HCM, THÁNG 08 -2016
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nhóm 05
Stt
1
2
LỜI MỞ ĐẦU
Mức
độ
hoàn
thành
100%
100%
100%
100%
Trên thế giới, kiểm toán nội bộ (KTNB) đã có lịch sử tồn tại và phát triển trên
60 năm và được thừa nhận ở trên 165 quốc gia như một nghề nghiệp mang tính chuyên
nghiệp. Cùng với sự phát triển năng động và ngày càng phức tạp của nền kinh tế, vai
trò và chức năng của KTNB trong việc đưa ra đảm bảo về việc đơn vị có thể kiểm
soát một cách hữu hiệu rủi ro đã dần được công nhận trong tất cả các khu vực kinh tế
công, kinh tế tư nhân, và cả các tổ chức phi lợi nhuận. Ở nước ta, thuật ngữ về KTNB
tuy đã được đề cập tới từ cuối những năm 90 nhưng phải đến thời gian gần đây, thì
KTNB mới được nhắc đến nhiều như là một công cụ hoặc một chức năng quản trị của
đơn vị. Bên cạnh đó kể từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa, thực hiện nền
kinh tế thị trường, đặc biệt là trở thành thành viên của WTO thì kiểm toán độc lập đã
trở nên quen thuộc đối với hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn
chỉ là một khái niệm mới ở Việt Nam mặc dù vẫn tồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ tại
các doanh nghiệp nhà nước lớn. Thực tế rất nhiều nhà quản lý chưa quen thuộc với
khái niệm kiểm toán nội bộ và chưa nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận này.
Rất nhiều bộ phận kiểm toán nội bộ ở các Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước đóng vai
hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người. Bêcơn cho rằng
tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức. Do đó cần có một khoa học mới lấy giới tự
nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến tự nhiên thành “giang sơn” của con người.
Tuy nhiên, trong nền triết học này, nguyên tắc khách quan không thể hiện được tầm
quan trọng của các nhân tố chủ quan của ý thức trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn của con người.
Khắc phục hạn chế trên của nguyên tắc khách quan trong tiết học tư sản cận
đại, đồng thời chỉ ra sai lầm của việc tuyệt đối hóa nhân tố chủ quan của các trào lưu
triết học duy tâm, chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời. Và dựa trên nội dung lý luận
của nguyên lý thế giới thống nhất ở tính vật chất và mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức để xây dựng các yêu cầu của nguyên tắc khách quan.
Thứ nhất, vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức: Vật chất tồn tại vĩnh
viễn, và ở một giai đoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra ý thức. Do ý
thức phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng chúng ta
không được xuất phát từ ý thức, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng mà phải
xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của chính nó; Không được “bắt” đối
tượng tuân theo ý thức, tư duy, mà phải “bắt” ý thức, tư duy tuân theo đối tượng;
Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “logic” nào đó, mà phải rút
ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong ý thức, tư duy các hình tượng, tư tưởng – cái
5
Nhóm 5-Tiểu luận triết học
logic phát triển của chính đối tượng đó. Theo Ph.Ăngghen: “… các nguyên lý không
phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng của nó; Những
nguyên lý ấy không phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và vào lịch sử loài người,
mà được trừu tượng hóa vào giới tự nhiên và vào lịch sử loài người; Không phải giới
tự nhiên và loài người phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái lại các nguyên lý chỉ
đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử”. Có thể nói, quá
lẫn tinh thần, chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng, và luôn chịu sự tác
động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn những lưc lượng tự giác của con
người. Cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã
hội, tức là phải kết hợp nó không chỉ với yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạo
của chủ thể mà còn kết hợp nó với nguyên tắc tính đảng. Điều này có nghĩa là nguyên
tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu phải xuất phát từ chính bản
thân đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt
chủ quan tùy tiện, mà nó còn đòi hỏi phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với
những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan của tồn tại
xã hội đó nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán và chủ quan.
1.1.2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong nhận thức và thực tiễn
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
•
Xuất phát từ hiện thực khách quan để tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được
đưa ra những nhận định, đánh giá tùy tiện chủ quan.
•
Biết phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể, dám đưa ra các giả thuyết khoa học
có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả thuyết đó
bằng thực nghiệm.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
•
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan: Căn bản là tôn trọng quy luật,
nhận thức và hành động theo quy luật. Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật
chất đối với đời sống tinh thần của con người, xã hội. Nhận thức và hành động của con
người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối chủ
bao gồm cả sở hữu của nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể.
1.2.2
Kiểm toán nội bộ
Theo “Các chuẩn mực nghề nghiệp” do IIA ban hành tháng 5/1978 thì: “KTNB
là một chức năng xác minh độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét,
đánh giá các hoạt động với tư cách là một sự hỗ trợ đối với tổ chức. Mục tiêu của
KTNB nhằm trợ giúp cho các thành viên của tổ chức thực hiện được trách nhiệm của
mình một cách hiệu quả. Cuối cùng, KTNB trang bị cho họ cách thức phân tích, đánh
giá, các đề xuất, các khuyến nghị và thông tin liên quan tới hoạt động xem xét lại. Mục
tiêu KTNB còn đưa ra khung kiểm soát hiệu quả ở mức chi phí hợp lý.
8
Nhóm 5-Tiểu luận triết học
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN ĐỂ LÀM RÕ CÁC
VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KTNB KHU VỰC CÔNG CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng KTNB ở các đơn vị khu vực công của Việt Nam hiện nay
Một trong những yêu cầu của nguyên tắc khách quann trong hoạt động nhận
thức đó là phải xuất phát từ hiện thực khách quan để tái hiện lại nó như nó vốn có mà
không được đưa ra những nhận định, đánh giá tùy tiện chủ quan. Tức là ngay bây giờ
chúng ta cần nhìn nhận vào thực trạng KTNB ở Việt Nam hiện nay đang có những gì
và thiếu những gì phản ánh một cách chân thật nhất để từ đó mới có thể đưa ra những
kế hoạch, chương trình, mục tiêu để hoàn thiện và phát triển hơn từ phía Nhà nước
cũng như bản thân các doanh nghiệp cụ thể là các nhà quản lý.
Thực trạng KTNB ở các đơn vị khu vực công cụ thể như sau:
Các văn bản pháp luật về KTNB do Nhà nước ban hành:
làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ phận này.
Chức năng tự kiểm tra tài chính, kế toán bị đồng nhất với chức năng KTNB.
Trách nhiệm giữa các cấp lãnh đạo với bộ phân tự kiểm tra tài chính, kế toán của đơn
vị chưa phân định rõ ràng. Công tác tự đánh giá đối với bộ phận kiểm tra tài chính, kế
toán chưa được thực hiện và bị coi nhẹ. Hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán của
các đơn vị trong thời gian qua mới chỉ dừng lại công tác hậu kiểm, những vấn đề phát
hiện thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn
ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
hiện có của đơn vị.
Bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, các đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN đang
phải đối mặt với những tồn tại như năng lực quản trị điều hành yếu kém, công nghệ
thông tin lạc hậu, nguồn vốn NSNN cấp ngày càng hạn hẹp,… Để khắc phục những
hạn chế này, đồng thời nâng cao năng lực quản trị điều hành và phát triển bền vững thì
một trong những yêu cầu cấp bách nhất hiện nay là các đơn vị có sử dụng kinh phí
NSNN cần phải xây dựng và nâng cao hiệu quả của bộ phận KTNB.
2.2 Thực trạng KTNB Việt Nam so với KTNB trên thế giới:
Về lịch sử hình thành và phát triển
Mỹ thành lập Viện Kiểm toán viên (KTV) nội bộ (IIA) năm 1941. Pháp thành
lập hội KTV nội bộ (IFACI) năm 1965. Trung Quốc ban hành “Một số quy chế về
KTNB” năm 1985. Các nước Đông Nam Á mặc dù KTNB ra đời muộn, nhưng phát
triển khá nhanh vào cuối những năm 80 như Singapore, Malaysia, Thái Lan. Trong khi
10
Nhóm 5-Tiểu luận triết học
đó, Hệ thống KTNB Việt Nam ra đời năm 1997 theo Quyết định số
832/TC/QĐ/CĐKT do Bộ Tài chính ban hành. Như vậy, Hệ thống KTNB nước ta ra
đời muộn và chậm phát triển so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Ở Việt Nam, thời gian đầu khi mới hình thành hệ thống KTNB thì chủ yếu thực
hiện kiểm toán BCTC và kiểm toán tuân thủ. Trong những năn gần đây theo xu hướng
chung của sự phát triển KTNB thế giới thì KTNB Việt Nam đã chuyển sang kiểm toán
hoạt động nhưng nội dung thực hiện lại tương đối đơn giản, chủ yếu là kiểm tra, đánh
giá tính hiệu lực của các bộ phận, hệ thống, các quy trình. Và phương thức tiến hành
kiểm toán hoạt động vẫn mang đậm đặc trưng của kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
BCTC.
Chất lượng Kiểm Toán Viên
Ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới, việc tuyển dụng KTV nội bộ đều quan tâm
tới 2 vấn đề là trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của họ. Tuy nhiên KTV
được tuyển dụng không nhất thiết phải có am hiểu tốt về tài chình – kế toán mà còn
tùy thuộc vào lĩnh vực kiểm toán cụ thể có thể là quản trị tài chính, kinh tế học, quản
trị kinh doanh, luật,…. Chính phủ không đưa ra bất kỳ một yêu cầu pháp lý nào đối
với KTV nội bộ, việc tuyển dụng KTV nội bộ phụ thuộc vào quyết định của HĐQT.
Ở nước ta, các KTV nội bộ chủ yếu được đào tạo từ ngành kế toán, tài chính và
KTV được tuyển dụng phải đáp ứng được đủ điều kiện mà quy định của Nhà nước đề
ra.
Tổ chức bộ máy KTNB
Mô hình KTNB ở các doanh nghiệp của Mỹ thường trực thuộc cấp lãnh đạo cao
nhất của đơn vị. Trong quan hệ với các bộ phận khác, bộ phận KTNB được tổ chức
thành một bộ phận độc lập hoặc được tổ chức theo mộ hình các giám định viên kế
toán. Như vậy, KTNB mới độc lập với các bộ phận chức năng và độc lập với bộ phận
hay hoạt động được kiểm toán.
Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp có bộ phận KTNB không trực thuộc phó
tổng giám đốc kiêm phụ trách phòng tài vụ. Mô hình tổ chức bộ máy KTNB này
không đảm bảo được tính độc lập và khách quan của KTNB. Vì vậy việc phản ánh
những sai phạm lên cấp trên sẽ khó mang tính độc lập, thiếu tính khách quan và hiệu
Tài chính đang dự thảo Nghị định về kiểm toán nội bộ nhằm đề xuất quy định về tổ
chức và hoạt động kiểm toán nội bộ trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp
công lập và các doanh nghiệp.
13
Nhóm 5-Tiểu luận triết học
Bên cạnh đó Bộ Tài Chính cùng các cơ quan chức năng cần phải xây dựng và
ban hành chuẩn mực kiểm toán nội bộ để các kiểm toán viên nội bộ có định hướng và
căn cứ pháp lý trong khi thực hiện công tác kiểm toán của mình, đồng thời các nhà
quản lý cũng dựa vào hệ thống chuẩn mực này để kiểm tra, đánh giá hiệu quả của bộ
phận KTNB và kiểm toán viên nội bộ.
Thứ hai, từ mô hình Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam VACPA cho
thấy sự cần thiết phải tổ chức, thiết lập hiệp hội nghề cho loại hình KTNB. Chức năng
chủ yếu của hiệp hội là hướng dẫn, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, kiểm tra giám sát
chất lượng KTNB. Với điều kiện thực tế hoạt động hiện nay của KTNB Việt Nam có
thể thiết lập một chi hội nằm trong tổ chức quản lý của VACPA. Với vị trí là một bộ
phận, chi hội KTNB có thể trực tiếp được quản lý, hướng dẫn, giám sát VACPA, đồng
thời chi hội cũng sẽ có những điều lệ hoạt động riêng phù hợp với đặc điểm của loại
hình KTNB.
Thứ ba, song song với những hoạt động về tổ chức thì nâng cao khả năng
chuyên môn và tính chuyên nghiệp cho các kiểm toán viên nội bộ là hết sức cần thiết.
Không thể phủ nhận những hoạt động của kiểm toán viên nội bộ tại các đơn vị khi nỗ
lực cố gắng đáp ứng yêu cầu công việc, tuy nhiên để đánh giá mức độ đáp ứng với nhu
cầu đòi hỏi thì việc thi và cấp chứng chỉ kiểm toán viên nội bộ là hết sức cần thiết.
Hiện nay, chứng chỉ kiểm toán viên nội bộ CIA đã được một số tổ chức nước ngoài
đào tạo, sát hạch và cấp tại Việt Nam, đây là một tín hiệu đáng mừng bởi đã có những
quan tâm đúng hướng để nâng cao chất lượng cho đội ngũ kiểm toán viên nội bộ.
phận độc lập trực thuộc lãnh đạo cao nhất là Hội đồng quản trị (HĐQT) (hoặc Ban
Giám đốc) doanh nghiệp để bảo đảm sự vững mạnh và tính độc lập cao. Tổ chức các
cuộc họp thường kỳ (hàng tháng hoặc quý) giữa HĐQT (hoặc Ban Giám đốc) và người
phụ trách bộ phận KTNB để trao đổi về kế hoạch kiểm toán và những công việc kiểm
toán đang thực hiện; Báo cáo về tiến hành và kết quả các cuộc kiểm toán, các ý kiến
nhận xét để cải thiện chất lượng công việc và các hoạt động của đơn vị. Đối với kiểm
toán viên nội bộ cần được đào tạo và chuẩn hoá dần theo các tiêu chuẩn về trình độ
chuyên môn, các phẩm chất cá nhân. Ngoài ra cần phải cải tiến và chuẩn hoá quy trình,
phương pháp kỹ thuật kiểm toán, nâng dần tính chuyên nghiệp của KTNB.
15
Nhóm 5-Tiểu luận triết học
KẾT LUẬN
Cuộc sống của một con người, sự nghiệp của một giai cấp, dân tộc có thể thành
công hay thất bại đều có những nguyên nhân khách quan bên cạnh những nguyên nhân
chủ quan. Hiểu biết đúng đắn các nguyên nhân đó sẽ giúp chúng ta lý giải được sự
thành công hay thất bại của mình, từ đó điều chỉnh hành vi hoạt động của mình để trở
thành một chủ thể đích thực góp phần sáng tạo nên lịch sử. Tuân thủ các yêu cầu cơ
bản của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ giúp chúng ta
tránh được chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, … cũng như thái độ thờ ơ, thụ động trước
hiện thực, qua đó nâng cao tinh thần, thái độ và mục tiêu vươn lên sự hoàn thiện.
Chính vì vậy, khi vận dụng nguyên tắc khách quan vào lĩnh vực KTNB đã giúp ta
nhận thấy rằng kiểm toán nội bộ dù chỉ có giá trị nội bộ, nhưng đó là nhu cầu cần thiết
của các doanh nghiệp, là công cụ quan trọng và hữu hiệu để quản lý và kiểm soát hoạt
động của các nhà quản lý doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng KTNB phải xuất phát
từ tự thân doanh nghiệp, từ nhu cầu của chính các nhà quản lý thì nó mới tồn tại và
phát triển, cũng như được thừa nhận một cách rộng rãi ở doanh nghiệp. Các nhà quản
17