Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay - Pdf 41

Header Page 1 of 148.

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM MINH SƠN

PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành:

Luật kinh tế

Mã số:

62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Thương Huyền

Hà Nội - 2016
0
Footer Page 1 of 148.


Header Page 2 of 148.

LỜI CAM ĐOAN

-

BLTTDS (2004)

3. Mergers and Acquisitions

-

M&A

4. Ngân hàng Nhà nước

-

NHNN

5. Ngân hàng thương mại

-

NHTM

6. Ngân hàng thương mại cổ phần

-

NHTMCP

7. Ngân hàng thương mại cổ phần


-

TCTD

14. Trách nhiệm hữu hạn

-

TNHH

15. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

-

UBCKNN

16. Ủy ban nhân dân

-

UBND

(Mua lại và sáp nhập)

Nhà Hà Nội
8. Ngân hàng thương mại cổ phần
Sài Gòn - Hà Nội
9. Ngân hàng thương mại cổ phần
Xây dựng Việt Nam
10. Ngân hàng thương mại TNHH MTV

LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM ............................................................................................................................................126
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ..............................................................126
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ...........................................................................134

KẾT LUẬN...............................................................................................................................149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................152
PHỤ LỤC....................................................................................................................................163

3
Footer Page 4 of 148.


Header Page 5 of 148.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động mua lại, sáp nhập (M&A) đã được thực hiện từ lâu trên thế giới
và trở thành xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động M&A tuy
mới được thực hiện từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước nhưng đã phát triển
nhanh chóng cả về số lượng và giá trị giao dịch, là kênh đầu tư hấp dẫn ở trong và
ngoài nước. Các hoạt động M&A đã trở thành một làn sóng những năm 2003 đến
2008 trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, viễn thông. Khuynh
hướng M&A có suy giảm dần sau đó nhưng từ năm 2013 đến nay, nhất là năm 2015
thì xu hướng M&A đối với ngân hàng ở nước ta đã diễn ra mạnh mẽ.
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt với

qua, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM trong thời gian gần đây đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm không chỉ
đối với giới nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách mà còn cả giới luật gia và doanh
nghiệp. Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng hiện tại chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật mua lại và sáp nhập NHTM
ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ và sâu sắc hơn cơ sở lý luận,
giúp đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn
thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực
hiện quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Trước thực trạng trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về mua
lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu và làm
luận án tiến sĩ luật học, có ý nghĩa không chỉ về khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa
thực tiễn trong hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu của luận án: Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Với mục đích nghiên cứu như trên, luận
án có các nhiệm vụ sau:
+ Đánh giá được tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến
đề tài luận án, từ đó xác định được những nội dung còn bỏ ngỏ, còn tranh luận để
đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án.
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ và sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản
về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; xây dựng
khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM.
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM; thực tiễn thực hiện

nghiên cứu một số văn bản pháp luật có liên quan mật thiết đến nội dung đề tài luận
án được ban hành từ năm 2004 đến năm 2015 và có hiệu lực thi hành trong khoảng
thời gian từ khi được ban hành đến hết năm 2015; nghiên cứu một số trường hợp
mua lại, sáp nhập NHTM đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015
phục vụ việc đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận án
không nghiên cứu tất cả các loại hình NHTM mà chỉ nghiên cứu về ngân hàng
thương mại cổ phần (NHTMCP) do loại hình ngân hàng này mang tính phổ biến, gặp
nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, hoạt động, ngoài ra các hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng trong thời gian gần đây cũng tập trung vào nhóm NHTMCP.
4. Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước
đây về mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp cũng như
trong lĩnh vực NHTM, đồng thời cùng với quá trình nghiên cứu độc lập, luận án có
những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

3
Footer Page 7 of 148.


Header Page 8 of 148.

* Về lý luận:
Thứ nhất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi chính những
đặc điểm của NHTM. Do đó việc nghiên cứu để phát hiện chính xác và đầy đủ các
đặc điểm của NHTM sẽ giúp xây dựng được một cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm giải
quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Hoạt động
ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường
không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng. Việc thành
lập, hoạt động, tổ chức lại NHTM được kiểm soát nghiêm ngặt trong một khung

Header Page 9 of 148.

Thứ tư, việc tìm ra những đặc điểm của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân
NHTM sẽ giúp xác định đúng những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật
trong lĩnh vực này. Những đặc điểm chính của pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được điều chỉnh
bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành về ngân hàng; việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân
hàng; khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM, ngoài việc sử dụng khung pháp lý
như các doanh nghiệp thông thường nhưng cần có những điều chỉnh riêng đối với
loại hình này; pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối
với TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua lại, sáp nhập với
NHTM; để thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những tiêu
chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác; trình tự, thủ tục mua
lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, có mức
độ phức tạp cao hơn so với doanh nghiệp khác; để đảm bảo an toàn hệ thống ngân
hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia, đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả
năng chi trả, mất khả năng thanh toán, cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu
NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại.
Thứ năm, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM được xác định là: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ
tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp
khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra, còn có nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải có pháp luật điều chỉnh.
* Về đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, luận án khẳng định pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Luật các tổ chức tín dụng
(TCTD) là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đến việc thành lập, hoạt động và
tổ chức lại NHTM, đồng thời được đặt trong mối quan hệ với các luật khác khi giải

hàng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia, giữ vững ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đồng thời có tác dụng hữu hiệu trong
việc ngăn chặn tình trạng bất tuân thủ các yêu cầu, điều kiện bảo đảm an toàn đối
với hoạt động ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, còn có nhiều vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết khi NHNN mua lại bắt buộc một số NHTM
yếu kém này. Xét trên góc độ pháp luật thì đã có căn cứ pháp lý để NHNN mua lại
bắt buộc đối với các ngân hàng này. Tuy nhiên việc NHNN mua lại bắt buộc toàn
bộ tài sản của NHTM với giá 0 đồng, không phải mua lại toàn bộ số cổ phần thuộc
quyền sở hữu của tất cả cổ đông, nhưng tất cả cổ đông của NHTM bị chấm dứt toàn
bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp nhập
ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất một số giải
pháp mới như sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ chức lại
doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ sung mua lại là một
trong những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp để
phù hợp với quy định của Luật cạnh tranh. Luật các TCTD quy định cụ thể việc
mua lại, sáp nhập đối với NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới
6
Footer Page 10 of 148.


Header Page 11 of 148.

hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các
TCTD và các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung
các quy định khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều kiện mua
lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy

Footer Page 11 of 148.


Header Page 12 of 148.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế khách
quan, tất yếu với nhiều lợi ích to lớn, không chỉ với bản thân các ngân hàng mà còn
với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu
về mua lại, sáp nhập, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và
trong lĩnh vực NHTM, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã
được quan tâm thực hiện ở trong và ngoài nước.

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài
liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter
S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions” của Bruner F. Robert and Perella P. Joseph,
năm 2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M. Yegge do
Nxb. Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions” của
J. Fred Weston và Samuel C. Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang
hướng dẫn mua lại và sáp nhập” của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn
bản - Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của

Thứ nhất, về động cơ của hoạt động sáp nhập ngân hàng. Theo tác giả, sáp
nhập thường diễn ra với các lý do như: (1) Các cổ đông ngân hàng mong muốn tăng
giá trị tài sản hay giảm rủi ro và nhờ đó củng cố lợi ích của họ; (2) Các nhà quản lý
ngân hàng hy vọng nhận được mức lương cao hơn, tạo ra sự đảm bảo về nghề
nghiệp hay uy tín nhờ việc quản lý một ngân hàng lớn hơn; (3) Nhà quản lý, các cổ
đông đều được hưởng lợi ích từ hoạt động sáp nhập. Ngoài ra, cũng có những động
cơ khác được kể đến thông qua các vụ sáp nhập các ngân hàng lớn nhất đang diễn ra
trong các năm gần đây như: Tiềm năng lợi nhuận; hạn chế rủi ro; động cơ về thuế,
thị trường; động cơ tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả và giải cứu các ngân hàng sụp
đổ. Đã có rất nhiều các vụ sáp nhập ngân hàng được Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi
Liên bang Mỹ (FDIC) và các cơ quan pháp luật khuyến khích vì đây là một phương
pháp để bảo vệ khoản dự trữ bảo hiểm tiền gửi và tránh cho việc phục vụ khách
hàng bị gián đoạn khi ngân hàng có nguy cơ phá sản.
Thứ hai, về tiến hành sáp nhập. Tác giả cuốn sách cho rằng, dù xuất phát từ
bất cứ mục đích gì thì về bản chất sáp nhập là một giao dịch tài chính dẫn đến việc
một ngân hàng này mua lại một hay một vài tổ chức ngân hàng khác. Ngân hàng bị
sáp nhập phải từ bỏ các biểu tượng cũ để lấy tên mới, thường là tên của ngân hàng
mua lại. Tài sản và các nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập sẽ nhập với tài sản và

9
Footer Page 13 of 148.


Header Page 14 of 148.

nguồn vốn của ngân hàng sáp nhập. Sáp nhập ngân hàng thường được tiến hành sau
khi các nhà quản lý của hai ngân hàng đã đi đến những thỏa thuận cụ thể. Các bước
hợp nhất sẽ được ban lãnh đạo của mỗi ngân hàng thông qua và cổ đông của mỗi
ngân hàng bỏ phiếu.
Thứ ba, về cách thức hoàn tất việc sáp nhập. Thông thường, việc sáp nhập

Footer Page 14 of 148.


Header Page 15 of 148.

thành công thương vụ mua lại và sáp nhập. Cùng với chiến lược tổng thể của công
ty, chiến lược M&A cần được ban giám đốc và đội ngũ điều hành công ty phê duyệt
và ủng hộ. Điều này thậm chí còn quan trọng hơn rất nhiều khi vạch kế hoạch cho
một thương vụ M&A. Thông thường, việc kêu gọi sự ủng hộ đối với một chiến lược
M&A trước khi đề xuất một giao dịch cụ thể là việc làm rất quan trọng. Ngoài ra,
các tác giả cũng trình bày rất nhiều những công việc trước khi thực hiện M&A mà
bên mua và bên bán cần phải quan tâm, để đảm bảo rằng một thương vụ M&A đã
được chuẩn bị kỹ lưỡng, mang lại thành công cho các bên.
Thứ tư, về thẩm định chi tiết doanh nghiệp mục tiêu của bên mua. Thẩm định
chi tiết là việc bên mua có nghĩa vụ xem xét chi tiết và cẩn trọng về thương vụ mua
lại và sáp nhập. Quá trình này sẽ xem xét toàn diện về pháp lý, tài chính và chiến
lược trên cơ sở tất cả những tài liệu, những quan hệ hợp đồng, lịch sử hoạt động và
cấu trúc tổ chức của bên bán. Nhóm làm việc về tài chính, chiến lược thường do đội
ngũ quản lý, kế toán và nhóm làm việc về thẩm định pháp lý do cố vấn của bên mua
thực hiện. Thẩm định pháp lý sẽ phân tích những vấn đề về tổ chức, tài chính, quản
lý và nhân sự, những hợp đồng và giao kết chính của bên bán, kiện tụng và khiếu
nại. Bên mua sẽ phải thu thập các dữ liệu liên quan đến điều kiện để giao dịch mua
lại và sáp nhập có hiệu lực pháp luật, đến sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh và
những rủi ro có thể phải gánh chịu sau khi mua lại, sáp nhập…
Thứ năm, về định giá doanh nghiệp và các phương pháp định giá doanh
nghiệp. Định giá doanh nghiệp hay xác định giá trị doanh nghiệp là việc ước tính giá
trị hiện hữu và tiềm năng của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định bằng cách sử
dụng các phương pháp định giá thích hợp. Định giá doanh nghiệp có thể được bên
bán tiến hành hoặc xác nhận trước khi chào cho bên mua và giá cuối cùng được xác
định bởi các bên trong quá trình đàm phán về giá. Trong hợp đồng M&A, mục giá

Thương hiệu tạo ra sự khác biệt và ưu tiên đối với khách hàng. Đó là lý do tại sao
khách hàng chọn để giao dịch với một ngân hàng này mà không phải là một ngân
hàng khác. Thương hiệu thường đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên các giá trị
này. Theo như nhận định trong một nghiên cứu gần đây của hãng nghiên cứu
McKinsey, thì “các tài sản vô hình tạo nên phần lớn giá trị của các thỏa thuận liên
kết và sáp nhập, trong đó thương hiệu chiếm một phần đáng kể trong những dạng
tài sản vô hình này”. Tác giả chỉ ra bốn chiến lược phát triển thương hiệu cơ bản đối
với các ngân hàng: (1) Hố đen; (2) Tận dùng; (3) Chung sống; (4) Những khởi đầu
mới. Mỗi chiến lược lại có những ưu điểm riêng.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ pháp lý
- Bài dịch “Luật chống độc quyền ở Mỹ” do N.Gregory Mankiw, 5th edition
(2008), Principles of Microeconomics, South Western Cengage Learning phát hành,
được Lê Thị Khánh Ly biên dịch có những nội dung chính cho biết mục đích của
chính sách chống độc quyền là ngăn cản độc quyền, khuyến khích cạnh tranh và đạt
được sự phân bổ nguồn lực hiệu quả. Mặc dù tất cả những nhà kinh tế học đều đồng
ý rằng những mục tiêu này rất tốt, tuy nhiên có một số ý kiến mâu thuẫn nhau về sự
thích hợp và hiệu quả của chính sách chống độc quyền ở Mỹ. Sau những năm 1800

12
Footer Page 16 of 148.


Header Page 17 of 148.

và trước những năm 1900, chính phủ kết thúc những lực lượng thị trường thuộc
ngành công nghiệp độc quyền mà không cung cấp đủ kiểm soát nhằm bảo vệ người
tiêu dùng, đạt được cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Vì thế,
chính phủ xây dựng hai kiểm soát mang ý nghĩa khác nhau như là việc thay thế và
bổ sung cho lực lượng thị trường này: Cơ quan chính phủ: Trong một vài thị trường

Footer Page 17 of 148.


Header Page 18 of 148.

hàng. Ở Mỹ về cơ bản có hai hệ thống quy định điều chỉnh chung hoạt động sáp
nhập ngân hàng, đó là các phán quyết của tòa án và các đạo luật được thông qua
trên cơ sở các đặc thù của ngành ngân hàng. Với các đạo luật có thể dẫn chiếu đến
đạo luật chống độc quyền Sherman năm 1890 và đạo luật Clayton năm 1914. Các
đạo luật này cấm các hoạt động sáp nhập nếu chúng dẫn đến độc quyền hay hạn chế
cạnh tranh trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và Bộ Tư pháp sẽ thông qua các vụ
sáp nhập nào như vậy. Ngoài hai đạo luật trên, hoạt động sáp nhập còn chịu sự điều
chỉnh của nhiều đạo luật khác. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi mỗi ngân hàng
tham gia sáp nhập phải được chuẩn y từ các cơ quan điều hành Liên bang trước khi
sáp nhập. Với các ngân hàng trong nước, việc sáp nhập phải được Cục Quản lý tiền
tệ thông qua. Với các ngân hàng được bảo hiểm và là thành viên của hệ thống Dự
trữ Liên bang thì việc hợp nhất phải có sự thông qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
Fed. Còn với các ngân hàng được bảo hiểm nhưng không là thành viên của hệ Dự
trữ Liên bang thì cần có sự thông qua của Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang.
Thứ hai, các hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Để giảm thiểu sự không chắc chắn
về pháp lý, năm 1968 Bộ Tư pháp Mỹ đã ban hành hướng dẫn chính thức về việc
xin sáp nhập với những yêu cầu chặt chẽ. Theo đó các hãng hoạt động trong thị
trường có mức độ tập trung cao và cạnh tranh hạn chế chỉ được thôn tính các doanh
nghiệp có thị phần nhỏ và không quan trọng, đồng thời chỉ được thâm nhập thị
trường với hình thức tạo lập doanh nghiệp mới. Khi Luật sáp nhập được nới lỏng
vào năm 1982, Bộ Tư pháp đã thay đổi hướng dẫn sáp nhập vào năm 1992 bao gồm
các hướng dẫn riêng cho sáp nhập ngân hàng. Hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp lấy
công thức tính chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) làm thước đo mức độ tập
trung cho thị trường. Với việc ban hành chỉ số HHI này, bất cứ vụ sáp nhập nào mà
chỉ số HHI sau khi sáp nhập nhỏ hơn 1.800 hoặc giá trị chỉ số HHI trong khu vực

cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư ở Việt Nam, quá trình thanh toán và
những khó khăn cho việc thực thi các hợp đồng mua lại và sáp nhập tại Việt Nam.
Tác giả bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định pháp luật của Việt Nam
về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp, từ đó khuyến cáo các nhà đầu tư nước ngoài
khi tham gia giao dịch mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện thời gian qua đã tập trung
phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Có thể kể đến
một số nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Sáp nhập, hợp nhất và mua bán
ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” của Phan Diên Vỹ, năm 2013; luận án
tiến sĩ luật học “Pháp luật mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam” của Trần Thị Bảo
Ánh, năm 2014... Bên cạnh các nghiên cứu trên, một số đề tài nghiên cứu khoa học
nghiên cứu trong lĩnh vực này như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoạt động
sáp nhập và mua lại: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị chính sách
cho Việt Nam” do ThS. Lưu Minh Đức làm chủ nhiệm, năm 2009; đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Ngành “Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí

15
Footer Page 19 of 148.


Header Page 20 of 148.

Minh do TS. Nguyễn Thị Loan làm chủ nhiệm, năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam” của
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Trí Hùng làm chủ nhiệm,
năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện “Pháp luật về hợp nhất, sáp

16
Footer Page 20 of 148.


Header Page 21 of 148.

nghiệp, ngân hàng.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu đề cập về lý luận mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp, ngân hàng
Một số nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận về mua lại, sáp nhập và pháp
luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM như nêu khái niệm mua lại, sáp
nhập, đề cập đến các phương thức mua lại, sáp nhập; phân biệt sự khác nhau của
mua lại, sáp nhập; vai trò của mua lại, sáp nhập; các yếu tố và điều kiện thúc đẩy
hoạt động mua lại, sáp nhập chủ yếu ở cả góc độ kinh tế và pháp luật, theo quan
điểm chung của quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam. Các
nguyên tắc pháp lý khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất NHTM, các bộ phận cấu thành
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM cũng được nghiên cứu, qua đó cho thấy pháp
luật về mua lại, sáp nhập đối với NHTM có sự liên thông với pháp luật cạnh tranh,
chứng khoán, doanh nghiệp, dân sự, thương mại... [16], [42], [59], [89].
Trong các nghiên cứu, bài viết trên, có quan điểm chưa thống nhất việc sử
dụng thuật ngữ “mua lại và sáp nhập” tại Việt Nam để chỉ khái niệm mua lại, sáp
nhập như theo nội hàm và cách hiểu của quốc tế. Các ý kiến về nhóm vấn đề này cho
rằng trên thực tế hoạt động mua lại, sáp nhập đa dạng hơn nhiều so với khái niệm như
hay dùng, diễn ra ở nhiều hình thức khác nhau và vô cùng phức tạp, nên để đưa ra
định nghĩa chính xác, nhất quán về mua lại, sáp nhập là tương đối khó khăn. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam thì chưa có được định nghĩa thống nhất điều chỉnh
hoạt động mua lại, sáp nhập [14], [67]. Có ý kiến trao đổi cần phải làm rõ định nghĩa
để thống nhất về nội dung thâu tóm, hợp nhất, mua lại, sáp nhập, hay cần thống nhất
cách hiểu khi đề cập đến thâu tóm hoặc đơn giản chỉ hiểu đó là sự thay đổi tỷ lệ sở
hữu cổ phần trong tổ chức dẫn đến việc tham gia quản trị điều hành [77]. Một số vấn

hàng tại Việt Nam:
Đề cập đến khung pháp lý về mua lại, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng
tại Việt Nam, Bộ luật dân sự (2005), Luật đầu tư (2005), Luật cạnh tranh (2004),
Luật chứng khoán (2006) và Luật chứng khoán sửa đổi (2010), Luật các TCTD
(2010), Luật NHNN Việt Nam (2010), Luật doanh nghiệp (2005, 2014) là các
văn bản pháp luật được nhiều tác giả dẫn chiếu [29], [42], [45], [59], [89].
Một số nghiên cứu đã đề cập, phân tích quy định pháp luật về mua lại, sáp
nhập giữa các TCTD Việt Nam; điều kiện để các TCTD nước ngoài mua cổ phần
của ngân hàng Việt Nam (niêm yết hoặc chưa niêm yết trên thị trường chứng
khoán), trong đó quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện để
ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài; điều kiện chuyển
nhượng cổ phần; điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàng Việt Nam; quy định về
tổ chức và hoạt động của các NHTM được NHNN Việt Nam cấp giấy phép thành
lập và hoạt động; các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới WTO... [56], [63], [110]. Mặc dù đã xây dựng được hành lang pháp lý ban đầu
nhưng hoạt động mua lại, sáp nhập vẫn cần phải có một hành lang pháp lý đầy đủ,
đảm bảo cho hoạt động mua lại, sáp nhập được diễn ra trên thực tế, có cơ sở pháp lý
để điều chỉnh, phù hợp mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng, đáp ứng quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

18
Footer Page 22 of 148.


Header Page 23 of 148.

Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập
được đề cập, đó là các cam kết trong GATS/WTO, các cam kết trong khu vực
ASEAN, các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các cam kết quốc tế về đầu
tư song phương có yếu tố tự do hóa liên quan đến mua lại, sáp nhập (M&A), Hiệp

19
Footer Page 23 of 148.


Header Page 24 of 148.

quyền, nghĩa vụ tài sản và các khoản nợ ra sao? Hiệu lực phát sinh của hợp đồng?
Thời điểm nào có hiệu lực, thời điểm nào vô hiệu? ... đã được kiến nghị cần được
tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn [41], [44], [119].
- Những hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại ở Việt Nam:
Trong các nghiên cứu thu nhận được phản ảnh những hạn chế, bất cập của
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam đều có chung nhận định về những
hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành. Đa số các nghiên cứu đều nhận định pháp
luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng được quy định và điều chỉnh bởi nhiều văn bản
quy phạm pháp luật khác nhau nên gặp khó khăn khi thực hiện, một số quy định
chưa theo kịp thực tiễn đang diễn ra nhanh chóng, chưa điều chỉnh kịp thời các quan
hệ xã hội phát sinh. Một số văn bản pháp luật đề cập đến mua lại, sáp nhập nhưng
khái niệm về mua lại, sáp nhập còn chưa thống nhất. Mỗi luật điều chỉnh hoạt động
mua lại, sáp nhập từ một góc độ khác nhau theo chức năng của ngành luật, trong
từng trường hợp cụ thể thì áp dụng luật nào cũng là vấn đề đặt ra cần quan tâm
nghiên cứu [86], [89], [110].
Các luật ban hành có liên quan điều chỉnh chủ yếu về hoạt động mua lại, sáp
nhập đối với doanh nghiệp, chưa đề cập đến trường hợp doanh nghiệp đặc biệt là
ngân hàng. Luật các TCTD là văn bản pháp lý cao nhất của ngành ngân hàng điều
chỉnh đối với các TCTD chưa quy định cụ thể về mua lại, sáp nhập, chỉ gọi chung là
tổ chức lại TCTD dưới hình thức chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình
thức pháp lý nhưng không có quy định cụ thể. Điều chỉnh trực tiếp hoạt động mua
lại, sáp nhập ngân hàng hiện tại là Thông tư 04/2010/TT-NHNN. Các quy định điều
chỉnh việc mua lại, sáp nhập ngân hàng chủ yếu hướng tới việc khuyến khích các

định về mua lại, sáp nhập hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thức của
giao dịch mà còn thiếu các quy định cụ thể để thực hiện. Hoạt động mua lại, sáp nhập
ngân hàng liên quan đến nhiều ban ngành nhưng còn chưa rõ quy trình tiếp nhận, xử
lý các NHTM yếu kém. Về quản lý hoạt động này, các tác giả cũng có chung nhận
định là văn bản pháp luật quy định nhiều cơ quan đang quản lý khác nhau như Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương…[53], [56], [63].
Theo quy định của Luật các TCTD, NHNN có quyền góp vốn, mua cổ phần
bắt buộc của TCTD bị kiểm soát đặc biệt hoặc yêu cầu các TCTD sáp nhập, hợp
nhất bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn hệ thống TCTD. Thông tư số 07/2013/TTNHNN ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với
TCTD đã tạo lập cơ chế để NHNN thực hiện vai trò của mình trong việc buộc các
TCTD sáp nhập, hợp nhất và bán cổ phần bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư
04/2010/TT-NHNN của NHNN còn bỏ ngỏ nội dung mua lại, sáp nhập bắt buộc
TCTD. Các quy định pháp luật được cho là chưa đủ cơ sở pháp lý vững chắc để nhà
nước can thiệp, xử lý một số NHTM yếu kém thông qua mua lại, sáp nhập nhằm
tránh đổ vỡ hệ thống, ổn định kinh tế vĩ mô [59].

21
Footer Page 25 of 148.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status