Thơ dân tộc thiểu số miền núi phía bắc từ 1986 đến nay dưới góc nhìn văn hóa tt - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

K

NGUYỄN THỊ THU THỦY

THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC
TỪ 1986 ĐẾN NAY DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số

: 62 22 01 21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ VĂN GIÁ

Phản biện 1: GS.TS. VŨ TUẤN ANH
Phản biện 2: PGS.TS. TRƢƠNG ĐĂNG DUNG
Phản biện 3: PGS.TS. ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội

5. Nguyễn Thị Thu Thủy (2016), “Tinh thần Tày trong sáng tác thơ Y

Phương”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, Học viện Khoa học xã hội, số 07,
2016, tr.121-128. .
6. Nguyễn Thị Thu Thủy (2017), “Khuynh hướng vượt gộp v n h a qua hệ

thống từ láy trong sáng tác của một số nhà thơ dân tộc Tày từ sau n m 1986”,
tạp chí Khoa học, số 44, Trường ĐHSP Hà Nội II
7. Nguyễn Thị Thu Thủy (2017), “Bi u tượng Suối từ v n h a truyền

thống đến thơ Thái hiện đại vùng Tây Bắc”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam,
số 4, 2017.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thơ dân tộc thi u số (DTTS) là một bộ phận của nền v n học Việt Nam
mà tính độc đáo của n chính là sự kết tinh v n h a các tộc người. Khu vực
miền núi phía Bắc là nơi xuất hiện nhiều nhà thơ c cá tính sáng tạo và th hiện
bản sắc v n h a tộc người đặc sắc, đặc biệt là giai đoạn từ 1986 đến nay. Đã c
một số công tr nh nghiên cứu quan tâm đến nhiều phương diện khác nhau về
thơ dân tộc thi u số miền núi phía Bắc từ n m 1986 đến nay, nhưng hướng
nghiên cứu đi từ cội nguồn v n h a đ cắt nghĩa, lý giải bộ phận thơ này còn bỏ
ngỏ nhiều vấn đề. V thế, đây là một đề tài cần được tri n khai nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Thứ nhất, đi sâu vào t m hi u cội nguồn v n h a các tộc người chi phối, tác
động đến việc lựa chọn và sáng tạo trong thơ của các nhà thơ DTTS khu vực
này từ n m 1986 đến nay.
Thứ hai, nhận diện và phân tích những kết tinh v n hóa trong thơ DTTS
miền núi phía Bắc Việt Nam từ 1986 đến nay.

sinh vẻ đẹp khác biệt, độc đáo được tạo nên nhờ cảm quan v n h a tộc người
được các nhà thơ “tái sinh” trong những sáng tạo nghệ thuật của m nh trên các
b nh diện như giá trị v n h a, bi u tượng v n h a, ngôn từ nghệ thuật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án g p phần vào khuynh hướng nghiên cứu v n học dưới g c nh n
v n h a, g p phần vào nghiên cứu thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến
nay.
Luận án sẽ g p phần vào việc bảo tồn và phát tri n những tinh hoa v n h a
tộc người thông qua nghiên cứu thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận án được sắp xếp thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Một số giá trị v n h a cơ bản trong thơ DTTS miền núi phía
Bắc từ 1986 đến nay
Chương 3: Một số bi u tượng v n h a nổi bật trong thơ DTTS miền núi
phía Bắc từ 1986 đến nay
Chương 4: Ngôn từ nghệ thuật trong thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986
đến nay dưới g c nh n v n h a.

2


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc
1.1.1. Những công trình nghiên cứu văn học dƣới góc nhìn văn hóa
Trên thế giới, nghiên cứu mối quan hệ giữa v n học và v n h a đã được
các nhà khoa học quan tâm như trường phái V n h a – lịch sư và triết học thực
chứng do H. Tain đứng đầu xuất hiện vào thế kỷ XIX. Sang thế kỷ kỷ XX, E.


1.1.2. Những công trình nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
từ 1986 đến nay dƣới góc nhìn văn hóa
Dày công nghiên cứu về v n học dân tộc thi u số Việt Nam phải k đến
nhà nghiên cứu phê b nh v n học Lâm Tiến. Công tr nh Văn học các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại của ông được coi là “công tr nh đầu tiên cố gắng
phác một cái nh n khái quát toàn diện về toàn bộ nền v n học các dân tộc thi u
số Việt Nam hiện đại” (Nguyên Ngọc). Trong cuốn sách này, Lâm Tiến cho
rằng đi m riêng biệt trong nghiên cứu bộ phận v n học này là phải đi từ nền
tảng v n h a đa dạng, phong phú của từng tộc ngƣời đ lý giải sự độc đáo của
nó. Công trình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại - một số đặc
điểm (Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo đồng chủ biên, Nxb Đại học Thái
Nguyên, 2011) nghiên cứu t m hi u các đặc đi m về nội dung và nghệ thuật
theo th loại. Riêng th loại thơ, các tác giả khái quát hai đặc đi m chính về nội
dung và nghệ thuật. V nghiên cứu đặc đi m thơ DTTS hiện đại cùng với các
th loại khác nên các tác giả mới chỉ khái quát đặc đi m chung, chưa đi vào đặc
đi m cụ th của từng giai đoạn phát tri n và cũng chưa khu biệt đặc đi m riêng
của thơ DTTS theo khu vực, vùng miền, nhất là chưa đi sâu vào t m hi u v n
học dưới g c nh n v n h a.
Về v n học DTTS, Tạp chí văn học c một số bài viết đề cập đến một số
vấn đề của bộ phận v n học này. Ngoài ra, gần đây c một số hội thảo khoa
học của các trường đại học và các đề tài nghiên cứu, luận v n, luận án cũng
xuất hiện khá nhiều th hiện sự quan tâm của các nhà khoa học đối với v n học
DTTS.
Một hướng đi đáng chú ý nữa tuy nghiên cứu v n học dân gian và v n học
kháng chiến của các DTTS nhưng c những gợi ý quan trọng cho luận án này là
nghiên cứu sự khác biệt v n học dựa trên không gian v n h a. Tiêu bi u cho
hướng đi này là tác giả Hà V n Thư với cuốn phê b nh ti u luận Về văn hóa văn
nghệ các dân tộc thiểu số (Nxb V n h a dân tộc, Hà Nội, 1996) và nhà nghiên
cứu v n học dân gian DTTS Võ Quang Nhơn với việc phân định sự khác biệt

hiện đại như phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt, sự tiếp thu những thành
tựu của v n học dân gian… Tuy nhiên, việc cắt nghĩa, lý giải những đặc đi m
từ chiều sâu vô thức tập th trong v n h a từng sắc tộc như tâm lý, tính cách…
chưa rõ nét và hệ thống.
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài
Những công tr nh nghiên cứu v n học dưới g c nh n v n h a ở nước ngoài và
ở trong nước đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa v n học và v n h a. Chúng
tôi coi đây là khung lý thuyết cho công tr nh nghiên cứu của m nh.
Các công tr nh nghiên cứu về v n học DTTS hiện đại n i chung và thơ n i
riêng nêu ở trên đã chỉ ra một số đặc đi m về nội dung cũng như về nghệ thuật
của bộ phận v n học này, tiếp cận một số tác giả cụ th và bước đầu khẳng định
bản sắc dân tộc độc đáo của thơ trong quá tr nh vận động và phát tri n của n .
Tuy nhiên, nghiên cứu thơ DTTS dưới g c nh n v n h a cần xuất phát từ chiều
sâu v n h a tộc người đ chỉ ra sự độc đáo trong sáng tác của họ. Phương pháp
nghiên cứu v n học dưới g c nh n v n h a rất phù hợp với thơ DTTS miền núi
phía Bắc từ 1986 nhưng thực tế mới chỉ được vận dụng ở một mức độ nhất định
chứ chưa thành hệ thống.V thế, nghiên cứu thơ DTTS miền núi phía Bắc từ
1986 đến nay dưới g c nh n v n h a là một đề tài nghiên cứu mới, c ý nghĩa
khoa học và thực tiễn.
5


1.3. Xác định những vấn đề đƣợc nghiên cứu trong luận án
Thứ nhất, luận án đi vào nghiên cứu những giá trị v n h a được lựa chọn
và kết tinh trong thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay.
Thứ hai, luận án đi vào nghiên cứu một số bi u tượng nổi bật trong thơ
DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay trên tinh thần cắt nghĩa từ tâm thức
v n h a tộc người.
Thứ ba, luận án đi vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ DTTS miền núi phía Bắc
từ 1986 đến nay dưới g c nh n v n h a như là những ký hiệu v n h a đ thấy

động hơn so với v n h a vùng Tây Bắc.
Vùng Tây Bắc bao gồm: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa B nh, phía bắc
và phía Tây của tỉnh Lào Cai, Yên Bái. V n h a Thái đ ng vai trò là v n h a
chủ đạo trong vùng. Do môi trường sống tương đối biệt lập nên sự tiếp nhận và
giao lưu v n h a bị hạn chế. V thế, v n h a vùng Tây Bắc mang tính chất tĩnh,
ít biến đổi hơn so với v n h a vùng Đông Bắc.
Sự khác biệt dẫn tới sự đa dạng v n h a của vùng đất đa dân tộc không chỉ
ở những thành tố v n h a vật th như trang phục, kiến trúc, ẩm thực…mà còn
trong những thành tố v n h a phi vật th như cách thức tổ chức đời sống gia
đ nh, quan niệm về cuộc sống…Dân tộc Tày với nền v n h a linh hoạt, cởi mở,
nghiêng về chiều sâu lý tính. Điều này khác với tộc người Thái với nền v n h a
khép kín, c khuynh hướng thiên về tính trữ t nh. Dân tộc Giáy với sự tiếp nhận
cả v n h a Tày và v n h a Thái cộng với v n h a gốc của m nh tạo thành một
thực th v n h a độc đáo. Người Mường với tính thực tế và quan niệm thẩm mỹ
chuộng vẻ đẹp phảng phất mang tính tiềm tàng…Tất cả tạo nên những sắc màu
v n h a đa dạng cho khu vực miền núi phía Bắc.

7


2.2. Giá trị văn hóa và giá trị văn hóa trong văn học
Giá trị v n h a chính là những ứng xử của con người theo một chuẩn mực
nào đ được vừa sàng lọc vừa bảo tồn qua nhiều thế hệ. V n học là một bộ phận
của v n h a nên đương nhiên chịu sự chi phối trực tiếp của v n h a. Tuy nhiên,
v n học chỉ lựa chọn và kết tinh những giá trị v n h a bằng phương thức riêng
của n . Lựa chọn và kết tinh là một quá tr nh c tính liên tục, xảy ra đồng thời,
luôn đi liền với nhau. V n học là nhân học nên v n học phải hướng tới tính
người. Một tác phẩm v n học c giá trị phải là một tác phẩm giúp con người
hoàn thiện và phát tri n cao hơn. Muốn như vậy, trước hết tác phẩm cần tiếp
thu giá trị v n h a v giá trị v n h a chính là tinh hoa v n h a được lắng đọng


sôi nổi của thơ Tày giai đoạn đầu đổi mới nhưng càng về sau này, bản sắc Tày
c vẻ nhạt đi trong sáng tác của các nhà thơ trẻ. Thơ Thái khá đậm đà bản sắc
tộc người nhưng số lượng tác giả và chất lượng tác phẩm nổi bật không nhiều.
Sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại vẫn là những vấn đề cần thiết hiện nay
đang đặt ra cho thơ DTTS khu vực miền núi phía Bắc n i riêng và cả nước n i
chung.
2.3.2. Lòng yêu thƣơng con ngƣời nhƣ một giá trị nhân văn phổ quát
Nhân v n là tinh thần cốt lõi của giá trị v n h a. V n học Việt Nam từ sau
n m 1986 được đổi mới trên nhiều phương diện, trong đ c sự đổi mới về
quan niệm con người. Thơ DTTS khu vực miền núi phía Bắc song hành cùng
với sự đổi mới v n học nhưng thành tựu chủ yếu vẫn là tái hiện con người trên
cảm quan v n h a sắc tộc đ tạo nên sự độc đáo. Lòng yêu thương con người
trong thơ DTTS được th hiện qua sự ca ngợi vẻ đẹp con người, đồng cảm và
thấu hi u những bất hạnh, khổ đau trong cuộc sống…nhưng mỗi một tộc người
lại được bi u hiện khác nhau và mỗi nhà thơ bằng tài n ng, cá tính sáng tạo lại
đem đến cho người đọc những phát hiện khác nhau về con người.
V n h a Tày với tinh thần cởi mở trên một nghị lực và bản lĩnh v n h a
vững vàng đề cao vẻ đẹp khỏe khoắn về th chất, tâm hồn con người được các
nhà thơ hiện đại th hiện rất mới lạ, độc đáo. Cơ sở của tinh thần, bản lĩnh Tày
là thái độ luôn lạc quan, yêu đời, biết vượt lên trên hoàn cảnh kh kh n, bất lợi
đ vươn lên, tạo nên một hồn thơ Y Phương luôn nh n cuộc sống với nụ cười
h m hỉnh, tràn trề t nh yêu cuộc sống, là thái độ tự tin rất Tày của con người
trong thơ Dương Thuấn, là h nh tượng những người phụ nữ Tày vượt lên nỗi
đau khổ, bất hạnh của cuộc sống một cách cam đảm như thơ Hoàng Chiến
Thắng…H nh tượng con người trong thơ Tày hiện đại được th hiện qua cảm
quan v n h a mà các nhà thơ đã kế thừa từ trong truyền thống v n h a của tộc
người m nh.
Nền v n h a khép kín, âm tính thường đi kèm với đặc đi m trọng t nh. Thơ
Thái từ sau 1986 tiếp tục mạch nguồn của v n h a Thái với những nét độc đáo

đẫm v n h a Tày th hiện một t nh yêu da diết dù sống xa quê. Nhà thơ Dương
Thuấn với những cảm xúc tự hào, yêu quý về vùng đất, con người mà anh gọi
“xứ Mây”. Dù sống ở vùng đất khác nhưng h nh ảnh quê hương vẫn luôn hiện
hữu trong tâm thức nhà thơ. Luôn thao thức tr n trở trong nỗi nhớ của người xa
quê, Mai Liễu đặt quê hương trong những hồi ức, hoài niệm về mẹ, về tuổi
thơ...
Với các nhà thơ dân tộc Thái, t nh yêu quê hương th hiện ở tinh thần
hướng nội th hiện suy tư những nét đẹp của v n h a tộc người, ở thiên nhiên
dữ dội mà thơ mộng vùng Tây Bắc. Thơ Lò Cao Nhum đã khám phá những nét
đẹp v n h a ẩn sâu trong nghệ thuật múa xòe độc đáo, lý giải sức mạnh đ phát
tri n của dân tộc m nh chính là t nh người sâu đậm, sự gắn kết của cả cộng
đồng bi u trưng qua vòng xòe.
T nh yêu quê hương trong thơ DTTS miền núi phía Bắc được các nhà thơ
bày tỏ qua sự tái hiện những nét độc đáo của phong tục tập quán, các lễ tết hội
hè và nghệ thuật truyền thống…trong cấu trúc các thành tố v n h a tộc người
được tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi nhà thơ thuộc tộc người khác
nhau đều yêu quý và tự hào về di sản v n h a mà cha ông đ lại. Họ đem đến
cho thơ DTTS những sắc màu v n h a đa dạng và phong phú, th hiện t nh yêu
tha thiết đối với mảnh đát phía Bắc của Tổ Quốc.
10


Tiểu kết
Bao trùm lên giá trị v n h a của các tộc người khu vực miền núi phía Bắc
là lòng yêu tha thiết, tự hào về con người và quê hương miền núi. Sau n m
1986, với sự đổi thay trên nhiều lĩnh vực của đất nước, trong đ c cả sự hội
nhập sâu rộng về v n h a, ý thức tộc người đã được các nhà thơ DTTS coi là
đòn bẩy cho bộ phận thơ này cất cánh, sánh cùng với thơ cả nước. Mỗi tộc
người với nền v n h a cội nguồn khác nhau đã c những cách ứng xử khác
nhau trên nền những chuẩn mực chung, tạo nên sự đa dạng trong bộ phận thơ

Nhà v n, nhà thơ c th c ý thức hoặc c th do sự chi phối của vô thức sẽ lấy
trong kho bi u tượng v n h a của tộc người m nh những bi u tượng phù hợp và
sáng tạo thêm ý nghĩa theo cảm hứng sáng tác nghệ thuật. V thế, chỉ c một số
bi u tượng v n h a đi vào tác phẩm v n học.
Thơ DTTS khu vực miền núi phía Bắc từ n m 1986 đến nay đã ghi lại khá
nhiều thành công với những tên tuổi như Lò Ngân Sủn, Lò Cao Nhum, Dương
Thuấn, Y Phương, Mai Liễu… Tuy nhiên, đ khảo sát về hệ thống bi u tượng
chung của nhiều nhà thơ gắn kết trong một không gian v n h a, chúng tôi cố
gắng tuân thủ một số tiêu chí:
Thứ nhất, khảo sát những bi u tượng xuất hiện với tần số lớn trong các
sáng tác của họ.
Thứ hai, những bi u tượng khảo sát đặt trong mối quan hệ với đặc trưng
v n h a khu vực, được kế thừa, phát tri n và sáng tạo từ v n học dân gian qua
các thế hệ nhà thơ DTTS nhiều giai đoạn phát tri n khác nhau ở khu vực này.
Thứ ba, qua hệ thống bi u tượng này chỉ ra sự khác biệt trong sáng tạo của
các nhà thơ DTTS miền núi phía Bắc từ sau n m 1986 với thơ của dân tộc
Kinh, thơ của các nhà thơ DTTS ở khu vực khác trong nước, đồng thời thấy
được sự kế thừa, phát tri n của thơ DTTS ở khu vực này từ sau n m 1986 đến
12


nay so với thơ DTTS thuộc về thế hệ trước (k cả v n học dân gian) bằng
phương pháp so sánh.
3.2. Biểu tƣợng thuộc về môi trƣờng tự nhiên
3.2.1. Biểu tƣợng suối
3.2.1.1. Suối - cội nguồn dân tộc
V n h a tộc người là kết quả của quá tr nh ứng xử của con người với môi
trường tự nhiên. Bi u tượng v n h a h nh thành trong quá tr nh tương tác này.
Từ một h nh ảnh gắn b với môi trường sinh tồn, các nhà thơ đã lấy suối như
một bi u tượng nguồn cội tượng trưng cho vẻ đẹp quê hương miền núi, những



Liễu bền bỉ, âm thầm dâng hiến trong sáng tạo nghệ thuật th trong thơ Lò Ngân
Sủn lại là quan niệm về sự th hiện t nh cảm cuồng nhiệt, say đắm đến hết m nh
đậm v n h a Giáy…Tất cả tạo nên sự phong phú mà độc đáo của bi u tượng
này trong thơ DTTS miền núi phía Bắc từ n m 1986 đến nay.
3.2.1.3. Suối - vẻ đẹp của ngƣời phụ nữ miền núi, tình yêu đôi lứa
Trong v n h a của người Việt Nam n i chung và của các DTTS n i riêng,
suối mang tính chất âm tính. Kế thừa v n học dân gian DTTS với quan niệm
thẩm mĩ độc đáo. Bi u tượng suối đi vào trong thơ Thái hiện đại với những
cung bậc cảm xúc phong phú trong t nh yêu. Tâm hồn Thái giàu chất trữ t nh
cất lên những bài ca về t nh yêu đôi lứa kế thừa những bản t nh ca nổi tiếng của
dân tộc này. Bi u tượng suối được khai thác bi u đạt vẻ đẹp trong một mối t nh
nên thơ, mang cái nh n tinh tế và lãng mạn. Đ là một sự khám phá độc đáo
mang cảm quan v n h a tạo nên những khúc tình ca trữ t nh sâu lắng mà da diết
mà các nhà thơ Thái đã tiếp thu đ từ tinh hoa v n h a dân tộc m nh tiếp tục cất
lên trong cuộc sống hiện đại.
Qua con mắt của các nhà thơ dân tộc Tày, Giáy, Cao Lan...suối là vẻ đẹp
trong trẻo, tự nhiên, phồn thực của người phụ nữ. Mang vẻ đẹp mềm mại, bền
bỉ và trong lành nên suối đã được các nhà thơ DTTS khai thác tượng trưng cho
vẻ đẹp của người phụ nữ miền núi và t nh yêu đôi lứa. Con người ứng xử với
thiên nhiên đ tạo ra v n h a và h nh ảnh thiên nhiên đ trở thành bi u tượng
v n h a trong đời sống tinh thần của họ.
3.2.2. Biểu tƣợng đá
3.2.2.1. Đá - quê hƣơng
Khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Đông Bắc c địa h nh núi
cao, thung sâu, hi m trở, lắm đèo, nhiều sông suối… Từ ngàn đời nay, các cư
dân nơi đây đã gắn b với những núi đá cao ngất trời nổi tiếng như cao nguyên
đá Đồng V n (Hà Giang) và trong tâm thức của họ, h nh ảnh đá đã đi vào đời
sống như một bi u tượng về v n hoá.

quan niệm về cái đẹp con người cũng khác so với các vùng khác. V n h a Tày
với đặc đi m nổi bật là là tính mở với tính cách ưa vận động, ưa di chuy n nên
trong quan niệm thẩm mỹ của họ đặc biệt đề cao h nh ảnh bàn chân. Thơ Tày
đã khai thác bi u tượng này tạo nên một vẻ đẹp độc đáo về h nh tượng con
người, đặc biệt là người phụ nữ th hiện một quan niêm coi trọng sự khỏe
khoắn, dẻo dai trong v n h a của tộc người này. Ngoài bi u tượng cho vẻ đẹp
th chất con người, bàn chân còn mang ý nghĩa là trở về nguồn cội khi con
người c nhiều cơ hội bước ra ngoài thế giới rộng lớn nhưng ý thức về truyền
thống trong việc nâng đỡ con người phát tri n luôn thường trực trong tâm trí họ.
3.3.1.2. Biểu tƣợng nụ cƣời - quan niệm về vẻ đẹp tính cách, tinh thần
Thơ DTTS khu vực miền núi phía Bắc khá thành công trong việc khắc họa
tính cách, tâm lý của đồng bào các dân tộc thi u số nơi đây. Một tâm hồn hồn
hậu, ph ng khoáng, niềm nở và chân thành đã được các nhà thơ DTTS khu vực
miền núi phía Bắc kết tinh trong bi u tượng nụ cười. Nụ cười không chỉ là vẻ
đẹp bên ngoài mà còn mang vẻ đẹp tinh thần, vẻ đẹp của thái độ lạc quan, yêu
đời trong cuộc sống dù còn nhiều vất vả, kh kh n như thơ Dương Thuấn, Lò
Cao Nhum... Người phụ nữ trong thơ DTTS miền núi phía Bắc tràn trề sinh lực
sống được miêu tả tài t nh qua tiếng cười trong sáng tác của Y Phương, Lò
Ngân Sủn, Lò Cao Nhum... Thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay đã
khai thác nét đẹp v n h a này qua bi u tượng nụ cười và giọng thơ h m hỉnh
khi khắc họa chân dung tinh thần của họ. Các nhà thơ đã mang đến cho bạn đọc
15


cả nước một diện mạo tinh thần tươi tắn, dễ mến, khả n ng hòa đồng cao nhưng
cũng đầy nghị lực sống của những con người vùng núi cao phía Bắc của Tổ
quốc.
3.3.2. Biểu tƣợng thuộc về đời sống sinh hoạt
3.3.2.1. Biểu tƣợng bếp lửa – không gian sinh hoạt gia đình
Với đồng bào các dân tộc thi u số từ xa xưa, bếp lửa đ ng một vai trò

dạng. Điều đáng chú ý là sự nổi trội và mang nhiều ý nghĩa độc đáo của bi u
16


tượng trong thơ DTTS hiện đại vùng Tây Bắc và Đông Bắc, giữa nhà thơ thuộc
tộc người này này với tộc người kia, giữa các cá tính sáng tạo riêng... Điều này
c cội nguồn từ truyền thống v n h a đã được chảy tràn sang thơ hiện đại với
nhiều sự khai phá mới mẻ trong việc lựa chọn bi u tượng v n học.
Chƣơng 4
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI PHÍA BẮC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
4.1. Vấn đề ngôn ngữ trong sáng tác của thơ DTTS khu vực miền núi phía
Bắc từ năm 1986 đến nay dƣới góc nhìn văn hóa
Thơ DTTS được sáng tác bằng hai ngôn ngữ: Thơ sáng tác bằng tiếng Việt
và thơ sáng tác bằng tiếng dân tộc. Trước n m 1986, các nhà thơ thường sáng
tác nghiêng về tiếng dân tộc nhưng từ n m 1986 đến nay, ta thấy xu hướng
chung của bộ phận thơ này nghiêng về sáng tác bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Lý
giải vấn đề này ở g c độ v n h a, có th thấy nhiều sự bất lợi trong sử dụng
tiếng dân tộc đ sáng tác và tiếp nhận, trong khi đ , tiếng Việt c nhiều ưu thế
hơn khi trở thành ngôn ngữ phổ thông ở khu vực miền núi. Sáng tác bằng ngôn
ngữ tiếng Việt cũng là một cách đ thơ DTTS tiếp cận với xu thế phát tri n hiện
đại, hội nhập cùng với thơ trong cả nước.
Ngôn ngữ được coi là thành quả lớn nhất của một nền v n h a. Vai trò của
nhà thơ đối với việc giữ g n v n h a thông qua ngôn ngữ dân tộc rất quan trọng.
Vậy các nhà thơ đã lưu giữ ngôn ngữ dân tộc – tinh hoa của nền v n h a bằng
cách nào đ th hiện bản sắc v n h a tộc người? Qua khảo sát, chúng tôi nhận
thấy họ sử dụng hai cách như sau:
Thứ nhất, họ sử dụng đan xen một số từ vựng của dân tộc m nh cùng với
tiếng Việt.

thơ DTTS chuộng dùng loại từ này đ bi u đạt.
Trong số các nhà thơ DTTS miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay, thơ Tày
hiện đại nổi trội hơn với những sáng tạo bằng việc sử dụng từ láy c trong vốn
từ vựng dân tộc m nh vào v n bản tiếng Việt. Với nhiều cách thức sáng tạo
khác nhau như giữ nguyên từ láy tiếng dân tộc trong v n bản thơ tiếng Việt,
thay đổi một số bộ phận trong âm tiết cho phù hợp với cơ chế láy của Tiếng
Việt, kết hợp cả tiếng dân tộc và tiếng Việt nhằm mục đích tạo sự cộng hưởng
của cả hai ngôn ngữ…các nhà thơ Tày hiện đại đã tạo riêng cho m nh một hệ
thống từ láy rất độc đáo và hiệu quả. C th đây là một phương thức đ họ đưa
bản sắc v n h a của tộc người m nh đến với tộc người khác, truyền thống mà
vẫn bi u đạt những nội dung, tinh thần hiện đại. Điều này một lần nữa chứng
minh cho tinh thần Tày ở phương diện sáng tạo cách thức sử dụng ngôn từ nằm
trong chiều sâu v n h a đã được các nhà thơ th hiện, đem lại sự độc đáo trong
thơ của họ.
4.3. Khai thác văn liệu, thi liệu văn học, văn hóa dân gian
4.3.1. Thành ngữ, tục ngữ và cụm từ cố định
Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, thơ DTTS thường mượn ý đ tri n khai tứ của
bài thơ. Phương thức này thường được các nhà thơ khu vực vùng Tây Bắc vận
dụng nhằm th hiện bản sắc v n h a trong sáng tạo nghệ thuật.
18


V n h a Thái với xu hướng bảo tồn đã lý giải hiện tượng các nhà thơ hiện
đại Thái sử dụng dày đặc thành ngữ, tục ngữ và cụm từ cố định trong những tác
phẩm của họ. Việc sử dụng này không phải là sự lặp lại mà trên nền tảng ý
nghĩa từ di sản v n học dân gian, họ đã mở rộng vào những vấn đề của cuộc
sống hiện đại. Khai thác thành ngữ, tục ngữ và cụm từ cố định của dân tộc
m nh, Bùi Thị Tuyết Mai đã đ lại dấu ấn trong lòng người đọc chất Mường
trong sáng tác của chị. Cũng như nhà thơ dân tộc Thái Lò Cao Nhum, chị là
người sử dụng tục ngữ, thành ngữ chuy n h a vào trong thơ ca một cách nhuần

19


miền núi và cảm xúc mạnh mẽ, cuống nhiệt về t nh yêu đôi lứa. Các nhà thơ
hiện đại vùng Tây Bắc chuộng lối so sánh đậm tính trực cảm, cụ th mang dấu
ấn v n h a tộc người trong việc lựa chọn cái được so sánh. Các nhà thơ vùng
Đông Bắc, đặc biệt là thơ Tày ưa lối so sánh c sự tham gia của lý trí.
Đặc đi m chung về thủ pháp này trong thơ DTTS miền núi phía Bắc là tính
hồn nhiên nguyên thủy khi đặt hai sự vật, hiện tượng đ so sánh với nhau. Tính
trực cảm rõ nét khiến thơ họ tự nhiên, đầy tính trẻ thơ với những liên tưởng bất
ngờ nhưng khá dễ. Điều này tạo nên sự khác biệt khi so sánh với thơ Ch m và
thơ Kinh hiện đại.
Tuy nhiên, phép so sánh cũng bộc lộ hạn chế của thơ DTTS miền núi phía
Bắc khi quá đề cao tính trực cảm khi sử dụng phương thức này. Việc lựa chọn
một số h nh ảnh được so sánh chưa tinh làm mất đi sự gợi cảm vốn là đặc tính
của thơ và làm những câu/ bài thơ trở lên rườm rà, dư thừa.
4.4.2. Ẩn dụ
Ẩn dụ là một trong số thủ pháp nghệ thuật truyền thống nằm trong lối diễn
đạt của đồng bào DTTS khu vực miền núi phía Bắc. Với tư duy cụ th , ưa lối
n i ví von, hàm ẩn, ẩn dụ truyền thống của họ thường đơn nghĩa, c th suy
luận trực tiếp, thường đi cùng với thủ pháp điệp với mục đích nhấn mạnh. Thơ
DTTS khu vực miền núi phía Bắc từ 1986 đến nay đã hiện đại h a thủ pháp này
th hiện những cảm nhận tinh tế và tạo nên sự đa nghĩa cho thơ, đặc biệt trong
thơ Tày hiện đại. Điều đáng n i là thủ pháp ẩn dụ trong thơ DTTS khu vực
miền núi phía Bắc được sáng tạo dựa trên sự liên tưởng với chất liệu h nh ảnh
gắn với môi trường sống, với sinh hoạt vật chất và tinh thần trong đời sống v n
h a tộc người thi u số. Phương thức ẩn dụ trong thơ DTTS miền núi phía Bắc
từ 1986 đến nay gây ấn tượng đối với bạn đọc nhờ sự lựa chọn và sáng tạo h nh
ảnh ẩn dụ độc đáo.
Tiểu kết

tộc người đ chiếu vào, làm hiện lên những h nh ảnh, màu sắc rực rỡ của viên
ngọc thơ DTTS đa diện được h nh thành và kết tinh từ một vùng đất đa sắc tộc,
đa v n hóa.
Lấy mốc từ n m 1986 đến nay, luận án muốn chọn thời đi m v n học
DTTS n i riêng và v n học Việt Nam n i chung c sự chuy n biến mạnh mẽ từ
nền v n học phục vụ kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội sang nền v n
học bắt nhịp với công cuộc đổi mới toàn diện ở đất nước ta. Đặc biệt về phương
diện v n h a, thời đại bắt buộc nhà thơ phải vừa dân tộc vừa hiện đại. Trước
n m 1986, thơ DTTS miền núi phía Bắc cũng đã ghi dấu ấn nhưng do yêu cầu
thực hiện nhiệm vụ chính trị nên thơ phần nào cũng bị b hẹp lại. Sự kết hợp
giữa hai yêu cầu trên chưa hợp lý, c nhà thơ quá trung thành với truyền thống
thành ra không vượt được khỏi b ng râm của v n học dân gian. Ngược lại, c
nhà thơ muốn gấp rút quá tr nh hiện đại h a nên thơ bị pha loãng trong xu
hướng phong trào. Sau n m 1986, trước những đòi hỏi cần đổi mới v n học, các
nhà thơ DTTS nhanh ch ng nhận ra chỗ đứng của m nh trong dòng chảy v n
học Việt Nam chính là khai thác v n h a độc đáo tộc người đ giải quyết những
vấn đề đặt ra trong cuộc sống của con người hôm nay.
2. Thành tựu nổi bật so với các khu vực miền núi khác trong cả nước với
những tên tuổi đã được khẳng định, thơ DTTS miền núi phía Bắc từ sau n m
1986 đến nay đã thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Các công
21


tr nh nghiên cứu dù theo nhiều hướng khác nhau song đều khẳng định vẻ đẹp
đặc sắc của bộ phận thơ này chính là cảm quan giàu bản sắc v n h a của con
người hiện đại. Tuy nhiên, những công tr nh nghiên cứu theo hướng lý giải từ
cội rễ vẻ đẹp này từ g c nh n v n h a vẫn còn rải rác, tản mạn, chưa tương
xứng với tiềm n ng mà bộ phận thơ này c được. V thế, luận án mong muốn
bổ khuyết vào khoảng trắng trong nghiên cứu thơ DTTS miền núi phía Bắc n i
riêng, thơ DTTS cả nước n i chung.

sống vật chất và được thiêng h a trong đời sống tinh thần của người Thái.
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status