Nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt - Pdf 13


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ THU HƢƠNG NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN
THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG
Mã số: 62 22 01 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS. TS VŨ VĂN ĐẠI
HÀ NỘI-năm 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
thống kê, kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng công bố trong bất
kì công trình nào khác .
15
16

NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN ÁN

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1 Cơ sở lí luân chung về các phƣơng thức biểu hiện thời gian
trong ngôn ngữ
1.1.1 Nhận xét chung
1.1.2 Thời gian ngữ pháp
1.1.3 Vấn đề thời và thể trong tiếng Hàn và tiếng Việt
1.2 Các phạm trù ngữ pháp liên quan đến thời gian
1.2.1 Về phạm trù “thời”
1.2.2 Về phạm trù “thể”
1.3 Vấn đề thời gian ngữ pháp trong tiếng Hàn và tiếng Việt
1.3.1 Thời gian ngữ pháp trong tiếng Hàn
1.3.2 Thời gian ngữ pháp trong tiếng Việt
1.4 Tiểu kết chƣơng 1
18

18
18
20
22
27
27
29
31
31
34

78
78

CHƢƠNG 3: ĐỐI CHIẾU PHƢƠNG THỨC DIỄN ĐẠT Ý
NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
3.1 Đặt vấn đề
3.2 Một số vấn đề về phƣơng thức biểu đạt thời gian trong tiếng Việt
3.2.1 “Đã”, “đang”, “sẽ” với phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa thời gian
trong tiếng Việt
3.2.2 Về “đã”
3.2.3 Về “đang”
3.2.4 Về “sẽ”
3.2.5 Nhận xét
3.3 Đối chiếu phƣơng thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt : Khảo sát trƣờng hợp
3.3.1 Sự khác biệt về đặc điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng
Việt liên quan đến khảo sát
3.3.2 Đối chiếu cách dịch thời quá khứ, hiện tại, tƣơng lai trong
tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại 79
79
80

80
82
84
85
87

4.4.3 Nhóm lỗi do dùng lẫn lộn các hình thái tố
4.4.4 Nhóm lỗi do đặc trƣng của tiếng Hàn
4.5 Đề xuất phƣơng pháp dạy và học phƣơng thức biểu thị thời
gian trong tiếng Hàn cho ngƣời Việt
4.5.1 Vấn đề nội dung giảng dạy
4.5.2 Vấn đề phƣơng pháp giảng dạy và đề xuất giáo án
4.6 Tiểu kết chƣơng 4
112
112
113
116
116
116
120
120
124
127
128

132
132
134
142

KẾT LUẬN CHUNG

144


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ý nghĩa thời tƣơng lai trong ~겠 và ~ ㄹ 것 Trang 55
Bảng 3.1 Kết hợp của các hƣ từ đã, đang, sẽ trong tiếng Việt Trang 82 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu: Chuyển từ “đã” tiếng Việt sang tiếng Hàn Trang 89
Biểu: Chuyển từ “đang” tiếng Việt sang tiếng Hàn Trang 92
Biểu: Chuyển từ “sẽ” tiếng Việt sang tiếng Hàn Trang 94
Biểu: Chuyển từ “sắp” tiếng Việt sang tiếng Hàn Trang 95
Biểu: Chuyển từ quá khứ tiếng Hàn sang “đã” tiếng Việt Trang 97
Biểu: Chuyển từ hiện tại tiếng Hàn sang “đang” tiếng Việt Trang 99
Biểu: Chuyển từ tƣơng lai tiếng Hàn sang “sẽ”, “sắp” tiếng Việt Trang 101
1
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1) Cùng với không gian làm trục hoành, thời gian làm trục tung trên tọa độ
trong đời sống của con ngƣời mọi ngôn ngữ đều có các phạm trù không gian, thời
gian và những phƣơng tiện biểu hiện tƣơng ứng. Đó có thể là phƣơng tiện từ vựng
hoặc phƣơng tiện ngữ pháp. Có thể nói ngôn ngữ nào cũng sử dụng một lớp từ vựng

biểu hiện thời gian trong đề tài của chúng tôi nói riêng, có thể nhận thấy những
điểm sau.
Trên phƣơng diện ngôn ngữ học ứng dụng, để nâng cao chất lƣợng và hiệu
quả giảng dạy và học tập, các nhà giáo học pháp ngoại ngữ cần phải dựa vào kết
quả của các công trình đối chiếu ngôn ngữ nhằm dự báo những khó khăn của ngƣời
học ở những nội dung, những hiện tƣợng ngữ pháp có sự khác biệt rất lớn giữa các
ngôn ngữ, để từ đó xác định những chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp, nhằm tạo thuận lợi
cho quá trình tiếp thu ngoại ngữ của ngƣời học nói chung và của sinh viên tiếng
Hàn nói riêng. Những công trình nghiên cứu ngôn ngữ đối chiếu hƣớng đến những
ứng dụng vào dạy và học ngoại ngữ nhƣ vậy là rất cần thiết.
3) Trƣớc xu hƣớng hợp tác quốc tế nói chung và giao lƣu giữa hai nƣớc Việt
Nam – Hàn Quốc nói riêng, nhu cầu học tập và nghiên cứu ngoại ngữ tiếng Hàn
đang tăngcao. Hơn bao giờ hết giảng viên và sinh viên cần đƣợc tham khảo những
công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng trong học tập và nghiên cứu tiếng Hàn.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có 11 trƣờng Đại học tổ chức đào tạo, giảng dạy ngôn ngữ
và văn hóa Hàn Quốc, ở Hàn quốc cũng có 5 trƣờng đại học thành lập khoa tiếng
Việt và tổ chức giảng dạy ngành Việt ngữ học. Những năm đầu, hàng năm, cả nƣớc
chỉ có 100 sinh viên ngành tiếng Hàn đƣợc tuyển vào hệ đào tạo chính quy thì giờ
đây, số lƣợng sinh viên chính quy mỗi năm đã tăng lên đến gần 1.000 ngƣời. Sinh
viên ngành tiếng Hàn ở các trƣờng đào tạo chính quy khi tốt nghiệp ra trƣờng đều
tìm đƣợc việc làm theo đúng chuyên môn đƣợc đào tạo. 3
“Hàn Quốc” và “tiếng Hàn Quốc” đã trở thành những cụm từ quen thuộc với
ngƣời dân Việt Nam. Đầu tƣ của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục đƣợc mở rộng.
Theo số liệu thống kê của Cục xúc tiến thƣơng mại, hiện nay Hàn Quốc đang là
quốc gia dẫn đầu trong đầu về số lƣợng dự án đầu tƣ vào Việt Nam (với 3250 dự
án) và là quốc gia đứng thứ tƣ về tổng số vốn đầu tƣ. Việt Nam cũng là quốc gia
đứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) của Hàn

phƣơng thức biểu hiện thời gian trong hai ngôn ngữ; từ đó nhấn mạnh các điểm cần
lƣu ý trong quá trình giảng dạy và học tập cũng nhƣ trong quá trình dịch thuật từ
tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại. Chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu
của luận án sẽ có những đóng góp đáng kể trên bình diện lý luận ngôn ngữ nói
chung và trên bình diện ứng dụng vào giảng dạy tiếng Hàn nói riêng.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án này là thông qua nghiên cứu theo hƣớng đối chiếu phƣơng
thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và Việt, góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của
phƣơng thức biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ đối chiếu trong chức năng phản
ánh đặc trƣng tƣ duy văn hóa dân tộc.
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ sau.
2.2 Nhiệm vụ của luận án
1) Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
2) Tổng quan tình hình nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt.
3) Tập trung khảo sát một trong những phƣơng thức biểu hiện thời gian là thời
và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chỉ ra những tƣơng
đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
4) Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thể
động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sở phân tích lỗi sử dụng động từ
của sinh viên và đề xuất phƣơng pháp khắc phục. 5
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học
Theo đánh giá mới đây của Unesco, trên thế giới có 6800 ngôn ngữ. Chúng ta
đều biết trong đa số trƣờng hợp, những gì đƣợc biểu đạt ở ngôn ngữ này cũng có thể
đƣợc thể hiện ở các ngôn ngữ khác. Điều này có nghĩa các ngôn ngữ đều có những

6
- Xu hƣớng thứ hai chịu ảnh hƣởng của ngôn ngữ học phƣơng Tây, bắt đầu từ sau
năm 1970, khi các nhà truyền giáo đến Hàn Quốc, mang theo các kết quả nghiên
cứu ngôn ngữ học lý thuyết của châu Âu.
Cho đến nay các nhà nghiên cứu thuộc hai xu hƣớng khởi nguồn này vẫn còn
nhiều ý kiến trái ngƣợc nhau do dựa vào cơ sở lý thuyết và áp dụng phƣơng pháp
tiếp cận khác nhau. Điều này chứng tỏ phạm trù “thời” trong tiếng Hàn là một phạm
trù phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu.
Những nghiên cứu sớm nhất về “thời” trong tiếng Hàn là của Choi Kwang Ok
(1908), và Chu Si Kyung (1910). Ngay từ đầu thế kỉ 20, các tác giả đã đặt ra những
vấn đề nghiên cứu tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác.
Cụ thể, Choi Kwang Ok (1908) cho rằng trong tiếng Hàn có sự tồn tại của thời
“quá khứ của quá khứ”. Chu Si Kyung (1910) chia thời gian thành ba “thời”: hiện
tại (lúc này), quá khứ (thời điểm đã qua) và tƣơng lai (thời điểm sẽ đến) đƣợc biểu
hiện bằng cả biểu thức liên kết (hình thái tố liên kết câu) và biểu thức kết thúc (hình
thái tố kết thúc câu). Trong nghiên cứu của mình, tác giả Chu Si Kyung đã dựa vào
tiêu chí thời điểm phát ngôn (lúc này/khi đó) để phân chia và mô tả ba thời nêu trên.
Tuy nhiên ông cũng thay đổi quan điểm về thời điểm của hành động, và cho rằng về
bản chất “thể” đã chứa đựng các yếu tố biểu hiện “thời”. Nhƣ vậy tác giả đã không
tách rời hai phạm trù “thời” và “thể”. Vì thế có thể coi nghiên cứu của ông là khởi
điểm cho xu hƣớng nhận thức “thời-thể” là một phạm trù phức hợp trong tiếng Hàn.
Ngoài ra, Chu Si Kyung cũng cho rằng hình thái tố ~ 겠 có giá trị biểu thị tƣơng lai,
và đây là giá trị nội tại của hình thái tố này, không phải nhờ đến các yếu tố khác
mới có. Một phát hiện nữa của tác giả là ông đã nhận thấy hình thái tố này là lƣỡng
thái, nó vừa biểu hiện “thời” vừa biểu hiện “thể”. Kết quả nghiên cứu của Chu Si
Kyung đã khẳng định xu hƣớng cho rằng một hình thái tố có thể có hơn một giá trị
nghĩa, cụ thể là ở ~ 겠.[100]
Sau Chu Si Kyung, vào những năm 1930, Park Seung Bin (1935) và Choi Hyun
Bae (1937) đã từng bƣớc cụ thể hoá phạm trù thời trong tiếng Hàn khi các tác giả

8
- Thứ hai: nhận diện lại các giá trị về “thể”,
- Thứ ba là xác định giá trị tình thái trong các cấu trúc câu, và các loại câu.
Từ đó hình thành ba nhóm nghiên cứu chính là:
- Nhóm 1: Theo quan điểm hình thái tố biểu thị thời hoặc thể, tình thái là những đơn
vị độc lập. Đây là các nghiên cứu chủ trƣơng áp dụng phƣơng pháp phân tích theo
các phạm trù ngữ pháp truyền thống.
- Nhóm 2: Cho rằng hình thái tố có thể có chức năng kép, vừa biểu hiện thời vừa
biểu hiện thể, nói cách khác, một hình thái tố đồng thời biểu hiện ý nghĩa thời” và ý
nghĩa “thể”. Đại diện tiêu biểu của xu hƣớng này là Nam Ki Sim.
-Khác với hai nhóm trên, nhóm 3 bảo vệ quan điểm một hình thái tố đồng thời có
thể biểu thị cả thời, thể và tình thái. Đại diện của xu hƣớng này là Kim Seok Tuk
(1974) và Seo Jeong Soo (1976).
Sau đây chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở tiếng Việt. Có thể dễ dàng tìm thấy
nhiều khuynh hƣớng khác nhau trong tiếp cận và nghiên cứu về vấn đề thời và thể.
Xét theo thời gian, có thể xác định các khuynh hƣớng sau.
Thứ nhất: những nghiên cứu về phạm trù thời gian trong tiếng Việt đƣợc thực
hiện ở giai đoạn trƣớc những năm 1960 chịu ảnh hƣởng của ngôn ngữ học Châu Âu.
Các nghiên cứu này đƣợc chia thành hai khuynh hƣớng rõ rệt là:
- Khuynh hƣớng mô phỏng ngữ pháp nhà trƣờng: lấy ngữ pháp tiếng Pháp làm
chuẩn và tìm kiếm những sự tƣơng ứng trong biểu hiện ý nghĩa thời và thể trong
tiếng Việt. Tiêu biểu là các nghiên cứu của Trƣơng Vĩnh Kí (1883), Bùi Đức
Tịnh (1952) [39:2]
- Khuynh hƣớng phủ nhận phạm trù thời thể trong tiếng Việt cho rằng các biểu
hiện về thời trong tiếng Việt là sử dụng các trạng từ chỉ thời gian làm túc từ.
Thứ hai: giai đoạn sau những năm 1960, các nhà Việt ngữ học đã bắt đầu có
những nghiên cứu không mô phỏng hoặc chịu ảnh hƣởng của ngôn ngữ học châu

10
Dƣơng Hữu Biên (2007) còn nêu ra vấn đề về sự tƣơng tác giữa thể ngữ pháp và thể
từ vựng. Tác giả này thậm chí còn cho rằng cần nghiên cứu chi tiết hơn, sâu hơn sự
khu biệt của tính thể theo một phối cảnh xuyên ngôn ngữ. Nhƣ vậy vấn đề “thể”
ngày càng đƣợc nhìn nhận là một vấn đề thực sự phức tạp.
Sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận với quan niệm tƣ duy về thời gian của con
ngƣời gắn chặt với tƣ duy về sự chuyển động của không gian, haynói cách khác,
nghĩa thời gian xuất phát từ nguồn nghĩa không gian, đã có ảnh hƣởng đến các
nghiên cứu gần đây về thời và thể. Áp dụng phƣơng pháp tiếp cận của ngôn ngữ học
tri nhận, các tác giả Nguyễn Đức Dân (1996), Lí Toàn Thắng (2002) .v.v đã nghiên
cứu một cách có hệ thống những vấn đề ngữ pháp học thuần tuý cũng nhƣ những
vấn đề thuộc ngoại vi ngôn ngữ.
Một nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Trang Phan (2013) dƣới góc nhìn của
ngữ pháp tạo sinh cho rằng một số nghĩa ngữ pháp của các phạm trù thời, thể, tình
thái .v.v là đặc tính của các cấu hình cú pháp nào đó chứ không phải là đặc tính bản
thân các mục từ từ vựng biểu đạt. Khảo sát cấu trúc cú pháp đa tầng của tiếng Việt,
nghiên cứu của Trang Phan (2013) đã chỉ ra rằng trong tiếng Việt sẽ có chức năng
đánh dấu thời ngôn ngữ (Tense Phrase), đang, đã có chức năng ngoại thể ngữ (outer
Aspect Phrase). Nhƣ vậy bản chất ngữ pháp của các từ đã, đang, sẽ với ý nghĩa biểu
hiện thời gian vẫn còn đƣợc giới Việt ngữ học tiếp tục thảo luận. Chúng tôi sẽ đi
sâu tìm hiểu vấn đề này ở chƣơng 3 của luận án này.
3.2. Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ứng dụng giảng dạy tiếng Hàn
Các nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phục vụ cho mục đích
giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ trƣớc hết tập trung vào việc mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn. Có thể kể công trình của Kim Je Yeol (2001), (2003), (2004), một nghiên
cứu có nhiều đóng góp quan trọng. Tiếp theo là các nghiên cứu phân tích lỗi của
ngƣời học của một số tác giả nhƣ Lee Jeong Hee (2001, 2002, 2003), No Jae Un
(2001), Song Ji Yoen (2002), Han Jeong Hee (2003), Lee Hae Young (2003), Park

ngƣời Nhật Bản mà tiếng mẹ đẻ thuộc cùng loại hình ngôn ngữ với tiếng Hàn Quốc
lại có tỉ lệ mắc lỗi cao hơn so với ngƣời học mà tiếng mẹ đẻ của họ thuộc loại hình
ngôn ngữ khác. Lee Hae Young (2003) tập trung nghiên cứu lỗi của học viên Trung 12
Quốc qua nguồn dữ liệu là văn bản viết và cả lời thoại ghi âm. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, khác với học viên Nhật Bản, học viên Trung Quốc mà tiếng mẹ đẻ thuộc
loại hình ngôn ngữ đơn lập, gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn và sử dụng
chính xác các hình thái tố biểu hiện thời gian trong các câu ghép tiếng Hàn. Ngoài
ra là các công trình nghiên cứu của một số giáo sƣ ở các trƣờng đại học ngoài Hàn
Quốc nhƣ Nhật Bản, Mông Cổ, Trung Quốc.v.v đã cố gắng lý giải những lỗi sai mà
học viên nƣớc đó mắc phải dƣới lăng kính của ngôn ngữ học đối chiếu.
Dù còn ít ỏi nhƣng phải công nhận rằng những thành quả nghiên cứu trong
lĩnh vực ứng dụng thành quả của ngôn ngữ học đối chiếu vào lí luận dạy học ngoại
ngữ đã có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc giảng dạy tiếng Hàn nhƣ một
ngoại ngữ. Tuy nhiên cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, chƣa có công trình
nghiên cứu đối chiếu Hàn-Việt nào đƣợc thực hiện, cũng chƣa có công trình nghiên
cứu nào về giáo học pháp ngoại ngữ tiếng Hàn ứng dụng kết quả của nghiên cứu đối
chiếu hai ngôn ngữ dành cho học viên Việt Nam. Vì thế chúng tôi dành chƣơng 4
của luận án này để thảo luận về những vấn đề giáo học pháp tiếng Hàn nhƣ một
ngoại ngữ, dựa trên các kết quả nghiên cứu đối chiếu đã đạt đƣợc. Chính từ góc độ
của nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng, cụ thể là nghiên cứu ngôn ngữ áp dụng vào
giảng dạy, ở luận án này chúng tôi không nghiên cứu riêng biệt một đối tƣợng cụ
thể là “thời”, “thể” hay “tình thái”. Thay cho những phạm trù riêng lẻ này chúng tôi
chọn “sự biểu hiện thời gian” trong tiếng Hàn. Sở dĩ có sự lựa chọn này vì khi giảng
dạy ngữ pháp ở trƣờng học, cần phải chỉ ra cho ngƣời học bản chất và ý nghĩa đặc
trƣng của mỗi hình thái tố biểu hiện thời gian của một ngôn ngữ thay vì chỉ mô tả ý
nghĩa ngữ pháp của chúng theo các phạm trù thời, thể nhƣ ở các nghiên cứu trƣớc đây.
4. PHƢƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU

tất cả các vấn đề liên quan. Chính vì vậy, trong công trình này chúng tôi chỉ tập
trung vào vấn đề thời và thể trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt. Sự giới hạn
này xuất phát từ những lý do sau. 14
Nhƣ chúng ta biết, phạm trù thời gian đƣợc biểu đạt bằng nhiều phƣơng tiện,
trong đó có phƣơng tiện từ vựng và ngữ pháp. Tuy nhiên tính thích đáng của một
nghiên cứu là tập trung làm sáng tỏ những điểm nổi trội, những nét đặc thù của một
ngôn ngữ. Thực tế cho thấy thời và thể động từ là một phƣơng tiện ngữ pháp biểu
hiện thời gian điển hình của tiếng Hàn, trong khi đó những vấn đề liên quan đến
phạm trù thời và thể vẫn đang đƣợc tiếp tục tranh luận trong giới Việt ngữ học. Do
vậy đề cập đến vấn đề phức tạp này sẽ là một thách thức lớn, nhƣng có thể tìm ra
đƣợc những điểm đáng chú ý trong hai ngôn ngữ. Mặt khác, các hình thái tố biểu thị
thời và thể động từ tiếng Hàn có cấu tạo và hoạt động vô cùng phức tạp, rất khác
biệt so với các hƣ từ chỉ thời gian của tiếng Việt. Đây là nguồn gốc của những khó
khăn trong dạy và học tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ. Vì vậy việc tập trung tìm hiểu
sâu một một phạm trù ngữ pháp điển hình của một ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta áp
dụng đƣợc các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy ngôn ngữ đó một cách hiệu quả.
Hơn nữa nếu xét đến lớp từ vựng chỉ thời gian (bây giờ, hôm nay, sau đó…) ta thấy
phƣơng tiện biểu hiện này đều tồn tại trong hai ngôn ngữ. Nhƣng kinh nghiệm
giảng dạy nhiều năm của chúng tôi cho thấy việc nhận diện ý nghĩa của lớp từ đó
không gây khó khăn lớn cho ngƣời học tiếng Hàn. Vì vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu
các phƣơng tiện ngữ pháp.
Đó là lý do vì sao một nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và đối
chiếu với tiếng Việt lại tập trung chủ yếu vào các phạm trù thời và thể.
Ngoài ra, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, cụ thể là cải
tiến nội dung ngữ pháp học đƣờng, nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện theo
đƣờng hƣớng ngôn ngữ học tri nhận, loại trừ các yếu tố khả biến nhƣ ngữ dụng, ngữ
cảnh mà chỉ xem xét các giá trị ổn định là cú pháp và ngữ nghĩa.

pháp - ngữ nghĩa của các hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và
những đơn vị tƣơng đƣơng trong tiếng Việt, đồng thời kiểm chứng những giá trị
đó qua các bản dịch song ngữ, có nghĩa là qua thực tế sử dụng ngôn ngữ.
- Trên phƣơng diện lí luận dạy học, đây là công trình đầu tiên áp dụng kết quả
nghiên cứu đối chiếu để phân tích lỗi của học viên Việt Nam trong sử dụng các 16
phƣơng tiện biểu hiện thời gian tiếng Hàn. Trên cơ sở phân tích, khái quát hóa
các nhóm lỗi một cách hệ thống, và chỉ ra phƣơng pháp khắc phục, luận án đã đề
xuất một chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp với đối tƣợng sinh viên chuyên ngữ.

7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 171 trang, trong đó có 148 trang chính văn, 21 trang phụ lục và
danh mục tham khảo. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chƣơng.
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của luận án
Trong chƣơng này chúng tôi đề cập đến những vấn đề có tính lí luận căn bản về
phƣơng thức biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ, cụ thể là vấn đề thời gian ngữ
pháp. Liên quan đến phƣơng tiện ngữ pháp biểu hiện thời gian chúng tôi tiến hành
xem xét lại vấn đề phạm trù “thời” và phạm trù “thể” trong ngôn ngữ nói chung và
trong hai ngôn ngữ Hàn- Việt nói riêng.
Chƣơng 2: Phƣơng thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn
Trong giới hạn đối tƣợng nghiên cứu, chƣơng này tập trung trình bày các hình
thái tố ngữ pháp chỉ thời gian trong tiếng Hàn dƣới các biểu thức kết thúc câu, biểu
thức liên kết câu và biểu thức định từ đồng thời đề cập đến các vấn đề về hình thái
tố chỉ thể trong tiếng Hàn.
Chƣơng 3: Đối chiếu phƣơng thức diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn và
tiếng Việt
Ở chƣơng này kế thừa thành quả nghiên cứu về Việt ngữ học của các tác giả đi
trƣớc chúng tôi nêu ra một số vấn đề chung trong phƣơng thức diễn đạt ý nghĩa thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status