ngành Nuôi trồng thủy sản Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre - Pdf 41

Header Page 1 of 89.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã ngành: 62620301

NGUYỄN MINH TUẤN

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ KINH TẾ CỦA HAI HỌ CÁ
BỐNG GOBIIDAE VÀ ELEOTRIDAE PHÂN BỐ Ở
VÙNG VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE

Cần Thơ, 2016
Footer Page 1 of 89.

A


Header Page 2 of 89.

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Đắc Định

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
trường

cá bống cát, cá bống sao, cá bống dừa…. Trong đó cá bống sao
(Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)) và cá bống cát (Glossogobius
aureus Akihito and Megugo, 1975) phân bố trong các hệ sinh thái cửa
sông và vùng ven biển và là một trong những đối tượng khai thác khá
quan trọng của người dân địa phương. Kích thước và khối lượng cá
không lớn, song là một trong các loài cá bống thơm ngon, được ưa
chuộng và có đóng góp đáng kể vào sản lượng khai thác.
Vùng ven biển tỉnh Bến Tre thuộc hạ lưu sông Tiền có bốn cửa
sông với diện tích bãi bồi rộng lớn. Các loài cá bống của hai họ Gobiidae
và Eleotridae được biết là có nhiều loài có giá trị kinh tế và có đặc điểm
phân bố rất phù hợp với môi trường bãi bồi ven biển. Tuy nhiên các
nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá này ở
vùng bãi bồi ven biển vùng ĐBSCL nói chung và ở Bến Tre nói riêng
cho đến nay vẫn còn hạn chế. Do đó nhằm đánh giá nguồn lợi nhóm cá
bống để có những nhận định khoa học về sự đa dạng thành phần loài và
đặc điểm sinh học của các loài cá kinh tế làm cơ sở cho việc phát triển
nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi của nhóm cá này. Với lý do trên, nghiên
cứu “Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh
tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven
biển tỉnh Bến Tre” đã được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: xác định thành phần loài, đặc điểm sinh
học của một số loài thuộc họ cá bống (Gobiidae và Eleotridae) để làm cơ
sở cho quản lý nguồn lợi cũng như phát triển nuôi trong tương lai góp
phần thúc đẩy sự phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL nói
chung và ở Bến Tre nói riêng.

Footer Page 3 of 89.

1

thành phần loài và đặc điểm sinh học sẽ là cơ sở dữ liệu khoa học quan
trọng trong quản lý nguồn lợi và cho việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo,
sản xuất thức ăn để có thể thúc đẩy nghề nuôi cá bống cát, cá bống sao,
đa dạng hóa đối tượng nuôi và mô hình nuôi thủy sản, góp phần thúc đẩy
sự phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản ven biển.
1.5 Điểm mới của luận án
- Luận án đã xác định được thành phần loài cá thuộc họ Gobiidae
và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre gồm có 35 loài trong
đó có 28 loài thuộc họ Gobiidae (80%) và 7 loài thuộc họ Eleotridae
(20%).
- Luận án cũng đã xác định được 13 loài cá kinh tế thuộc họ
Gobbiidae và Eleotridae.
- Luận án đã cung cấp kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh

Footer Page 4 of 89.

2


Header Page 5 of 89.

học của cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) bao gồm:
+ Xác định đặc điểm hình thái của cơ quan tiêu hóa và phổ thức
ăn: Cá bống cát (G. aureus) có hình thái cơ quan tiêu hóa phù hợp với
loài cá dữ ăn động vật và phổ thức ăn có thành phần giáp xác và cá nhỏ
chiếm ưu thế (86,8%); ngược lại cá bống sao (B. boddarti) có hình thái
cơ quan tiêu hóa phù hợp với loài có tính ăn thực vật và phổ thức ăn có
thành phần tảo khuê chiếm ưu thế (87,84%).
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh trưởng ghi nhận cá bống cát
tăng trưởng chiều dài hơn chiều rộng và chiều cao thân, cá bống sao tăng

Footer Page 5 of 89.

3


Header Page 6 of 89.
Tre.

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Các nội dung điều tra
được tiến hành từ tháng 3/2012 đến tháng 4/2012 tại 3 huyện ven biển
tỉnh Bến Tre: Bình Đại (30 mẫu), Ba Tri (30 mẫu) và Thạnh Phú (30
mẫu).
3.2.2 Phương pháp thu số liệu: Số liệu được thu thập bằng
phương pháp phỏng vấn trực tiếp các ngư dân thông qua bảng câu hỏi đã
soạn sẵn và danh mục hình các loài cá bống theo Froese and Pauly
(2012).
3.2.3 Nội dung điều tra
- Các loài cá bống đang được khai thác;
- Loại ngư cụ khai thác; Kích cỡ cá khai thác (g/con);
- Sản lượng (kg/năm); Giá thành sản phẩm (đ/kg);
- Địa bàn, địa điểm khai thác;
- Thời điểm xuất hiện nhiều trong năm (tháng dương lịch);
- Thay đổi sản lượng khai thác so với 5 năm trước (±%). Lý do chủ
yếu của việc tăng lên hoặc giảm đi về sản lượng khai thác từng loài;
- Loài có tiềm năng phát triển thành đối tượng nuôi.
3.3 Nghiên cứu 2: Xác định thành phần loài cá thuộc họ
Gobiidae và Eleotridae.
3.3.1 Phương pháp thu và cố định mẫu
Thu mẫu
Mẫu cá được thu hàng tháng (từ tháng 4/2012 đến tháng 12/2013)

+ Cá bống sao: Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 4 năm
2012 đến tháng 3 năm 2013 tại Ba Tri.
Số mẫu phân tích:
+ Cá bống cát: Số mẫu phân tích tương quan chiều dài ruột và
chiều dài chuẩn của cá là 411 cá thể, phân tích phổ thức ăn là 35 cá thể.
+ Cá bống sao: Số mẫu phân tích tương quan chiều dài ruột và
chiều dài chuẩn của cá là 436 cá thể, phân tích phổ thức ăn là 30 cá thể.
Mẫu cá được thu bằng lưới đáy (có kích thước mắt lưới phần đục
là 2a = 15mm) đối với cá bống cát, vợt và lưới đối với cá bống sao. Mẫu
cá phân tích phổ thức ăn sau khi thu được gây mê bằng nước đá sau đó
cố định ngay trong dung dịch formol 10%, chọn cá thể no và tiến hành
phân tích tại phòng thí nghiệm Nguồn lợi thủy sản, Khoa Thủy sản,
Trường Đại học Cần Thơ.
3.4.2 Phương pháp phân tích mẫu
3.4.2.1 Đặc điểm hình thái cấu tạo cơ quan tiêu hóa: Quan sát
cấu tạo răng, miệng, lược mang, đo chiều dài ruột và chiều dài tổng của
cá. Tính tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài tổng của cá (RLG)
theo Al-Hussainy (1949).

3.4.2.2 Phân tích phổ thức ăn của cá:
Cá bống cát có thành phần thức ăn là cá và giáp xác có kích thước
và khối lượng lớn nên nghiên cứu này sử dụng phương pháp tần số xuất
hiện kết hợp với phương pháp khối lượng.
Cá bống sao có thành phần thức ăn chủ yếu là tảo nên được phân
tích theo phương pháp tần số xuất hiện và phương pháp đếm điểm của
Biswas (1993).
3.5 Nghiên cứu 4: Đặc điểm sinh trưởng của cá bống cát
(G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti)
3.5.1 Xác định tương quan chiều dài và khối lượng
W = a*Lb (Jennings et al., 2001)

- Tổng số mẫu quan sát: Cá bống cát: 607 cá thể; Cá bống sao: 559 cá
thể.
- Nhịp độ thu mẫu: Định kỳ 1 tháng thu mẫu một lần và thu 18
tháng.
Xác định các giai đoạn thành thục sinh dục
* Quan sát trực tiếp đặc điểm của tuyến sinh dục kết hợp với tiêu
bản mô học để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục dựa theo
thang 6 bậc của Nikolsky (1963).
* Tiêu bản mô học xác định sự thành thục của TSD được thực
hiện theo phương pháp mô học của Drury and Wallington (1980), Gabe
(1976). Quan sát và phân tích tiêu bản mô học theo Phạm Quốc Hùng và
ctv (2014).
Xác định tỷ lệ giới tính
Giải phẫu quan sát tuyến sinh dục để xác định giới tính. Xác định
số lượng cá đực và cá cái để xác định tỉ lệ giới tính.
Tỷ lệ giới tính = Số cá thể cái/Số cá thể đực
Xác định hệ số thành thục:
GSI (%) = (GW/W)*100
Trong đó: GW: Khối lượng tuyến sinh dục (g);

Footer Page 8 of 89.

6


Header Page 9 of 89.

W: Khối lượng toàn thân cá (g).
Xác định hệ số tích luỹ năng lượng:
HSI (%) = (LW/W)*100

Dùng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, giá trị tối thiểu và tối đa, kiểm định χ2 (kiểm định tỉ lệ cá đực/cá
cái). Sử dụng phần mềm FiSAT II (FAO) để xác định các tham số tăng
trưởng của cá. Xác định chiều dài thành thục đầu tiên Lm bằng phần mềm
STATISTICA 8.0.

Footer Page 9 of 89.

7


Header Page 10 of 89.
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình trạng khai thác các loài cá thuộc họ Gobiidae và
Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
4.1.1 Các loài cá khai thác
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra phỏng vấn tình trạng khai thác và
giá trị kinh tế của các loài cá thuộc họ Gobiidae và Eleotridae, ghi nhận
được 13 loài với 9 loài thuộc họ Gobiidae chiếm 69,2% và 4 loài thuộc
họ Eleotridae chiếm 30,8%.
Bảng 4.1: Các loài cá kinh tế họ Gobiidae và Eleotridae khai thác
được ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
STT
I
1
2
3
4
II
5

Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975
Cá bống cát
Oligolepis acutipennis (Valenciennes, 1837)
Cá bống xệ vảy to
Parapocryptes serperaster (Richardson, 1846)
Cá bống kèo vảy to
Periophthalmodon schlosseri (Pallas 1770)
Cá thòi lòi
Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816)
Cá bống kèo vảy nhỏ
Mugilogobius chulae (Smith, 1932)
Cá bống đối
Trypauchen vagina (Bloch & Schneider, 1801)
Cá bống đều
*Ghi chú: TP:Thạnh Phú; BT:Ba Tri; BĐ: Bình Đại.

TP

PHÂN BỐ
BT


+
+
+
+

+
+
+

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+


Header Page 11 of 89.

Bảng 4.2: Tình trạng khai thác và giá trị kinh tế của các loài cá.

Loài

Cá bống trân
Cá bống trứng
Cá bống tượng
Cá bống dừa
Cá bống lá tre
Cá bống sao
Cá bống cát
Cá bống xệ vảy to
Cá bống kèo vảy to
Cá thòi lòi
Cá bống kèo vảy
nhỏ

4
28
50
15
112
400
5
20,8
40 14,5

Chiều dài tổng
(mm)
ave max min
98,4
175
45
48,2
80
10
214
270 120
105
150
30
115
160
75
138
200 100
127


Sản lượng
(kg/năm/hộ)
ave
max
373 1.092
217
700
335
2500
361
1500
1071
2548
463
1700
809
4500
180
700
299
1000
375
1500
811
5000
250
265

300

58
80
20
25
40
13
78
110
30
61
100
30
32
60
20
80
135
50
85
135
30
100
135
65
170
24

250
35


13


Header Page 12 of 89.

cát có hình thái rất giống nhau trong đó loài cá bống cát (G.
sparsipapillus) có kích thước tối đa nhỏ (chiều dài chuẩn tối đa đạt được
9,3 cm) (Trần Đắc Định và ctv, 2013). Vì thế việc nghiên cứu đặc điểm
sinh học sinh sản để làm cơ sở cho việc sản xuất giống đối với cá bống
cát (G. aureus) là cần thiết để người nuôi có được nguồn con giống đồng
nhất.
Qua kết quả phỏng vấn có đến 13 loài được khai thác và mua bán
ở thị trường địa phương. Qua đây cho thấy cá bống là nhóm cá có giá trị
trong đời sống của người dân, tuy nhiên sản lượng của các loài này đều
có hướng giảm so với 5 năm trước. Do đó nhu cầu phát triển nghề nuôi
đối với cá bống trong tương lai là cần thiết. Đã có 2 loài được phát triển
thành đối tượng nuôi là cá bống kèo (P. elongatus) và cá bống tượng
(O. marmorata). Đặc biệt cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao
(B. boddarti) là 2 loài rất có tiềm năng để phát triển thành đối tượng nuôi
trong tương lai.
4.2 Một số chỉ tiêu môi trường và thành phần loài cá thuộc họ
Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
4.2.1 Một số chỉ tiêu môi trường nước
Trong thời gian 12 tháng khảo sát, nhiệt độ và độ pH của nước
biến động không lớn chỉ có độ mặn thay đổi. Độ mặn ở hai khu vực có
sự khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa. Ở vùng mặn quanh năm, độ
mặn tăng dần từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2013, cao nhất lên đến
28±1‰ và độ mặn giảm dần từ tháng 4/2012 đến tháng 11/2012, thấp
nhất là 8±2,7‰. Ở vùng nhiễm mặn theo mùa, độ mặn tăng dần từ tháng
1/2013 đến tháng 3/2013, cao nhất là 14,2±4‰ và độ mặn giảm dần từ

TÊN KHOA HỌC

TÊN ĐỊA
PHƯƠNG

I
Họ Eleotridae
1
Bostrychus scalaris Larson, 2008
2
Butis butis (Hamilton, 1822)
3
Butis humeralis (Valenciennes, 1837)
4
Butis koilomatodon (Bleeker, 1849)
5
Eleotris melanosoma Bleeker, 1853
6
Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
7
Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)
II
Họ Gobiidae
8
Acentrogobius canius (Valenciennes, 1837)
9
“Acentrogobius” globiceps (Hora, 1923)
10
Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes, 1837)
11

Periophthalmodon septemradiatus (Hamilton, 1822)
27
Periophthalmus variabilis Eggert, 1935
28
Periophthalmus gracilis Eggert, 1935
29
Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816)
30
Pseudogobius yanamensis (Rao, 1971)
31
Redigobius chrysosoma (Bleeker, 1875)
32
Stenogobius mekongensis Watson, 1991
33
Stigmatogobius pleurostigma (Bleeker, 1849)
34
Taenioides gracilis (Valenciennes, 1837)
35
Trypauchen vagina (Bloch & Schneider, 1801)
*Ghi chú: S: Sông; BB: Bãi bồi; RNM: Rừng ngập mặn

Họ cá bống đen
Cá bống hoa
Cá bống trân
Cá bống trân
Cá bống lưng cao
Cá bống trứng
Cá bống tượng
Cá bống dừa
Họ cá bống trắng

RNM
S
BB
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
+

+

+
+

+

+

+
+

có 28 loài thuộc 20 giống (80%) gấp 4 lần số loài cá thuộc họ Eleotridae
có 7 loài thuộc 4 giống (20%). Các loài cá bống ở ven biển tỉnh Bến Tre

Footer Page 13 of 89.

11

+
+


Header Page 14 of 89.

phân bố ở các hệ sinh thái sông, bãi bồi và rừng ngập mặn. Trong đó có
một số loài phân bố chủ yếu ở bãi bồi và rừng ngập mặn là cá bống sao
và cá thòi lòi.
4.2.3 Biến động thành phần loài theo mùa
Kết quả nghiên cứu ở mùa mưa ghi nhận được 35 loài (100% số
loài thu được), mùa khô ghi nhận được 22 loài (62,9% số loài thu được).
Điều này cho thấy, ở thời điểm mùa mưa thì số loài đa dạng hơn mùa
khô.
Nếu so sánh thành phần loài theo từng họ thì thấy rằng số lượng
các loài trong từng họ thu được ở mùa mưa cũng cao hơn mùa khô. Họ
Gobiidae có biến động nhiều hơn, giảm 12 loài và họ Eleotridae giảm 1
loài. Các loài được tìm thấy ở mùa mưa nhưng không tìm thấy ở mùa
khô như: B. scalaris, A. globiceps, A. viridipunctatus, A. unicolor, B.
sabanus, E. variegates, G. macrostoma, P. yanamensis, R. chrysosoma,
S. mekongensis, S. pleurostigma, T. gracilis, T. vagina. Các loài tìm thấy
ở mùa khô hầu như đều được tìm thấy ở mùa mưa và kết quả này có thể
là do vào mùa mưa lượng thức ăn dồi dào hơn, độ mặn của nước giảm

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Tên khoa học
Bostrychus scalaris
Oxyeleotris marmorata
Oxyeleotris urophthalmus
Brachygobius sabanus
Eugnathogobius microps
Amoya moloana
Gobiopsis macrostoma
Mugilogobius chulae
Periophthalmodon septemradiatus
Pseudogobius yanamensis
Redigobius chrysosoma
Stenogobius mekongensis

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

13

B

+
+
+
+
4

* Ghi chú: A: vùng nhiễm mặn theo mùa; B: vùng mặn quanh năm.

4.2.5 Biến động thành phần loài theo ngư cụ thu mẫu
Kết quả nghiên cứu cho thấy lưới đáy thu được 29 loài (82,9%
tổng số loài thu được), vợt thu được 22 loài (62,9% tổng số loài thu
được). Chài thu được 18 loài (51,4% tổng số loài thu được) và thấp nhất
là lưới kéo 15 loài (42,9% tổng số loài thu được). Lưới đáy tuy là ngư cụ
cố định nhưng có thể do ngư cụ này có diện tích thu mẫu lớn, thời gian
thu mẫu lâu và trong thời gian thu mẫu vận tốc nước chảy lớn nên nhiều

mỗi xương cung mang, lược mang có màu trắng ngà xếp thành một hàng
thưa, dạng núm gai nhọn và bén. Thực quản tương đối ngắn, có thành
dày, gấp nếp ở mặt trong. Dạ dày cá bống cát rất phát triển, có dạng túi
hình chữ J phình to và vách dày. Ruột ngắn, thành ruột tương đối dày,
mặt trong gấp nếp.
Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài tổng (RLG) của cá
bống cát được phân tích trên 411 mẫu có giá trị trung bình là 0,26 1. Từ kết quả quan sát về hình thái cơ quan tiêu hóa
và chỉ số RLG có thể dự đoán cá bống sao thuộc nhóm cá ăn mồi trên
nền đáy bùn và là loài cá ăn thực vật.
4.3.2 Phổ thức ăn
4.3.2.1 Cá bống cát (G. aureus)
Thành phần thức ăn của cá bống cát (n = 35 mẫu) theo phương
pháp chỉ số ưu thế (phương pháp tần số xuất hiện kết hợp với phương

Ravi (2013) về loài cá này ở rừng ngặp mặn Pichavaram, Ấn Độ và của
Macnae (1968) mô tả cá bống sao là loài ăn thực vật và tảo khuê là thành
phần chủ yếu. Cá bống sao lấy thức ăn bằng cách di chuyển trên bãi bùn
và cạp một lớp bùn mỏng từ bề mặt (Macnae, 1968). Fenchel (1969) cho
rằng tảo khuê là nguồn thức ăn quan trọng cho sinh vật đáy. Heald và
Odum (1970) giải thích rằng tảo khuê đóng vai trò quan trọng trong việc
thiết lập các chuỗi thức ăn và mối quan hệ giữa các nhóm khác nhau của
các sinh vật trong các hệ sinh thái.
Qua kết quả phân tích đặc điểm hình thái của cơ quan tiêu hóa,
phổ thức ăn của cá bống cát và cá bống sao cho thấy cá bống cát là loài
cá dữ, thức ăn chính là cá và giáp xác; cá bống sao ăn thực vật và thức ăn
chính là tảo khuê.
4.4 Đặc điểm sinh trưởng của cá bống cát (G. aureus) và cá
bống sao (B. boddarti)
4.4.1 Tương quan chiều dài và khối lượng thân cá
Ở cá bống cát khi xét chung cả quần đàn cá, chiều dài tổng của
411 mẫu phân tích dao động trong khoảng 9,3–30,1 cm và khối lượng
biến thiên từ 7,76–219,95 g. Phương trình hồi quy tương quan giữa chiều

Footer Page 17 of 89.

15


Header Page 18 of 89.

dài tổng và khối lượng cơ thể cá là W = 0,012*L2,85 với hệ số tương quan
R2 = 0,958.
Ở quần đàn cá bống sao, chiều dài tổng của 435 mẫu phân tích có
chiều dài dao động trong khoảng 10,3-16,5cm. Khối lượng dao động

Tuổi
1+

Chiều dài chuẩn (mm)
162

2+

237

+

270

3

Footer Page 18 of 89.

16


Header Page 19 of 89.
4.4.2.2 Cá bống sao
Trong nghiên cứu này phương trình tăng trưởng von Bertalanffy
được phân tích từ 6.884 số liệu tần suất chiều dài (69-140 mm) đo trong
12 tháng khảo sát liên tục. Mẫu cá được thu hàng tháng, mỗi tháng thu 1
ngày bằng cách dùng lưới chụp bắt cá. Kết quả nhận được là L∞ = 160
mm; K = 0,55/năm và t0 = -0,01 năm. Hằng số tăng trưởng Φ’ = 2,15, tuổi
thọ (tmax) của cá được xác định là 5,5 năm. Từ kết quả trên, cho thấy mối
quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá được trình bày ở Bảng 4.6.

Loài
Gobio gobio
Gobius niger (male)
Gobius niger (female)
Gobius paganellus
Periophthalmus papilio
Periophthalmus babarus
Pseudapocryptes elongatus
Glossogobius aureus
Boleophthalmus boddarti

Footer Page 19 of 89.

L∞
(mm)
106
117
151
138
193,9
216
255
300
160

K
(/năm)
0,99
0,91
0,91

2,84
2,15

Nguồn
Bowker (1996)
Vesey và Langford (1985)
Vesey và Langford (1985)
Azevedo và Simas (2000)
Etim et al. (1996)
Etim et al. (2002)
Trần Đắc Định và ctv. (2008)
Nghiên cứu này
Nghiên cứu này


Header Page 20 of 89.
Cá bống cát có chiều dài tối đa và tốc độ tăng trưởng (L∞ = 300
mm; K = 0,77/năm) nhanh hơn so với cá bống sao (L∞ = 160 mm;
K = 0,55/năm). Tuy nhiên, tuổi thọ của cá bống sao (tmax = 5,5 năm) thì
dài hơn so với tuổi thọ của cá bống cát (tmax = 3,9 năm). Điều này cho
thấy cá bống cát có tiềm năng phát triển thành đối tượng nuôi lớn hơn cá
bống sao vì chúng có kích thước lớn hơn và tốc độ tăng trưởng nhanh
hơn.
4.5 Đặc điểm sinh sản của cá bống cát (G. aureus) và cá bống
sao (B. boddarti)
4.5.1 Tỉ lệ giới tính
Qua 18 tháng thu mẫu cá bống cát (G. aureus), kết quả phân tích
607 cá thể có 315 cá đực và 292 cá cái, kết quả tỉ lệ cá đực:cá cái là
1:0,93 (cá đực chiếm 52%; cá cái chiếm 48%). Theo kết quả kiểm định
χ2 thì tỉ lệ cá đực:cá cái khác tỉ lệ 1:1 không có ý nghĩa thống kê (χ2 =

Header Page 21 of 89.

4.5.3 Hệ số thành thục sinh dục (GSI)
4.5.3.1 Cá bống cát
Trong 18 tháng khảo sát, kết quả phân tích GSI ở 315 cá đực và
292 cá cái cho thấy hệ số GSI của cá bống cát (G. aureus) đực và cái
khác nhau. Do kích thước tuyến sinh dục của cá đực nhỏ hơn cá cái nên
GSI cá đực nhỏ hơn cá cái. Tuy nhiên, hệ số GSI của cá đực và cá cái
biến động cùng nhịp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy GSI ở cá cái tăng dần từ tháng 7 đến
tháng 10 và đạt cực đại ở tháng 10 (8,52±3,77%), sau đó GSI giảm dần ở
tháng 11, 12 và xuống thấp ở tháng 1 đến tháng 6. Hệ số GSI cá cái đạt
giá trị cao trong 4 tháng (tháng 9–12). Đối chiếu giá trị 4 tháng này với tỉ
lệ thành thục sinh dục của cá cái đã khảo sát, kết quả GSI cao là phù hợp
vì thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 đa số noãn sào đều phát triển ở giai
đoạn III, IV.
4.5.3.2 Cá bống sao
Trong 18 tháng khảo sát, kết quả phân tích GSI ở 257 cá đực và
302 cá cái cho thấy hệ số GSI của cá bống sao đực và cái khác nhau. Do
kích thước tuyến sinh dục của cá đực nhỏ hơn cá cái nên GSI cá đực nhỏ
hơn cá cái. Tuy nhiên, hệ số GSI của cá đực và cá cái biến động cùng
nhịp.
Đối với cá cái, sự biến động hệ số GSI được phân tích trong 18
tháng cho thấy trong năm 2012 GSI tăng dần từ tháng 7 đến tháng 10 và
đạt cực đại tháng 10 (4,87±3,02%), sau đó GSI giảm ở tháng 11 và
xuống thấp ở tháng 1/2013. Qua đó, ta thấy hệ số GSI cá cái đạt giá trị
cao trong 4 tháng (tháng 9–12). Đối chiếu giá trị 4 tháng này với biểu đồ
tỉ lệ thành thục sinh dục của cá cái đã khảo sát, kết quả GSI cao là phù
hợp bởi vì thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 đa số noãn sào đều phát
triển ở giai đoạn III, IV.

4.5.5 Hệ số điều kiện (CF)
4.5.5.1 Cá bống cát
Kết quả phân tích hệ số CF của từng cá thể trên 607 mẫu cá bống
cát (G. aureus) (315 cá đực và 292 mẫu cá cái) cho thấy rằng giá trị CF
của cá có sự biến động qua các tháng. Giá trị CF của cá có sự gia tăng từ
tháng 11 đến tháng 1 và từ tháng 3 đến tháng 6, giảm rõ là từ tháng 1 đến
tháng 2.
4.5.5.2 Cá bống sao
Kết quả phân tích hệ số CF trên 559 mẫu cá bống sao (257 cá đực
và 302 mẫu cá cái) cho thấy rằng giá trị CF của cá cái tăng từ tháng 10
đến tháng 12 và từ tháng 3 đến tháng 6. Giá trị này có sự giảm đồng nhịp
giữa cá đực và cá cái từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 2 đến tháng 3.
Hệ số điều kiện nói lên hiện trạng hay điều kiện phát triển của cá
tại từng thời điểm khảo sát. Hệ số điều kiện đánh giá mức độ gia tăng
khối lượng của cá so với mức độ gia tăng về chiều dài. Nguyên nhân của
sự gia tăng nhanh về khối lượng của cá trong một khoảng thời gian nhất
định chủ yếu là do sự gia tăng về khối lượng tuyến sinh dục hoặc do thời
điểm có nguồn thức ăn tự nhiên phong phú. Đặc biệt khối lượng cá sẽ
giảm nhanh sau khi cá đẻ. Điều này thể hiện rõ ở cá cái (King, 1995;
Froses, 2006).
Kết quả nghiên cứu ở cá bống cát cho thấy giá trị CF của cá giảm
rõ là từ tháng 1 đến tháng 2 điều này có thể dự đoán là sau tháng 1 thì cá
đã sinh sản xong. Ở cá bống sao giá trị CF biến động quanh năm và cao
nhất là vào tháng 6. Tuy nhiên tháng 6 không phải là tháng cá có tuyến
sinh dục phát triển nhiều, sự gia tăng giá trị CF trong tháng này có thể là
do cá ăn được nhiều thức ăn nên trọng lượng cơ thể cá tăng cao.
4.5.6 Mùa vụ sinh sản
4.5.6.1 Cá bống cát

Footer Page 22 of 89.

tuyệt đối đạt 69.006±25.616 trứng/cá cái (dao động từ 35.175–149.932
trứng/cá cái) và sức sinh sản tương đối là 1.122±148 trứng/g cá cái.
4.5.7.2 Cá bống sao
Kết quả nghiên cứu trên 30 mẫu cá bống sao (chiều dài trung bình
14,0±0,9 cm và khối lượng trung bình 25,8  6,1g) có sức sinh sản tuyệt
đối đạt 18.224  2.940 trứng/cá cái (dao động từ 12.607 – 27.270
trứng/cá cái) và sức sinh sản tương đối là 724  104 trứng/g cá cái.
Khả năng sinh sản của cá bống rất khác nhau trong cùng một
loài và giữa các loài, dao động từ < 100 trứng ở cá Eciota lacrimae
(Sunobe and Nakazono, 1995) đến hơn 500.000 trứng ở cá Awaous
guamensis (Ha and Kinzie, 1996).
Cá bống cát (G. aureus) có sức sinh sản tuyệt đối dao động trong
khoảng 35.175 – 149.932 trứng/cá cái cao hơn cá bống sao (B. boddarti)
(12.607 – 27.270 trứng/cá cái). Nhưng cả hai loài này đều có sức sinh
sản cao hơn nhiều loài cá bống khác như Neogobius melanostomus (84 –

Footer Page 23 of 89.

21


Header Page 24 of 89.

606 trứng/cá cái) (Macinnis and Corkum, 2000) Crystallogobius linearis
(300 – 700 trứng/cá cái) (Caputo et al., 2003), Gobius vittatus
(560 – 3045 trứng/cá cái) (Kovačić, 2007), và Periophthalmus papilio
(508 – 15,700 trứng/cá cái) (Lawson, 2011). Tuy nhiên, sức sinh sản
tuyệt đối của cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) thấp
hơn Parastromateus niger (71,305 – 3,895,449 trứng/cá cái) (Dadzie et
al., 2008). Cá bống kèo vảy nhỏ P. elongatus có sức sinh sản tuyệt đối

bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) có nhiều tiềm năng để

Footer Page 24 of 89.

22


Header Page 25 of 89.

phát triển thành đối tượng nuôi trong tương lai do chúng có giá trị kinh
tế và hệ số tăng trưởng cao.
Cá bống cát thuộc nhóm cá dữ với thành phần thức ăn chủ yếu là
cá nhỏ và giáp xác (86,8%). Trong khi đó, cá bống sao thuộc nhóm cá ăn
thực vật, thành phần thức ăn chính của chúng là khuê tảo (87,84%).
Cá bống cát tăng trưởng chiều dài nhanh hơn so với chiều rộng và
chiều cao, trong khi đó, cá bống sao thì tăng trưởng đồng đẳng. Cả 2 loài
đều thuộc nhóm cá tăng trưởng nhanh do chúng có hệ số tăng trưởng cao
mặc dù các thông số sinh trưởng của cá bống cát (L∞ = 300 mm;
K = 0,77/năm) cao hơn so với cá bống sao (L∞ = 160 mm;
K = 0,55/năm). Tuy nhiên, tuổi thọ của cá bống sao (tmax = 5,5 năm) lớn
hơn so với cá bống cát (tmax = 3,9 năm).
Nghiên cứu đặc điểm sinh sản cho thấy tỉ lệ đực:cái ở cá bống cát
và cá bống sao tương đương tỉ lệ chung của nhiều loài động vật thủy sinh
(1:1). Cá bống cát sinh sản kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 và tập trung
vào tháng 11, 12; trong khi đó, cá bống sao sinh sản quanh năm và tập
trung vào tháng 10, 11. Cá bống cát có sức sinh sản cao hơn cá bống sao.
Chiều dài thành thục đầu tiên (Lm) của hai loài gần bằng nhau dao động
từ 120-140 mm.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống cát và cá bống sao có
tiềm năng phát triển thành đối tượng nuôi ở vùng ven biển Bến Tre nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status