Header Page 1 of 148.
NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
KHÓA 2009
HÀ NỘI - năm 2014
Footer Page 1 of 148.
Header Page 2 of 148.
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG
Header Page 4 of 148.
Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.
Lý do lựa chọn đề tài
1
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4
3.
Lịch sử vấn đề
5
3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học
5
3.2 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ứng dụng giảng dạy
tiếng Hàn
18
1.1 Cơ sở lí luân chung về các phƣơng thức biểu hiện thời gian
trong ngôn ngữ
18
1.1.1 Nhận xét chung
18
1.1.2 Thời gian ngữ pháp
20
1.1.3 Vấn đề thời và thể trong tiếng Hàn và tiếng Việt
22
1.2 Các phạm trù ngữ pháp liên quan đến thời gian
27
1.2.1 Về phạm trù “thời”
27
1.2.2 Về phạm trù “thể”
29
2.2 Hình thái tố chỉ thời gian trong tiếng Hàn
42
2.2.1 Hình thái tố ở biểu thức kết thúc
42
2.2.2 Hình thái tố ở biểu thức liên kết câu
60
2.2.3 Hình thái tố ở biểu thức định từ
68
2.3 Các hình thái tố chỉ thể
73
2.3.1 Vấn đề các hình thái tố chỉ thể
73
2.3.2 Thể hoàn thành
75
2.3.3 Thể tiếp diễn
82
3.2.3 Về “đang”
84
3.2.4 Về “sẽ”
85
3.2.5 Nhận xét
87
3.3 Đối chiếu phƣơng thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt : Khảo sát trƣờng hợp
87
3.3.1 Sự khác biệt về đặc điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng
Việt liên quan đến khảo sát
87
3.3.2 Đối chiếu cách dịch thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai trong
tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại
Footer Page 5 of 148.
4.1 Giới hạn vấn đề khảo sát
112
4.2 Cơ sở lí thuyết của phân tích lỗi
113
4.3 Phân tích lỗi
116
4.3.1 Phân tích lỗi trên văn bản viết
116
4.3.2 Phân tích lỗi trên phiếu điều tra
116
4.4 Khái quát kết quả phân tích các nhóm lỗi
120
4.4.1 Nhóm lỗi do lƣợc bỏ hình thái tố thời gian
120
4.4.2 Nhóm lỗi do dùng thừa hình thái tố thời gian
144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Footer Page 6 of 148.
Header Page 7 of 148.
CÁC TỪ KHÓA CHÍNH
Biểu thức kết thúc câu
Biểu thức liên kết câu
Chỉ tố kết thúc câu
Chỉ tố liên kết câu
Hình thái tố
Thể
Thời
Tình thái
Thời tuyệt đối
Thời tƣơng đối
DANH SÁCH CÁC CHỈ TỐ TIẾNG HÀN CÓ PHIÊN ÂM
~었 / ʌt /
~었었 / ʌt ʌt /
~더 / tʌ /
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Ý nghĩa thời tƣơng lai trong ~겠 và ~ ㄹ 것
Trang 55
Bảng 3.1 Kết hợp của các hƣ từ đã, đang, sẽ trong tiếng Việt
Trang 82
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu: Chuyển từ “đã” tiếng Việt sang tiếng Hàn
Biểu: Chuyển từ “đang” tiếng Việt sang tiếng Hàn
Trang 92
Biểu: Chuyển từ “sẽ” tiếng Việt sang tiếng Hàn
Trang 94
Biểu: Chuyển từ “sắp” tiếng Việt sang tiếng Hàn
Trang 95
Biểu: Chuyển từ quá khứ tiếng Hàn sang “đã” tiếng Việt
Trang 97
Biểu: Chuyển từ hiện tại tiếng Hàn sang “đang” tiếng Việt
gian một cách rất tinh tế. Hiện tƣợng này bắt nguồn từ sự khác biệt trong tri nhận về
thời gian, từ đặc điểm tƣ duy và từ văn hoá giao tiếp của các dân tộc. Tiếng Hàn và
tiếng Việt là ví dụ điển hình minh hoạ cho nhận định trên.
Thực vậy điểm chung của hai ngôn ngữ này là đều áp dụng phƣơng thức biểu
thị thời gian theo sự phân chia truyền thống là quá khứ, hiện tại và tƣơng lai. Nhƣng
một trong những sự khác biệt nổi trội giữa chúng bắt nguồn từ đặc điểm loại hình
của chúng. Tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính tiêu biểu, trong khi đó
tiếng Việt là ví dụ điển hình của loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong tiếng Hàn, sự
hiện diện của các hình thái tố biểu hiện thời và thể, nhƣ ~ (으)ㄴ/ ~ 는/ ~ (으)ㄹ/
~었/~겠 /~ㄹ 것 là bắt buộc trong mọi trƣờng hợp. Đây là một quy tắc ngữ pháp chặt
chẽ, áp dụng đối với mọi trƣờng hợp sử dụng. Ngƣợc lại trong tiếng Việt các hƣ từ
biểu hiện thời gian nhƣ đã, đang, sẽ đƣợc sử dụng một cách linh hoạt, tuỳ thuộc.
Nói cách khác, các từ này có thể xuất hiện, hoặc vắng mặt trong phát ngôn. Sự tuỳ
thuộc này do nhiều yếu tố chi phối mà chúng tôi sẽ phân tích sâu trong luận án. Đây
là điểm khác biệt rất đáng chú ý dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng đối với việc dạy
Footer Page 9 of 148.
Header Page 10 of 148.
2
học tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ và dịch thuật. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa
có nghiên cứu đối chiếu nào mang tính hệ thống, nêu bật sự khác biệt giữa hai ngôn
ngữ Hàn-Việt trong cách biểu thị thời gian. Rõ ràng với mục đích phục vụ cho
giảng dạy và dịch thuật, nghiên cứu phƣơng tiện biểu thị thời gian trong tiếng Hàn
và tiếng Việt là một nhiệm vụ cấp thiết.
2) Xét trên phƣơng diện đối chiếu ngôn ngữ Hàn-Việt nói chung và vấn đề
ngƣời dân Việt Nam. Đầu tƣ của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục đƣợc mở rộng.
Theo số liệu thống kê của Cục xúc tiến thƣơng mại, hiện nay Hàn Quốc đang là
quốc gia dẫn đầu trong đầu về số lƣợng dự án đầu tƣ vào Việt Nam (với 3250 dự
án) và là quốc gia đứng thứ tƣ về tổng số vốn đầu tƣ. Việt Nam cũng là quốc gia
đứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) của Hàn
Quốc. Giao lƣu giữa nhân dân hai nƣớc Hàn-Việt cũng phát triển dƣới nhiều hình
thức đa dạng. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 12 năm 2012 thì có khoảng
100.000 ngƣời Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (tại thành phố
Hồ Chí Minh và lân cận là 85 nghìn ngƣời, tại Hà Nội và vùng ngoại vi khoảng 15
nghìn ngƣời). Ngƣợc lại, cũng có 120.468 ngƣời Việt Nam đang sinh sống và làm
việc tại Hàn Quốc. Tổng cục du lịch Hàn Quốc cũng cho biết, chỉ năm 2012 đã có
700.917 ngƣời Hàn Quốc đến du lịch ở Việt Nam và 32.141 ngƣời Việt Nam đến
thăm Hàn Quốc. Mỗi tuần có 182 chuyến bay qua lại giữa hai nƣớc, và Hàn Quốc là
quốc gia đứng thứ nhất về lƣợng khách du lịch đến thăm Việt Nam. Vì thế, số ngƣời
đã, đang học tiếng Hàn và số ngƣời mong muốn sẽ học tiếng Hàn để phục vụ cho
công việc, sinh hoạt, làm việc, sinh sống tăng lên nhanh chóng khiến cho các cơ sở
đào tạo tiếng Hàn quốc cũng phát triển rất nhanh. Bên cạnh các trƣờng đào tạo
chính quy, số các trung tâm ngoại ngữ lớn nhỏ tổ chức giảng dạy tiếng Hàn đã tăng
đến mức khó để đƣa ra đƣợc một thống kê chính xác.
Trong bối cảnh trên nhu cầu học tiếng Hàn là rất lớn nhƣng tất cả các học
viên đều khẳng định “tiếng Hàn rất khó”. Khó khăn của việc học ngoại ngữ này có
thể bắt nguồn từ nhiều lý do nhƣ sự khác biệt về văn hoá, lối sống, cách tƣ duy, và
môi trƣờng xã hội .v.v. Nhƣng theo chúng tôi, khó khăn đầu tiên và căn bản nhất
xuất phát từ sự khác biệt về đặc điểm loại hình ngôn ngữ. Thực vậy sinh viên nói
tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, đại diện tiêu biểu của loại hình ngôn ngữ đơn lập, khi tiếp
xúc với tiếng Hàn đại diện điển hình của loại hình ngôn ngữ chắp dính, phải đối mặt
với nhiều khó khăn do sự khác biệt ngôn ngữ gây ra.
Footer Page 11 of 148.
và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chỉ ra những tƣơng
đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
4) Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thể
động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sở phân tích lỗi sử dụng động từ
của sinh viên và đề xuất phƣơng pháp khắc phục.
Footer Page 12 of 148.
Header Page 13 of 148.
3.
5
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học
Theo đánh giá mới đây của Unesco, trên thế giới có 6800 ngôn ngữ. Chúng ta
đều biết trong đa số trƣờng hợp, những gì đƣợc biểu đạt ở ngôn ngữ này cũng có thể
đƣợc thể hiện ở các ngôn ngữ khác. Điều này có nghĩa các ngôn ngữ đều có những
năng lực phổ quát nhất định. Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ lại có những năng lực đặc thù
phản ảnh tính đặc trƣng của loại hình ngôn ngữ và đặc trƣng văn hóa của dân tộc sử
dụng nó.
Khi diễn đạt một nhận định về một sự tình bất kỳ, ngƣời nói cần sử dụng các
phƣơng tiện ngôn ngữ và tuân thủ các quy tắc ngữ pháp. Trong biểu đạt ý nghĩa thời
gian các phƣơng tiện đƣợc sử dụng gồm phƣơng tiện từ vựng (hệ thống các từ chỉ
thời gian) và phƣơng tiện ngữ pháp (thời, thể, tình thái ở vị từ,.v.v) hoặc các
phƣơng tiện ngữ nghĩa phái sinh1 hình thành. Phạm trù thời và thể đƣợc khẳng định
là những phạm trù ngữ pháp quan trọng của động từ trong các ngôn ngữ Châu Âu.
năm 1970, khi các nhà truyền giáo đến Hàn Quốc, mang theo các kết quả nghiên
cứu ngôn ngữ học lý thuyết của châu Âu.
Cho đến nay các nhà nghiên cứu thuộc hai xu hƣớng khởi nguồn này vẫn còn
nhiều ý kiến trái ngƣợc nhau do dựa vào cơ sở lý thuyết và áp dụng phƣơng pháp
tiếp cận khác nhau. Điều này chứng tỏ phạm trù “thời” trong tiếng Hàn là một phạm
trù phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu.
Những nghiên cứu sớm nhất về “thời” trong tiếng Hàn là của Choi Kwang Ok
(1908), và Chu Si Kyung (1910). Ngay từ đầu thế kỉ 20, các tác giả đã đặt ra những
vấn đề nghiên cứu tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác.
Cụ thể, Choi Kwang Ok (1908) cho rằng trong tiếng Hàn có sự tồn tại của thời
“quá khứ của quá khứ”. Chu Si Kyung (1910) chia thời gian thành ba “thời”: hiện
tại (lúc này), quá khứ (thời điểm đã qua) và tƣơng lai (thời điểm sẽ đến) đƣợc biểu
hiện bằng cả biểu thức liên kết (hình thái tố liên kết câu) và biểu thức kết thúc (hình
thái tố kết thúc câu). Trong nghiên cứu của mình, tác giả Chu Si Kyung đã dựa vào
tiêu chí thời điểm phát ngôn (lúc này/khi đó) để phân chia và mô tả ba thời nêu trên.
Tuy nhiên ông cũng thay đổi quan điểm về thời điểm của hành động, và cho rằng về
bản chất “thể” đã chứa đựng các yếu tố biểu hiện “thời”. Nhƣ vậy tác giả đã không
tách rời hai phạm trù “thời” và “thể”. Vì thế có thể coi nghiên cứu của ông là khởi
điểm cho xu hƣớng nhận thức “thời-thể” là một phạm trù phức hợp trong tiếng Hàn.
Ngoài ra, Chu Si Kyung cũng cho rằng hình thái tố ~ 겠 có giá trị biểu thị tƣơng lai,
và đây là giá trị nội tại của hình thái tố này, không phải nhờ đến các yếu tố khác
mới có. Một phát hiện nữa của tác giả là ông đã nhận thấy hình thái tố này là lƣỡng
thái, nó vừa biểu hiện “thời” vừa biểu hiện “thể”. Kết quả nghiên cứu của Chu Si
Kyung đã khẳng định xu hƣớng cho rằng một hình thái tố có thể có hơn một giá trị
nghĩa, cụ thể là ở ~ 겠.[100]
Sau Chu Si Kyung, vào những năm 1930, Park Seung Bin (1935) và Choi Hyun
Bae (1937) đã từng bƣớc cụ thể hoá phạm trù thời trong tiếng Hàn khi các tác giả
Footer Page 14 of 148.
“thời” là trọng tâm, ở thời kỳ này, các tác giả đã xem xét lại các hình thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và nhƣ các công trình nghiên cứu trƣớc đó công nhận hình
thái tố là đa trị, vì ngoài chức năng biểu đạt “thời” nó còn có giá trị biểu đạt “thể”
và “tình thái”. Nhìn tổng thể, giai đoạn sau 1970, các nghiên cứu về “thời” trong
tiếng Hàn đều tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất: xem xét lại quan điểm về “thời”,
Footer Page 15 of 148.
Header Page 16 of 148.
8
- Thứ hai: nhận diện lại các giá trị về “thể”,
- Thứ ba là xác định giá trị tình thái trong các cấu trúc câu, và các loại câu.
Từ đó hình thành ba nhóm nghiên cứu chính là:
- Nhóm 1: Theo quan điểm hình thái tố biểu thị thời hoặc thể, tình thái là những đơn
vị độc lập. Đây là các nghiên cứu chủ trƣơng áp dụng phƣơng pháp phân tích theo
các phạm trù ngữ pháp truyền thống.
- Nhóm 2: Cho rằng hình thái tố có thể có chức năng kép, vừa biểu hiện thời vừa
biểu hiện thể, nói cách khác, một hình thái tố đồng thời biểu hiện ý nghĩa thời” và ý
nghĩa “thể”. Đại diện tiêu biểu của xu hƣớng này là Nam Ki Sim.
-Khác với hai nhóm trên, nhóm 3 bảo vệ quan điểm một hình thái tố đồng thời có
thể biểu thị cả thời, thể và tình thái. Đại diện của xu hƣớng này là Kim Seok Tuk
(1974) và Seo Jeong Soo (1976).
Sau đây chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở tiếng Việt. Có thể dễ dàng tìm thấy
nhiều khuynh hƣớng khác nhau trong tiếp cận và nghiên cứu về vấn đề thời và thể.
Xét theo thời gian, có thể xác định các khuynh hƣớng sau.
Thứ nhất: những nghiên cứu về phạm trù thời gian trong tiếng Việt đƣợc thực
Thiêm (1989) .v.v. Đáng chú ý là công trình của Nguyễn Minh Thuyết chủ
trƣơng coi thời và thể là hai phạm trù ngữ pháp thực sự tồn tại trong tiếng Việt
và nghiên cứu của ông đã rất thuyết phục ở chỗ chứng minh đƣợc một cách rõ
ràng sự khu biệt giữa những bộ phận đối lập nhau (tƣơng lai/phi tƣơng lai, hoàn
thành/phi hoàn thành .v.v.) [39:9]
-
Thời là phạm trù độc lập hay là phạm trù gắn với phạm trù thể và tình thái ? Trả
lời câu hỏi này, Đinh Văn Đức (2001) cho rằng tiếng Việt có thời mà không có
thể. Ngƣợc lại các tác giả Cao Xuân Hạo (1998), Phan Thị Minh Thuý (2002),
nhận định rằng tiếng Việt không tồn tại thời và chỉ tồn tại thể.
-
Thời trong tiếng Việt đƣợc chia thành 1 thời, 2 thời hay 3 thời? Vấn đề này đƣợc
nêu trong các nghiên cứu của các tác giả Đào Thản (1979), Lê Quang Thiêm
(1989), Nguyễn Minh Thuyết (1995).
Cũng có nhiều ý kiến khác nhau thảo luận về giá trị ngữ pháp-ngữ nghĩa của các
từ đã, đang, sẽ chỉ thời gian trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Thành: các từ đã,
đang, sẽ, xong, hết, được, nổi, .v.v đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc ngữ
pháp tiếng Việt bởi chúng tạo nên những cấu trúc đối lập về thời gian của một hành
động [35:52]. Quan điểm của Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thị Quy (1995) rất
đáng chú ý khi các tác giả cho rằng các từ đã, đang, sẽ là vị từ trung tâm, vị từ tình
thái. Theo một số tác giả khác nhƣ Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban
(2000), các từ nêu trên là những từ chỉ thời, thể, ngoài ý nghĩa thời gian, chúng còn
biểu hiện thể tiếp diễn hoặc thể hoàn thành. Khác với những ý kiến trên có tác giả
cho rằng đây là những phó động từ với chức năng làm trợ từ cho các động, tính từ
trung tâm nhƣ Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban (2000); hoặc xếp
Các nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phục vụ cho mục đích
giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ trƣớc hết tập trung vào việc mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn. Có thể kể công trình của Kim Je Yeol (2001), (2003), (2004), một nghiên
cứu có nhiều đóng góp quan trọng. Tiếp theo là các nghiên cứu phân tích lỗi của
ngƣời học của một số tác giả nhƣ Lee Jeong Hee (2001, 2002, 2003), No Jae Un
(2001), Song Ji Yoen (2002), Han Jeong Hee (2003), Lee Hae Young (2003), Park
Son Hee (2004) , Kim Ho Jeong (2004), (2006) và của các nhà nghiên cứu ngoài
Footer Page 18 of 148.
Header Page 19 of 148.
11
Hàn Quốc, chuyên gia về lí luận giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ nhƣ
Morimoto Kachuhiko (2002), Song Bi Rak (2005).
Theo Kim Jea Joen (2003), cần phải thay đổi phƣơng pháp mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn nói chung và trình bày vấn đề biểu hiện thời gian của tiếng Hàn nói riêng
trong sách giáo khoa dạy tiếng Hàn cho ngƣời nƣớc ngoài. Cụ thể là thay vì áp đặt
ngay quan điểm coi những biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn là “một phạm trù ngữ
pháp” cần từng bƣớc nêu và giải quyết vấn đề. Điều này có nghĩa việc giảng dạy
các hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phải chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn một có nhiệm vụ cung cấp cho ngƣời học những khái niệm cơ bản liên
quan đến thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai đơn đƣợc biểu thị bởi các hình thái tố
tƣơng ứng. Giai đoạn hai nhằm mục tiêu phân tích những giới hạn cụ thể, những
ngoại lệ của từng trƣờng hợp sử dụng các hình thái tố đã trình bày ở giai đoạn một,
đồng thời hệ thống hoá cách dùng các hình thái tố, chỉ ra những trƣờng hợp ngoại
lệ, bất quy tắc. Có thể nói tác giả đã chỉ ra một cách chính xác những hạn chế trong
quá trình giảng dạy và đã đề xuất phƣơng pháp khắc phục những hạn chế đó một
lĩnh vực ứng dụng thành quả của ngôn ngữ học đối chiếu vào lí luận dạy học ngoại
ngữ đã có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một
ngoại ngữ. Tuy nhiên cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, chƣa có công trình
nghiên cứu đối chiếu Hàn-Việt nào đƣợc thực hiện, cũng chƣa có công trình nghiên
cứu nào về giáo học pháp ngoại ngữ tiếng Hàn ứng dụng kết quả của nghiên cứu đối
chiếu hai ngôn ngữ dành cho học viên Việt Nam. Vì thế chúng tôi dành chƣơng 4
của luận án này để thảo luận về những vấn đề giáo học pháp tiếng Hàn nhƣ một
ngoại ngữ, dựa trên các kết quả nghiên cứu đối chiếu đã đạt đƣợc. Chính từ góc độ
của nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng, cụ thể là nghiên cứu ngôn ngữ áp dụng vào
giảng dạy, ở luận án này chúng tôi không nghiên cứu riêng biệt một đối tƣợng cụ
thể là “thời”, “thể” hay “tình thái”. Thay cho những phạm trù riêng lẻ này chúng tôi
chọn “sự biểu hiện thời gian” trong tiếng Hàn. Sở dĩ có sự lựa chọn này vì khi giảng
dạy ngữ pháp ở trƣờng học, cần phải chỉ ra cho ngƣời học bản chất và ý nghĩa đặc
trƣng của mỗi hình thái tố biểu hiện thời gian của một ngôn ngữ thay vì chỉ mô tả ý
nghĩa ngữ pháp của chúng theo các phạm trù thời, thể nhƣ ở các nghiên cứu trƣớc đây.
4.
PHƢƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phƣơng pháp nghiên cứu chính đƣợc sử dụng trong luận án này là:
a. Phƣơng pháp miêu tả: áp dụng cho việc mô tả những biểu hiện thời gian trong
tiếng Hàn trên bình diện đặc trƣng hình thái, cấu trúc, và ý nghĩa.
Footer Page 20 of 148.
Header Page 21 of 148.
13
Footer Page 21 of 148.
Header Page 22 of 148.
14
Nhƣ chúng ta biết, phạm trù thời gian đƣợc biểu đạt bằng nhiều phƣơng tiện,
trong đó có phƣơng tiện từ vựng và ngữ pháp. Tuy nhiên tính thích đáng của một
nghiên cứu là tập trung làm sáng tỏ những điểm nổi trội, những nét đặc thù của một
ngôn ngữ. Thực tế cho thấy thời và thể động từ là một phƣơng tiện ngữ pháp biểu
hiện thời gian điển hình của tiếng Hàn, trong khi đó những vấn đề liên quan đến
phạm trù thời và thể vẫn đang đƣợc tiếp tục tranh luận trong giới Việt ngữ học. Do
vậy đề cập đến vấn đề phức tạp này sẽ là một thách thức lớn, nhƣng có thể tìm ra
đƣợc những điểm đáng chú ý trong hai ngôn ngữ. Mặt khác, các hình thái tố biểu thị
thời và thể động từ tiếng Hàn có cấu tạo và hoạt động vô cùng phức tạp, rất khác
biệt so với các hƣ từ chỉ thời gian của tiếng Việt. Đây là nguồn gốc của những khó
khăn trong dạy và học tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ. Vì vậy việc tập trung tìm hiểu
sâu một một phạm trù ngữ pháp điển hình của một ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta áp
dụng đƣợc các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy ngôn ngữ đó một cách hiệu quả.
Hơn nữa nếu xét đến lớp từ vựng chỉ thời gian (bây giờ, hôm nay, sau đó…) ta thấy
phƣơng tiện biểu hiện này đều tồn tại trong hai ngôn ngữ. Nhƣng kinh nghiệm
giảng dạy nhiều năm của chúng tôi cho thấy việc nhận diện ý nghĩa của lớp từ đó
không gây khó khăn lớn cho ngƣời học tiếng Hàn. Vì vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu
các phƣơng tiện ngữ pháp.
Đó là lý do vì sao một nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và đối
chiếu với tiếng Việt lại tập trung chủ yếu vào các phạm trù thời và thể.
Ngoài ra, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, cụ thể là cải
tiến nội dung ngữ pháp học đƣờng, nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện theo
Xây dựng đƣợc một khung lý thuyết tổng quan các xu hƣớng nghiên cứu chính
về biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh sự phân biệt giữa
thời gian vật chất và thời gian ngữ pháp
-
Mô tả sự hoạt động và nêu bật tính đặc thù của các phƣơng thức biểu hiện thời
gian trong tiếng Hàn, đặc biệt là thời và thể động từ.
-
Làm sáng tỏ sự tƣơng đồng và khác biệt trong chức năng, hoạt động của các
phƣơng tiện biểu hiện thời gian trong hai ngôn ngữ Hàn -Việt, đặc biệt là các
hình thái tố tiếng Hàn và các hƣ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt.
-
Cung cấp một bản tổng kết đầy đủ mang tính hệ thống, khái quát về giá trị ngữ
pháp - ngữ nghĩa của các hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và
những đơn vị tƣơng đƣơng trong tiếng Việt, đồng thời kiểm chứng những giá trị
đó qua các bản dịch song ngữ, có nghĩa là qua thực tế sử dụng ngôn ngữ.
-
Trên phƣơng diện lí luận dạy học, đây là công trình đầu tiên áp dụng kết quả
nghiên cứu đối chiếu để phân tích lỗi của học viên Việt Nam trong sử dụng các
Footer Page 23 of 148.
trong chức năng biểu đạt ý nghĩa thời gian. Sau đó, căn cứ vào sự khác biệt về đặc
điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng Việt chúng tôi tiến hành đối chiếu cách dịch
các thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai trong tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại.
Kết quả đối chiếu cho phép chúng tôi bƣớc đầu khái quát các trƣờng hợp dịch tƣơng
đƣơng giữa hai ngôn ngữ.
Footer Page 24 of 148.
Header Page 25 of 148.
17
Chƣơng 4: Những vấn đề dạy và học phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa thời gian
trong tiếng Hàn cho ngƣời Việt
Chƣơng này tập trung phân tích lỗi và khái quát các nhóm lỗi của sinh viên Việt
Nam học tiếng Hàn, chỉ ra các nguyên nhân và cơ chế mắc lỗi từ đó đề xuất phƣơng
pháp giảng dạy cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn có khai thác các
thành quả của nghiên cứu đối chiếu đã thực hiện ở chƣơng 3.
Footer Page 25 of 148.