Giao nhận và quản lý hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NGUYỄN THỊ KHÁNH DUNG

GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN
HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
0BChuyªn ngµnh:
1BKinh tÕ thÕ giíi vµ quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Như Tiến


2.1.2.1. Các loại hình doanh nghiệp giao nhận hoạt động ở Việt Nam 31
2.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của hoạt động giao nhận 33 2.1.2.3. Sự cạnh tranh trên thị trường giao nhận vận tải hiện nay 35
2.1.3. Nhận xét về thực trạng hoạt động giao nhận ở Việt Nam 39
2.1.3.1. Thành quả đạt được 39
2.1.3.2. Khó khăn tồn tại 41
2.2. Thực trạng hoạt động quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá XNK ở VN 44
2.2.1. Cơ sở pháp lý cho việc quản lý hoạt động giao nhận ở Việt Nam 44
2.2.1.1. Các văn bản pháp luật của VN liên quan tới hoạt động giao nhận 44
2.2.1.2. Các nguồn luật quốc tế liên quan đến hoạt động giao nhận 61
2.2.2. VIFFAS và công tác quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá XNK 66
2.2.3. Kết quả hoạt động quản lý dịch vụ giao nhận ở Việt Nam 72
2.2.3.1. Ưu điểm 72
2.2.3.2. Nhược điểm 73
Chương 3: Những giải pháp nhằm phát triển hoạt động giao nhận và
tăng cường quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam 77
3.1. Tính tất yếu phát triển hoạt động giao nhận và tăng cường
quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam 77
3.2. Kinh nghiệm quản lý hoạt động giao nhận của một số nước 81
3.2.1. Ở Mỹ 81
3.2.2. Ở Anh 83
3.2.3. Ở một số nước Châu Á 85
3.3. Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển hoạt động giao nhận và
tăng cường quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam 87
3.3.1. Nhóm giải pháp phát triển hoạt động giao nhận 87
3.3.2. Nhóm giải pháp tăng cường quản lý hoạt động giao nhận 96
Kết luận 105
Tài liệu tham khảo

tác với nước ngoài, tổ chức các tuyến đường vận tải, đưa hàng hoá đi và đến đáp
ứng yêu cầu của người xuất nhập khẩu. - 2 -
Tuy nhiên, dù đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận nhưng hoạt động
của ngành giao nhận Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển
nên vẫn còn tồn tại không ít bất cập, trong đó nổi lên vấn đề khá bức xúc đối với cả
doanh nghiệp trong ngành và Nhà nước là việc quản lý và kiểm soát hoạt động giao
nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay. Chính vì lẽ đó, việc nghiên
cứu, hoàn thiện nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giao nhận hàng
hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam là vấn đề cấp thiết cần phải được đưa ra nghiên
cứu nhằm tìm ra biện pháp để tạo nền tảng ổn định cho sự phát triển của ngành. Và
đấy cũng là lý do để người viết chọn đề tài: “Giao nhận và quản lý hoạt động giao
nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu của các nghiên cứu sinh,
cũng như một số bài viết của sinh viên trường Đại học Ngoại thương và sinh viên
một số trường khác về hoạt động giao nhận, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển,
đường hàng không Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới
tình hình quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam hiện nay và kiến nghị một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giao nhận nhằm đáp ứng yêu
cầu hội nhập.
3. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu và công
tác quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam hiện nay, xác định được điểm mạnh,
điểm yếu để từ đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh của loại hình dịch vụ này, đồng thời tăng cường công tác quản lý của Nhà
nước để góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu
hội nhập.

Thực hiện phỏng vấn, trao đổi nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn
của những người hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận.
Nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu tình hình thực tế. - 4 -
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về giao nhận và quản lý hoạt động
giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng giao nhận và quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá
xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Những giải pháp nhằm phát triển hoạt động giao nhận và tăng
cường quản lý hoạt động giao nhận của Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Tuy rằng nội dung của luận văn có thể chưa thể hiện một cách triệt để các vấn
đề liên quan đến hoạt động giao nhận và quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất
nhập khẩu, nhưng mong rằng luận văn sẽ góp một phần vào tiến trình hoàn thiện cơ
chế quản lý của Nhà nước đối với ngành giao nhận và thúc đẩy hơn nữa sự phát
triển của ngành giao nhận nước nhà.
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo, PGS, TS
Nguyễn Như Tiến, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ để em
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
- 5 -
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN

các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên
quan đến hàng hoá.
Theo điều 163 Luật Thương mại của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thì “dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm
dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng
cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người
làm dịch vụ giao nhận khác”. 22
Như vậy, dịch vụ giao nhận cũng là một loại hình dịch vụ mà người kinh
doanh dịch vụ giao nhận cung cấp cho khách hàng. Khách hàng ở đây có thể là
người mua, người bán, thậm chí cả người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận
khác. Khi sử dụng dịch vụ giao nhận, khách hàng sẽ được người kinh doanh dịch vụ
giao nhận thực hiện các công đoạn, thủ tục có liên quan đến hàng hoá để đảm bảo
việc vận chuyển hàng hoá từ người gửi hàng tới người nhận hàng được thuận tiện,
nhanh chóng.
Khái niệm về người kinh doanh giao nhận (Freight forwarder):
Thực ra, không có một định nghĩa thống nhất về người giao nhận được quốc tế
chấp nhận. Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ hay kho
hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác có đăng ký
kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Tại các nước khác nhau, người giao nhận
được biết đến với những tên gọi khác nhau, như “Đại lý hải quan” (Customs House
Agent), “Môi giới hải quan” (Customs Broker), “Đại lý thanh toán” (Clearing
Agent), hay “Đại lý gửi hàng và giao nhận” (Shipping and Forwarding Agent) và
trong nhiều trường hợp người giao nhận đóng vai trò “Người chuyên chở chính” - 7 -
(Principal Carrier). Nhưng dù được gọi dưới cái tên nào đi nữa thì một điểm chung
trong hoạt động của tất cả những người này là họ đều chỉ bán dịch vụ của mình,
cùng mang một tên chung trong giao dịch quốc tế là Người giao nhận quốc tế

chuyên ngành về vận tải, các quy định quốc tế về giao nhận vận chuyển hàng hoá
xuất nhập khẩu.
- Do tính chất công việc và do phạm vi hoạt động ở quy mô thế giới nên người
giao nhận có quan hệ khá rộng cả trong và ngoài nước. Ở trong nước, người giao
nhận có quan hệ với chủ hàng (người gửi hàng hay người nhận hàng), các tổ chức
thuộc bên thứ ba (người chuyên chở đường biển, đường bộ, đường sông, đường sắt,
đường hàng không, người bốc xếp, tổ chức đóng gói, kho hàng, tổ chức bảo hiểm,
kiểm nghiệm, ngân hàng ); các cơ quan hữu quan như: hải quan, cảng vụ, cơ quan
kiểm dịch, phòng Thương mại, cơ quan giao thông vận tải, cơ quan lãnh sự nước
ngoài Ở nước ngoài, người giao nhận thành lập các đại lý để lo liệu công việc
giao nhận ở cảng, sân bay, nhà ga xe lửa hay các địa điểm khác.
1.1.1.3. Phân loại giao nhận:
Dựa vào các khía cạnh, tiêu thức khác nhau, người ta có thể chia nghiệp vụ
giao nhận thành nhiều loại.
* Căn cứ vào phạm vi hoạt động có:
- Giao nhận quốc tế: là hoạt động giao nhận phục vụ tổ chức chuyên chở quốc
tế.
- Giao nhận nội địa: là hoạt động giao nhận phục vụ chuyên chở hàng hoá
trong phạm vi một quốc gia.
* Căn cứ vào phương thức vận tải có:
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường biển.
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường sông.
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường pha sông biển.
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường sắt. - 9 -
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường bộ.
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường hàng không.
- Giao nhận hàng hoá chuyên chở kết hợp bằng nhiều phương thức vận tải

để đảm bảo hàng hoá được vận chuyển nhanh chóng, an toàn, chính xác, tiết kiệm;
- Ký hợp đồng chuyên chở với người chuyên chở đã được lựa chọn, thuê tàu,
lưu cước;
- Nhận hàng từ người gửi hàng và cấp các chứng từ thích hợp;
- Nghiên cứu các điều khoản của thư tín dụng và tất cả các quy định của Chính
phủ về việc gửi hàng tại nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng như nước quá cảnh;
người giao nhận cũng phải chuẩn bị mọi chứng từ cần thiết;
- Đóng gói hàng hoá (trừ phi người gửi hàng đã làm trước khi giao hàng cho
người giao nhận), có tính đến tuyến đường, phương thức vận chuyển, bản chất của
hàng hoá và các quy định hiện hành, nếu có, tại nước xuất khẩu, các nước quá cảnh
và nước nhập khẩu;
- Lưu kho, bảo quản hàng hoá;
- Cân, đo hàng hoá;
- Lưu ý người gửi hàng về việc cần thiết bảo hiểm cho hàng hoá và, nếu ngưòi
gửi hàng yêu cầu, lo liệu việc mua bảo hiểm cho hàng hoá;
- Vận chuyển hàng hoá ra cảng, làm thủ tục thông quan cho hàng hoá, lo liệu
các chứng từ có liên quan và giao hàng cho người chuyên chở;
- Tham gia vào các giao dịch ngoại hối, nếu có;
- Thanh toán cước phí và các chi phí khác;
- Nhận vận đơn đã ký từ người chuyên chở và giao vận đơn cho người gửi
hàng;
- Lo liệu việc chuyển tải trong hành trình nếu cần;
- Giám sát toàn bộ hành trình vận chuyển hàng hoá đến khi người nhận hàng
nhận được hàng hoá thông qua người chuyên chở và các đại lý giao nhận ở nước
ngoài; - 11 -
- Ghi nhận các mất mát, hư hỏng (nếu có) của hàng hoá và thông báo cho
người chuyên chở; lập các biên bản, chứng từ cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho

điều kiện thương mại thích hợp để đưa vào các hợp đồng ngoại thương.
Trong những năm gần đây, người giao nhận còn thường cung cấp dịch vụ vận
tải đa phương thức (đóng vai trò của MTO - người kinh doanh vận tải đa phương
thức). Người giao nhận đã khẳng định vững chắc vị trí của mình trong thương mại
và vận tải quốc tế.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của người giao nhận và hoạt động giao nhận:
1.1.3.1. Vai trò của người giao nhận:
Do sự phát triển của thương mại quốc tế cũng như của vận tải quốc tế, đặc biệt
là vận tải container, vận tải đa phương thức, ngày nay người giao nhận không chỉ
làm đại lý, người nhận uỷ thác như thuở ban đầu mà còn cung cấp dịch vụ vận tải
và đóng vai trò như một bên chính (Principal) - người chuyên chở (Carrier). Người
giao nhận đảm nhận khá nhiều vai trò trong thực tiễn thương mại quốc tế. Cụ thể là
người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
- Môi giới hải quan (Customs Broker)
Ban đầu người giao nhận hầu như chỉ hoạt động ở trong nước. Nhiệm vụ của
người giao nhận lúc bấy giờ chỉ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu.
Sau đó người giao nhận mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và giành chỗ
chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự uỷ thác của
người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng mua
bán. Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất
khẩu, người nhập khẩu tiến hành khai báo, làm thủ tục hải quan như một môi giới
hải quan.
- Đại lý (Agent)
Trước đây người giao nhận không đảm nhận vai trò của người chuyên chở.
Khi đó người giao nhận chỉ hoạt động như một cầu nối giữa chủ hàng và người
chuyên chở như là một đại lý của chủ hàng hoặc của người chuyên chở. Người giao
nhận nhận sự uỷ thác từ chủ hàng hoặc người chuyên chở để thực hiện các công - 13 -


- 14 -
suốt, hay còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa, người giao nhận đã đóng vai trò của
người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO). Lúc này người giao nhận là
người duy nhất chịu trách nhiệm về hàng hoá trong toàn bộ hành trình trước chủ
hàng với tư cách là người chuyên chở chứ không phải với tư cách là đại lý. Và trong
vai trò của một MTO, người giao nhận cũng có thể là người chuyên chở thực tế
hoặc là người thầu chuyên chở.
Với các vai trò mà mình đảm nhận, người giao nhận là người có khả năng tổ
chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, hợp lý nhất, an toàn nhất, chính xác nhất
và tiết kiệm nhất. Chính vì vậy mà người giao nhận còn được gọi là “kiến trúc sư
của vận tải” (Architect of Transport). 2 , 3 , 5
1.1.3.2. Ý nghĩa của hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu:
* Tầm vĩ mô:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với quá trình thực hiện nhiệm vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các doanh nghiệp giao nhận đã đóng góp
một phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Điều này
thể hiện trên một số mặt sau:
a) Ý nghĩa về mặt kinh tế:
Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu là một ngành nghề dịch vụ thương mại
gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải quốc tế. Đây là
một loại dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng lợi nhuận tương đối
ổn định nếu biết tổ chức, điều hành tốt trên cơ sở tận dụng hệ thống hạ tầng cơ sở
hiện có.
Việc phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận kho vận ở nước ta đã mang lại
những hiệu quả kinh tế thiết thực. Trước hết nó tạo điều kiện cho Chính phủ có
thêm được nguồn thu ngoại tệ và đẩy mạnh hơn giao lưu kinh tế, nối liền các hoạt
động kinh tế giữa các khu vực trong nước, giữa trong nước với nước ngoài, giữa các
nước với nhau. Việc ứng dụng vận tải đa phương thức đã tạo điều kiện đơn giản hoá
chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan do vậy hấp dẫn các bạn hàng nước ngoài.

thương mại và vận tải quốc tế, tạo nên quá trình vận chuyển hàng hoá mang tính
chuyên nghiệp, nhanh chóng, đồng bộ và an toàn. Cụ thể là: - 16 -
- Khi người giao nhận cung cấp dịch vụ gom hàng, những người gửi hàng lẻ
được hưởng mức cước thấp hơn giá cước mà họ thường phải trả cho người chuyên
chở khi gửi hàng lẻ, do đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị
trường quốc tế. Mặt khác, do nắm chắc nghiệp vụ gom hàng nên người giao nhận
tính toán tiết kiệm được dung tích trọng tải của công cụ và phương tiện vận tải, nhờ
đó mà giảm được chí phí vận tải cho người gửi hàng, tức là giảm chi đối với hàng
xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá.
- Dịch vụ mà người giao nhận cung cấp góp phần phát huy ưu điểm của vận tải
container. Hàng hoá được đóng đầy container, tận dụng tối đa khả năng chuyên chở.
Khối lượng hàng lớn và thường xuyên giúp người giao nhận được hưởng cước cũng
như phí bảo hiểm ưu đãi, góp phần giảm giá thành hàng hoá. Do không phải giải
quyết các lô hàng lẻ nên tiết kiệm được giấy tờ, chi phí và thời gian. Hàng hoá trong
container được bảo quản tốt hơn, giảm được chi phí kho bãi.
- Tạo điều kiện phát huy lợi ích của vận tải đa phương thức: Tạo ra một đầu
mối duy nhất trong việc vận chuyển từ cửa đến cửa. Việc hàng hoá được đóng trong
container và chỉ có một chứng từ vận tải duy nhất làm cho công tác chuyển tải,
thông quan được nhanh chóng, dễ dàng hơn, đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng
hoá.
b) Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu hoạt động có hiệu quả:
Dịch vụ giao nhận ra đời từ sự phát triển của thương mại và vận tải quốc tế và
chính những người giao nhận đã góp phần quan trọng làm cho thương mại và vận
tải ngày càng phát triển hơn nữa. Trước khi dịch vụ giao nhận ra đời các chủ hàng
phải tự lo liệu công việc giao nhận hàng hoá với đủ loại thủ tục và chứng từ, rất vất
vả mà hiệu quả đem lại không thể nói là cao được. Ngày nay công việc này được
giao cho những người kinh doanh giao nhận chuyên nghiệp. Với kỹ năng nghiệp vụ

như tiết kiệm chi phí vận tải và bảo hiểm, hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh của
sản phẩm, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, tăng năng suất lao động xã hội,
tạo thêm nhiều ngành nghề dịch vụ mới giải quyết công ăn việc làm, góp phần nâng
cao đời sống xã hội.
1.2. Những vấn đề chung về quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất
nhập khẩu: - 18 -
1.2.1. Khái niệm về quản lý và quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất
nhập khẩu:
Khái niệm quản lý:
Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định, song lâu nay thường có các
cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng các thuật ngữ khác
nhau. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học quản lý, vấn đề cơ bản đã được làm
sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất.
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi loại hoạt động. Nó phát
sinh từ sự phân công lao động xã hội, cần thiết phải phối hợp hành động của các cá
nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục
tiêu chung của tổ chức.
Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm
đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra tác động quản lý và đối tượng
bị quản lý. Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý. Tác
động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ
chủ yếu để tạo ra các tác động. 14 , 16 , 17
Có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức quản lý, song đa số đều

- Hướng dẫn thực hiện và tuyên truyền pháp luật về giao nhận vận tải.
- Quy định về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp giao nhận vận tải.
- Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động giao nhận.
- Thống kê Nhà nước về giao nhận vận tải.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật về giao
nhận.
- Hợp tác quốc tế về giao nhận. - 20 -
Như vậy, nói đến quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu là nói
đến vai trò của Nhà nước. Bằng hệ thống luật và các văn bản dưới luật, Nhà nước
quản lý các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận nhằm đạt được mục
đích cuối cùng là phát triển ngành giao nhận nói riêng và phát triển toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Do đó, ý nghĩa nội dung quản lý Nhà nước chính là để ổn định
hoá và thuận lợi hoá môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp và đảm bảo sự
phối hợp đồng bộ các công cụ quản lý khác nhau nhằm củng cố năng lực cạnh tranh
của dịch vụ nội địa. Nhà nước với vai trò quản lý của mình sẽ giúp đa dạng hoá
hình thức, phương thức hoạt động, phát huy mọi lợi thế so sánh của quốc gia và
quốc tế có được ở mọi hình thức và phương thức đó. Các văn bản luật và dưới luật
được ban hành tạo cơ sở pháp lý để cụ thể hoá các điều kiện ràng buộc cũng như ưu
đãi trong mọi hình thức, và để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt
động giữa các bên.
1.2.2. Sự cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động giao
nhận hàng hoá xuất nhập khẩu
Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực rất cần có sự quản lý, với tính đặc thù rõ
rệt so với các hoạt động khác. Đối với bất kỳ một tổ chức hay một doanh nghiệp
nào đều cần phải có sự quản lý. Sở dĩ như vậy là bởi vì hoạt động kinh doanh của
bất kỳ một tổ chức hay doanh nghiệp nào dù ít hay nhiều đều có tác động đến nền
kinh tế của đất nước, tác động tới cung cầu thị trường. Do đó, việc quản lý Nhà

thiện công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động giao nhận hàng hoá xuất
nhập khẩu. Tuy nhiên, nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động giao nhận là
một công việc phức tạp vì nó liên quan đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau.
Chính vì vậy, cần phải có sự thống nhất và phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành
nhằm đạt được hiệu quả mong muốn.
1.2.3. Quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu
1.2.3.1. Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra tác động quản lý. Chủ thể quản lý hoạt động
giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu chính là các cơ quan chức năng của Nhà nước
trực tiếp quản lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải hàng
hoá. - 22 -
Ở Việt Nam, chủ thể quản lý hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu rất
đa dạng. Sở dĩ như vậy là vì hiện nay, số lượng các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu rất nhiều và thuộc nhiều thành
phần kinh tế khác nhau. Cũng vì thế mà các cơ quan quản lý các doanh nghiệp này
cũng rất khác nhau. Một số doanh nghiệp trực thuộc sự quản lý của Bộ Thương mại
(Vietrans, Vinatrans ); một số thuộc sự quản lý của Bộ giao thông vận tải
(Vinafco); một số doanh nghiệp lại do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố quản lý
(như Transimex Saigon do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quản lý), hoặc
một số khác lại do Sở Kế hoạch đầu tư của các tỉnh, thành phố quản lý (như Nippon
Express Vietnam do Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hồ Chí Minh quản lý). Sở dĩ có
nhiều cấp quản lý như vậy là do hầu hết hoạt động giao nhận do Bộ Thương mại
quản lý, hoạt động vận tải do Bộ Giao thông quản lý. Tuy nhiên, các doanh nghiệp
hầu như đều hoạt động đồng thời cả giao nhận và vận tải nên không có sự phân định
rạch ròi giữa các cơ quan quản lý Nhà nước. Ngoài ra, ở các nước phát triển, các
công ty xuất nhập khẩu đều uỷ thác toàn bộ khâu lưu thông, phân phối hàng hoá
cho các nhà giao nhận vận tải chuyên nghiệp để họ có thời gian tập trung mở rộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status