MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN .........................................................2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU .............................................................................................6
1.1 Lý do chọn đề tài ...................................................................................................6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..............................................................................................7
1.3 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................7
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................8
1.5 Kết cấu của khóa luận............................................................................................8
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ .............9
2.1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh. ..................9
2.1.1. Khái niệm cạnh tranh.....................................................................................9
2.1.2.Khái niệm năng lực cạnh tranh. ....................................................................10
2.1.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh. ............................13
2.2. Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. ..................14
2.2.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp ............................................................. 14
2.2.2. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ............................................................. 16
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG
LĨNH VỰC BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VẠN PHÚC
GIA ................................................................................................................................ 21
3.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ Phần Đầu Tư Vạn Phúc Gia ............................. 21
3.1.1 Thông tin chung ............................................................................................21
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển ...................................................................21
3.1.3 Nhiệm vụ, chức năng và định hướng phát triển của công ty ........................22
3.1.4. Giới thiệu cơ cấu tổ chức và nhân sự của doanh nghiệp ............................. 24
3.1.5. Các kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian gần
đây .........................................................................................................................25
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty .......................................................26
3.2.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty .......26
3.2.2. Xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh (Competitive Profile Matrix) ........33
đồng nghĩa nền kinh tế Việt nam mở cửa chuyển sang kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đặt lên hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp là hiệu quả
kinh tế. Có hiệu quả kinh tế mới có thể đứng vững trên thị trường, đủ sức cạnh tranh
với những doanh nghiệp khác, vừa có điều kiện tích lũy và mở rộng hoạt động kinh
doanh, vừa đảm bảo đời sống cho người lao động và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà
nước. Để làm được điều này điều cần thiết trước tiên là phải nắm bắt được những
thông tin kinh tế, chính trị, xã hội, nhất là thông tin kinh tế để kịp thời có những thay
đổi cho phù hợp với nền kinh tế mới.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa của xu thế thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phát triển vững mạnh. Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng xây
dựng đầy đủ nền kinh tế thị trường, trước nhu cầu phát triển đó thị trường bất động sản
ở Việt Nam ra đời cùng với sự phát triển ngày càng đầy đủ hơn các thị trường vốn, đáp
ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Doanh nghiệp BĐS là mô hình tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ
bản và BĐS, có tư cách pháp nhân, hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và tuân theo
những quy luật khách quan của thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khối doanh
nghiệp này là một bộ phận của doanh nghiệp Việt Nam, vì thế, trong quá trình hoạt
động sản xuất, kinh doanh chúng vừa tuân theo những đặc điểm, quy luật chung, vừa
có tính đặc thù riêng của lĩnh vực xây dựng, BĐS.
Việc tạo ra cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật để đáp ứng được nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội là một điều tất yếu, đi đôi với việc phát triển kinh tế cần chú trọng
tới phát triển các ngành phụ trợ một cách đồng bộ. Vì vậy, việc phát triển thị trường
bất động sản trong những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng. Bên cạnh sự phát
triển kinh tế nói chung thì thị trường BĐS Việt Nam được đánh giá là một thị trường
đầy tiềm năng và cơ hội. Nhiều nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài đang nhìn
thấy nhiều cơ hội đầu tư vào lĩnh vực này. Hiện nay, có rất nhiều dự án về BĐS lớn
đang thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Hàng loạt các khu đô thị mới,
siêu thị, khách sạn, trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê... được mọc lên ở các
thành phố lớn vừa đáp ứng các nhu cầu ăn ở và các dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống,
vừa tạo ra một diện mạo cảnh quan đô thị khang trang sạch đẹp.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Làm rõ các khái niệm và quan điểm về năng lực canh tranh của doanh nghiệp
và phân tích các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây tại các
công ty kinh doanh ngành bất động sản thời gian qua để chỉ rõ những điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội của các công ty.
- Đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại các công ty kinh
doanh ngành bất động sản
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng một số các phương pháp
như thống kê, so sánh, phân tích trên cơ sở tài liệu là:
- Phần lý thuyết: Tham khảo các tài liệu liên quan đề tài
7
- Phần dữ liệu: số liệu từ tổng cục thống kê, các báo cáo nghiên cứu thị trường
của công ty, báo cáo tài chính của một số công ty và báo cáo ngành bất động sản.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phương pháp chuyên gia là phương pháp
điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó.
Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện phỏng vấn các chuyên gia trong ngành bất
động sản nhằm mục tiêu xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh.
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: công ty kinh doanh ngành bất động sản, trong nghiên cứu này
người viết tập trung nghiên cứu tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Vạn Phúc Gia, Công Ty
CP Đầu Tư Nam Dương và Công Ty Cp Đầu Tư Tấn Hưng
- Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích: 2013 – 2015.
giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng
vẫn thu đựơc lợi nhuận.
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược,
cơ cấu thì cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà
chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao và mới lạ hơn để
khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh. [6, tr.118]
Theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát
sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật
những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường,
giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc
cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi
ích tiêu dùng và sự tiện lợi”.[5, tr. 74]
- Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì
định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là" Khả năng của nước đó đạt được những
thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các t lệ tăng trưởng
kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính
trên đầu người theo thời gian.
9
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các
điểm hội tụ chung sau đây:
Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có
chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần
thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là
thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng….
2.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
2.1.2.1.Khái niệm về năng lực cạnh tranh
khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang
tính chất định tính, khó có thể định lượng. Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với
năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử
dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước
đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc
thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra
năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu
nhập cao và phát triển bền vững”.
Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả
năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. [5, tr. 28]
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược,
cơ cấu nêu lên tầm quan trọng của việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của
doanh nghiệp, đây chính là năng lực cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp cố gắng đạt
được, là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình.[6, tr.
22]
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với
năng lực kinh doanh.
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu
thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế
cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính
tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh
nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.
2.1.2.2. Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực BĐS
Doanh nghiệp BĐS là mô hình tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ
bản và BĐS, có tư cách pháp nhân, hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và tuân theo
những quy luật khách quan của thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khối doanh
nghiệp này là một bộ phận của doanh nghiệp Việt Nam, vì thế, trong quá trình hoạt
động sản xuất, kinh doanh chúng vừa tuân theo những đặc điểm, quy luật chung, vừa
có tính đặc thù riêng của lĩnh vực xây dựng, BĐS.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bất động sản là điều tất yếu
khách quan trong quá trình hội nhập đặc biệt là tình trang khó khăn của thị trường bất
động sản hiện tại và tình hình suy giảm kinh tế hiện này, giúp DNBĐS trụ vững và
phát triển trong những năm tới, từ đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh của cả nền
kinh tế.
Mặt khác, trong điều kiện hiện tại của thị trường, nếu không nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình, doanh nghiệp sẽ có thể sẽ thua lỗ, đóng cửa và phá sản. Để đánh
giá năng lực cạnh tranh của một DNBĐS, trước hết các DNBĐS cần phải xác định
được các yếu tố nội tại bên trong và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài tác động đến năng
lực cạnh tranh mình.
12
Các yếu tố nội tại chính yếu cần được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh
của một DNBĐS là:
- Chất lượng sản phẩm dịch vụ
- Sự đa dạng của dịch vụ cung cấp
2.1.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách
quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn
13
được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng
như hiện nay. Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị trường ngày càng xuất hiện
nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ,
quản lý và có sức mạnh thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là
một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp
pháp trên thương trường.
Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện ngay, việc
nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và
quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Bởi lẽ suy cho cùng, mục đích cuối
cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận,
khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như là một chiến
lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành
mục tiêu của doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho
doanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia.
2.2. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu
tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau. Theo mô hình Kim cương của M. Porter có
thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), các ngành cung ứng
và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhà nước. Để nâng
2.2.1.3. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh
nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện
cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát
triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính
xác. Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của
doanh nghiệp như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng
cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng, nghiên cứu
thị trường, hạn chế hiện đại hoá hệ thống tổ chức quản lý ... Trong thực tế không có
doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các mặt trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, điều quan trọng nhất là doanh nghiệp có kế hoạch
huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn.
2.2.1.4. Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc
tế
Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu
quan trong môi trường kinh doanh. Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên
kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh. Khả năng
liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh
mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kết
quả và đạt hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đặt ra. Khả năng liên kết và hợp tác
cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hội
kinh doanh trên thương trường. Nếu doanh nghiệp không thể hoặc ít có khả năng liên
15
minh hợp tác với các đối tác khác thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh và nếu cơ hội
đó được đối thủ cạnh tranh nắm được thì nó sẽ trở thành nguy cơ với doanh nghiệp.
2.2.1.5. Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến
chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài
chính.
Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về tiêu
dùng, về công nghệ thông tin…
16
Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các nhà
cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo,
mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ
kiện máy móc.
Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai
phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà
sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền).
Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chia thành
các nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, các ngành hỗ trợ…
2.2.2.1. Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không
nhất thiết phải theo một cách nhất định. Phân tích môi trường vĩ mô sẽ giúp doanh
nghiệp trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp đang trực diện với những gì? Nhằm giúp doanh
nghiệp có những quyết định phù hợp. Hay nói cách khác, mục đích của việc nghiên
cứu môi trường vĩ mô là nhằm phát triển một danh mục có giới hạn những cơ hội
mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cũng như các mối đe dọa của môi trường mà doanh
nghiệp cần phải né tránh. Các yếu tố môi trường vĩ mô gồm có:
Các yếu tố môi trường kinh tế
Đây là nhóm các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến thách thức và ràng buộc,
nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác các cơ hội đối với doanh nghiệp. Các yếu tố
kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp bao gồm: t lệ tăng trưởng của
nền kinh tế, lãi suất, t suất hối đoái và t lệ lạm phát.
Các yếu tố môi trường công nghệ
phải phân tích các triết lý, chính sách mới của nhà nước như: chính sách thuế, luật
cạnh tranh, luật lao động, chính sách tín dụng, luật bảo vệ môi trường…
Các yếu tố môi trường địa lý tự – nhiên
Các yếu tố địa lý tự nhiên có ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp. Các
hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên của con người đã làm thay đổi và khan hiếm
nguồn tài nguyên. Do vậy, hoạt động của doanh nghiệp cần chú trọng đến việc bảo vệ
môi trường, không làm ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, lãng phí tài nguyên.
2.2.2.2. Môi trường ngành
Các yếu tố môi trường ngành tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất và hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích các yếu tố môi trường này giúp doanh
nghiệp xác định được vị thế cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Từ đó, đưa ra những chiến lược hợp lý nâng cao sức cạnh tranh cho chính bản thân
doanh nghiệp.
18
(Nguồn [1], tr. 48)
Hình 1.3 Mô hình 5 tác lực cạnh tranh của Michael Porter
Tình hình cạnh tranh ở một ngành nghề tuỳ thuộc vào năm lực lượng cạnh tranh
cơ bản (theo hình 1.3). Sức mạnh của năm lực lượng này có thể thay đổi theo thời gian
khi các điều kiện ngành thay đổi, mỗi tác động của chúng đến doanh nghiệp sẽ khác
nhau và quyết định mức độ gay gắt trong cạnh tranh. Do vậy, phân tích sự tác động
của chúng, sẽ xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong bức tranh toàn ngành
mà doanh nghiệp tham gia hoạt động.
Mỗi yếu tố từ sơ đồ trên có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh
doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vả được phân tích theo quy trình như
sau:
a. Nguy cơ xâm nhập từ các đối thủ tiềm năng
Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ thuộc vào các rào cản xâm nhập thể hiện
để có chất lượng phục vụ tốt hơn. Chính điều này làm cho các đối thủ chống lại nhau,
dẫn tới làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành. Áp lực từ khách hàng xuất phát từ các
điều kiện sau:
- Khi số lượng người mua là nhỏ.
- Khi người mua mua một lượng lớn sản phẩm và tập trung.
- Khi người mua chiếm một t trọng lớn trong sản lượng của người bán.
- Các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản.
- Khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau.
- Sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất lượng sản phẩm của người
mua.
- Khách hàng có đầy đủ thông tin.
e. Áp lực của nhà cung ứng
Nhà cung ứng có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá
hay giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng. Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép
lợi nhuận của một ngành khi ngành đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng lên
trong giá thành sản xuất.
Những điều kiện làm tăng áp lực từ nhà cung ứng có xu hướng ngược với các
điều kiện làm tăng quyền lực của người mua. Áp lực từ nhà cung ứng sẽ tăng lên nếu :
- Chỉ có một số ít các nhà cung ứng.
- Khi sản phẩm thay thế không có sẵn.
- Khi sản phẩm của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt
động của khách hàng.
- Khi sản phẩm của nhà cung ứng có tính khác biệt và được đánh giá cao bởi
các đối thủ của người mua.
- Khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng.
- Khi các nhà cung ứng đe dọa hội nhập về phía trước.
20
việc không ngừng lớn mạnh và trở thành một trong những Công ty có uy tín trong lĩnh
vực đầu tư bất động sản.
Về lĩnh vực đầu tư bất động sản: Hiện nay Công ty đang đầu tư vào các dự án
bất động sản tại TP.Hồ Chí Minh với quy mô lớn như: Dự án Chung cư Trường Sa –
Bình Thạnh thuộc quần thể Khu dân cư Cù Lao Chà , phường 17, Bình Thạnh; Dự án
21
cụm Chung cư Trương Đình Hội 3, phường 16, Quận 8, TP.Hồ Chí Minh; Dự án
chung cư Thạnh Lộc Quận 12, TP.Hồ Chí Minh; Dự án Khu đô thị 80 ha Lê Minh
Xuân, Bình Chánh TP.Hồ Chí Minh.
Về lĩnh vực tư vấn đầu tư và thi công xây dựng: Vạn Phúc Gia đã thực hiện các
công trình có giá trị đầu tư lớn như: Tư vấn xây dựng Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Hải quân
phía Nam, Nhà khách Hải quân; Khu dân cư Trương Đình Hội 2 - quận 8; Khu dân cư
phường Trường Thọ - Q.Thủ Đức. Xây dựng Khu trung tâm phục vụ khu biệt thự sân
golf Hoa Việt và các biệt thự, nhà phố khắp các quận huyện của TP.Hồ Chí Minh……
Song song với việc kinh doanh, Vạn Phúc Gia còn chú trọng đến chiến lược
hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh với các đối tác trong và ngoài nước để cùng nhau
phát triển trong lĩnh vực đầu tư bất động sản. Hiện nay, Vạn Phúc Gia là đối tác chiến
lược của Công ty Phát triển Nhà Bình Thạnh, Công ty cổ phần Bất động sản Điện lực
Dầu khí Việt Nam, Công ty Dịch vụ Công Ích Quận 8, Liên hiệp hợp tác xã nhà ở của
TP.Hồ Chí Minh.
3.1.3 Nhiệm vụ, chức năng và định hướng phát triển của công ty
- Sàn giao dịch bất động sản:
+ Trực tiếp giới thiệu, tư vấn cho khách hàng hiểu rõ về dự án, sản phẩm môi giới của
Sàn để khách hàng có thể mua, bán, chuyển nhượng, thuê, cho thuê bất động sản theo
đúng quy định hiện hành của Pháp luật.
+ Tổ chức, thực hiện các loại dịch vụ: Kinh doanh, môi giới Bất động sản, tư vấm thủ
tục pháp lý, đánh giá hiện trạng và định giá trị bất động sản, tư vấn và hỗ trợ khách
cận.
Những năm đầu, từ năm 2005 đến năm 2008, khi Công ty bước vào kinh doanh
lĩnh vực bất động sản, nguồn vốn kinh doanh còn thiếu hụt, quan hệ đối tác có nguồn
quỹ đất còn bị hạn chế, Hội đồng quản trị và Ban điều hành Công ty xác định phát
triển hoạt động tư vấn thiết kế, lập dự án đầu tư xây lắp – xây dựng công trình trở
thành một trong những hoạt động mũi nhọn của Công ty trong kế hoạch ngắn hạn và
hỗ trợ cho các chiến lược dài hạn trong tương lai.
So với hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản thì mảng hoạt động tư vấn
thiết kế, lập dự án đầu tư và xây lắp – xây dựng công trình không hao tốn nhiều vớn
nhưng đủ mang lại hiệu quả duy trì hoạt động kinh doanh của Công ty, khẳng định
thương hiệu và đem lại các mối quan hệ với đối tác từ đó là bệ phóng để Công ty tiến
thêm một bức trong chiến lược dài hạn là đầu tư kinh doanh bất động sản.
Hiểu rõ được vai trò cũng như tầm quan trọng của hoạt động này, VPG luôn tập
trung công tác chuẩn bị đào tạo và phát triển tốt nguồn nhân lực cho hoạt động kinh
doanh tư vấn thiết kế, lập dự án đầu tư, xây lắp – xây dựng công trình. Đến thời điểm
hiện tại, dịch vụ mà VPG đang cung cấp cho khách hàng là:
- Các thủ tục pháp lý về bất động sản.
- Phương thức đầu tư, tạo lập, kinh doanh bất động sản.
- Tư vấn, hỗ trợ khách hàng về thủ tục vay tín dụng, ủy thác thanh toán... cho
các hợp đồng mua bán bất động sản.
- Tư vấn về giá bất động sản.
- Tư vấn về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.
- Tư vấn về các nội dung khác liên quan đến bất động sản.
Chiến lược của công ty đối với hoạt động xây lắp: Công ty từng bước phát triển
xây dựng theo hướng thực hiện các công trình xây dựng cao tầng từ nguồn việc là các
dự án mà công ty đầu tư, các dự án của các đối tác chiến lược.
Chiến lược của công ty đối với hoạt động Tư vấn thiết kế: Đây là hoạt động
Công ty đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong thời gian qua. Công ty sẽ tiếp tục chuyên
23
Trương Đình
Hội 3
Hệ thống
Công ty
con
Hệ thống
Công ty liên
doanh, liên
kết và
DTTC
Công ty
Cổ phần
đô thị
Gia Phú
Công ty Cổ
phần Điện
lực Dầu khí
Gia Định
Công ty Cổ
phần
CIDECO
BQLDA Chung
cư Thạnh Lộc
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC TÀI CHÍNH
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
NHÂN
SỰ
SÀN
GIAO
DỊCH
BẤT
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
XƯỞNG
THIẾT
KẾ
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC KỸ THUẬT
PHÒN
G TƯ
doanh thu xây dựng, kinh doanh đầu tư bất động sản năm 2014 tăng cao hơn năm 2013
từ 28.282.988.323 đồng năm 2013 lên 30.14.549.924 đồng năm 2014.
Bảng 3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh công ty Cổ phần Đầu tư Vạn Phúc Gia
Năm
Chỉ tiêu
2012
2013
Tỷ lệ (%)
2014
13/12
14/13
Doanh thu
69,803,325,378
32,112,024,762
33,893,672,245
46.00
105.5
Doanh thu thuần
42,450,144,855
48.51
163.89
15,792,371,918
3,364,991,864
5,998,279,302
21.31
178.26
Lãi vay
6,539,698,686
2,960,148,735
3,568,631,820
45.26
120.56
Lợi nhuận trước thuế
52.95
1884.65
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
8,920,100,459
1,446,153,145
3,367,212,288
16.21
232.84
Thuế thu nhập doanh nghiệp
2,099,931,633
395,581,591
1,448,965,871
18.84
366.29
Lợi nhuận sau thuế
Là công ty cổ phần, đại hội đồng cổ đông thường họp thường niên mỗi năm một
lần nhằm thông qua các chính sách quan trọng nhất của công ty: thông qua các báo cáo
26
hàng năm, thông qua mức cổ tức thanh toán hàng năm, quyết định chia, tách, sát nhập
hay chuyển đổi công ty… Dưới đại hội đồng cổ đông là hội đồng quản trị chịu trách
nhiệm trong việc đề ra các kế hoạch sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng năm cùng
với đó đứng ra tổ chức chỉ đạo và triển khai các kế hoạch. Bộ máy công ty các phòng
ban được bố trí theo chức năng, sản phẩm. Cơ cấu đó có ý nghĩa quan trọng đảm bảo
hiệu quả quản lý cao, ra quyết định nhanh chóng, đồng thời vừa phát huy năng lực
chuyên môn của các bộ phận chức năng vừa đảm bảo được quyền chỉ huy trong toàn
hệ thống. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ công nhân viên đồng thời là cổ đông của công ty
gắn quyền lợi và trách nhiệm của toàn thể nhân viên nên đã đoàn kết, năng động sáng
tạo, hăng hái thi đua trên mọi lĩnh vực vì lợi ích của công ty và cũng là lợi ích của bản
thân họ. Do đó hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hiệu quả hơn nhờ vậy mà
năng lực cạnh tranh được nâng lên.
Lãnh đạo công ty có chiến lược phát triển phấn đấu trở thành doanh nghiệp lớn
trong ngành xây dựng, phát triển mạnh và bền vững. Để biến mục tiêu đó thành hiện
thực ban lãnh đạo công ty đã vạch ra đường lối, chiến lược, kế hoạch hoạt động cho
từng thời kỳ cùng vói đó tổ chức, lãnh đạo, giám sát và kiểm tra các hoạt động của các
phòng, ban, đơn vị, đội, tổ để hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả
qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong giai đoạn mới thành lập nhưng công ty cũng gặp
không ít những khó khăn đó là do mới đi vào hoạt động trong những năm gần đây
cùng với đó là sự mở rộng quy mô hoạt động nên một số các quyết định đưa ra của hội
đồng quản trị còn dè dặt, e ngại thiếu quyết đoán. Phần nhỏ các chỉ huy trưởng, đội
trưởng còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý nên dẫn đến tình trạng thất thoát gây nên
tình trạng lãng phí làm tăng chi phí của doanh nghiệp.
Trong những năm tiếp theo, công ty tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực của mình
an toàn, chất lượng công ty đã đầu tư nhiều vốn mua sắm máy móc thiết bị như thiết bị
xe máy, thiết bị dụng cụ thi công. Không những thế hằng năm, công ty tiến hành bảo
dưỡng định kỳ nhằm đảm bảo cho máy hoạt động với hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên
cũng giống như tình trạng của đa số các doanh nghiệp Việt Nam, việc đầu tư đổi mới
công nghệ vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế và so với mức độ đầu
tư của các doanh nghiệp trên thế giới. Năng lực thiết bị, máy móc, công nghệ đã góp
phần làm tăng năng lực cạnh tranh và uy tín của công ty. Nhờ khoa học công nghệ mà
công ty đã nhập khẩu nhiều thiết bị hiện đại đảm bảo chất lượng thi công nhà ở, đô thị,
khu công nghiệp, cầu cống, đường sá… Việc áp dụng những tiến bộ khoa học công
nghệ trong việc thi công, quản lý vật tư, thiết bị, thực hiện các giao dịch được diễn ra
thuận lợi và giảm chi phí, thời gian giao dịch, tiết kiệm nguyên vật liệu, tránh tình
trạng thất thoát nguyên vật liệu.
Với năng lực hiện có về máy móc thiết bị công ty có khả năng tự chủ cả trong
việc đáp ứng nhu cầu xây dựng, đảm bảo công việc diễn ra liên tục, đáp ứng yêu cầu
cơ bản về máy móc thi công trong phần lớn các công trình.
Tuy nhiên, với
năng lực hiện có công ty chỉ có thể giành được ưu thế trong việc tham gia tranh thầu ở
những công trình có giá trị vừa và nhỏ ở thị trường trong nước. Khả năng của công ty
còn hạn chế nên chưa đủ tầm ở những công trình lớn hoặc tầm quốc tế.
Năng lực tài chính của công ty
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, để xây dựng nên chúng cần một lượng vốn dồi
dào, lớn mà thời gian thu hồi lại lâu, trong khi đơn vị thực hiện thi công không được
trả trước toàn bộ số tiền đã sản xuất ra sản phẩm đó mà vốn chỉ được cấp một phần
theo tiến độ, một phần kinh phí còn lại do nhà thầu tự ứng. Vì vậy, nguồn vốn kinh
doanh của các công ty xây dựng thường phải tương đối lớn mới có thể đáp ứng yêu
cầu vốn cho thi công trong suốt thời gian trước khi công trình được quyết toán. Do
vậy, năng lực tài chính góp phần nâng cao năng lực cạnh cạnh của công ty.
28