Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 41

Header Page 1 of 148.

1

Bộ Giáo dục và Đào tạo

bộ t pháp

trờng đại học luật hà nội

đỗ thị kim tiên

Pháp luật về quyền bình đẳng
giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam

luận án tiến sĩ luật học

Hà nội - 2014

Footer Page 1 of 148.


Header Page 2 of 148.

2

Bộ Giáo dục và Đào tạo

bộ t pháp

trờng đại học luật hà nội


Tác giả luận án

Đỗ Thị Kim Tiên

Footer Page 3 of 148.


Header Page 4 of 148.

4

MỤC LỤC
Trang

1.1.

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

9

Tình hình nghiên cứu lý luận về bình đẳng, quyền bình đẳng giữa các

9

doanh nghiệp và pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp


32

2.2.

Quan niệm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp

45

2.3.

Ý nghĩa của việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp

53

2.4.

Vai trò của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp

57

2.5.

Những yếu tố chi phối hệ thống pháp luật và quá trình thực thi pháp

64

luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT



Hệ quả của bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp

123

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN

128

BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

4.1.

Hoàn thiện nội dung quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp

129

4.2.

Hoàn thiện các quy định pháp luật về thiết chế bảo đảm quyền bình

149

đẳng giữa các doanh nghiệp
KẾT LUẬN

159

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ


DNTN

: Doanh nghiệp tư nhân

ĐKDN

: Đăng ký doanh nghiệp

ĐKKD

: Đăng ký kinh doanh

KTTT

: Kinh tế thị trường

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


Header Page 7 of 148.

7

DANH MỤC CÁC BẢNG


Mô phỏng các mối quan hệ tạo ra bình đẳng hoặc bất

39

hình
2.1

BĐGCDN

Footer Page 7 of 148.


Header Page 8 of 148.

8

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Doanh nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành của mọi hệ thống kinh
tế. Trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp là chủ thể cơ bản của thị trường, có vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà
nước, bổ sung nguồn dự trữ quốc gia và khai thác nâng cao giá trị của tài nguyên thiên
nhiên. Ở Việt Nam, khi thừa nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần, doanh nghiệp
chính là hoạt động sống của các thành phần kinh tế, tạo ra tăng trưởng. Với hoạt
động sản xuất, kinh doanh đa dạng, doanh nghiệp có mặt trong nhiều ngành, nghề,
lĩnh vực và tác động đến sự hình thành các loại thị trường. Vì lẽ đó, một quốc gia
chỉ có thể kiểm soát được nền kinh tế bắt đầu từ hệ thống doanh nghiệp.
Để phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình
kinh tế thị trường (KTTT), nhằm sử dụng sức mạnh của quy luật cạnh tranh làm

phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng tuân thủ
các quy luật thị trường, đảm bảo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng cho
doanh nghiệp. Cùng với điều này, trong các đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng coi quyền BĐGCDN là vấn đề cần
được bảo đảm.
Trong thực tế, quan điểm về bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa
các doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), được triển khai trong Hiến pháp 1992 và trong các đạo luật. Chính phủ cũng
đã phê duyệt Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 nhằm đổi mới quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu. Tuy
nhiên, đi ngược với mục tiêu của nhà nước, trên thực tế, bất BĐGCDN không giảm
mà đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp. Vẫn
tồn tại nhiều sự phân biệt, đối xử doanh nghiệp ngay từ khi gia nhập thị trường,
trong quá trình kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp. Các DNNN
kinh doanh độc quyền trong nhiều lĩnh vực, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thị
trường. Một số tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu tiên, bảo lãnh, khoanh nợ, giãn
nợ, xóa nợ. Có những DNNN kinh doanh thua lỗ được sáp nhập vào tổng công ty
nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khác mà không bị phá sản.
Việc tiếp cận các dịch vụ công, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, tiếp cận nguồn tài
nguyên, đất đai của DNNN có nhiều thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp thuộc
kinh tế tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tiếp tục gặp phải
những rào cản về điều kiện kinh doanh, vay vốn, thuê đất,... Không chỉ tồn tại
những bất bình đẳng do chính sách của nhà nước tạo ra, thực trạng các doanh
nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng lậu, trốn
Footer Page 9 of 148.


Header Page 10 of 148.

10

đánh giá đầy đủ, khách quan, nhận định chính xác pháp luật về quyền BĐGCDN ở
Việt Nam hiện nay.
Footer Page 10 of 148.


Header Page 11 of 148.

11

+ Luận án nghiên cứu pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam chỉ áp
dụng đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005, không bao gồm các
chủ thể kinh doanh khác (hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể,...)
+ Luận án nghiên cứu quyền BDDGCDN gắn với quá trình: (i) thành lập
doanh nghiệp; (ii) hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; và (iii) trong giải thể,
phá sản doanh nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp các luận cứ khoa học cho việc
hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận án là:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về bình đẳng, BĐGCDN, quyền
BĐGCDN và đánh giá ý nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Luận án cũng
đồng thời đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền BĐGCDN và
xác định các yếu tố chi phối quyền BĐGCDN.
- Rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam, đưa ra những đánh giá khách quan
về ưu điểm và hạn chế của của pháp luật quy định về quyền BĐGCDN.
- Thu thập thông tin, tài liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền
BĐGCDN ở Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá những mặt đạt được và hạn chế. Từ
đó xác định các nguyên nhân cơ bản tạo ra bất BĐGCDN và hệ quả của nó.
- Đưa ra các giải pháp tổng thể nhằm hoàn thiện nội dung pháp luật về
quyền BĐGCDN và hoàn thiện thiết chế bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.

- Giả thuyết nghiên cứu: Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều chủ thể
kinh doanh, trong đó có doanh nghiệp. Để tồn tại và hoạt động, các doanh nghiệp
cần được bình đẳng về mặt pháp lý trong các giao dịch với đối tác và quan hệ với
nhà nước (qua các điều kiện ngang bằng và tiêu chuẩn giống nhau trong việc vay
vốn, hưởng các ưu đãi và thực hiện nghĩa vụ thuế,..). Như vậy, BĐGCDN là thuộc
tính vốn có và là yêu cầu không thể thiếu được của nền KTTT.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Luận án làm rõ và phân biệt khái niệm quyền
BDDGCDN về mặt pháp lý và về mặt thực tế.
Câu hỏi nghiên cứu 3
- Tại sao lại phải đặt vấn đề BĐGCDN? và tại sao phải bảo đảm quyền BĐGCDN?
- Giả thuyết nghiên cứu: Tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và BĐGCDN
là nguyên tắc của thị trường, là cơ sở để vận hành quy luật cạnh tranh, tạo động lực
phát triển kinh tế.
Footer Page 12 of 148.


Header Page 13 of 148.

13

- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Chứng minh mối liên hệ giữa bảo đảm quyền
BĐGCDN với hoàn thiện thể chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời đánh
giá được ý nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN.
Câu hỏi nghiên cứu 4
- Thực tế có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam hay không?
- Giả thuyết nghiên cứu: Có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam, để lại
những hậu quả tiêu cực đối với kinh tế, xã hội.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Rà soát, đánh giá pháp luật và quá trình thực
thi pháp luật để chứng minh có sự tồn tại của bất BĐGCDN ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu 5

liên quan đến đề tài nghiên cứu, những vấn đề đã được giải quyết, những vấn đề còn
bỏ ngỏ để định hướng tiếp tục nghiên cứu.
Chương 2: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để nghiên cứu, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp. Các phân tích, nhận
định quan niệm về bình đẳng, bình đẳng doanh nghiệp, quyền BĐGCDN được gắn
vào những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể.
Chương 3: Áp dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp hệ thống
nhằm kế thừa và tổng hợp kết quả nghiên cứu đã công bố. Chương này cũng sử
dụng phương pháp phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng pháp luật và thực thi pháp
luật, nguyên nhân tạo ra bất BĐGCDN.
Chương 4: Chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, dự báo, đưa ra những
khuyến nghị, giải pháp xác đáng nhằm đảm bảo quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
6. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học của luận án
Kết quả của việc nghiên cứu luận án đối với đề tài: "Pháp luật về quyền
bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" đem lại những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, luận án làm rõ bản chất của bình đẳng, BĐGCDN và quyền
BĐGCDN. Đồng thời, phân tích làm rõ vấn đề bảo đảm quyền BĐGCDN không
mâu thuẫn với chính sách ưu tiên hay hạn chế trong đầu tư, kinh doanh.
Thứ hai, luận án xây dựng khái niệm, xác định nội dung, tiêu chí đánh giá
về bình đẳng, BĐGCDN, quyền BĐGCDN, pháp luật về quyền BĐGCDN. Trên cơ
sở đó, luận án đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền BĐGCDN
và xác định các yếu tố chi phối quyền BĐGCDN.
Thứ ba, luận án nghiên cứu toàn diện hệ thống pháp luật liên quan đến doanh
nghiệp, đưa ra những nhận định về hạn chế của pháp luật về quyền BĐGCDN và
nguyên nhân chủ yếu gây ra bất BĐGCDN ở Việt Nam.
Footer Page 14 of 148.


Header Page 15 of 148.


16

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả luận án sẽ đánh giá các công
trình khoa học trong nước, quốc tế về những vấn đề liên quan đến nội dung luận án.
Luận án sẽ kiểm chứng, kế thừa những vấn đề đã được làm rõ, tiếp tục giải quyết
những vấn đề còn bỏ ngỏ. Trong chương này, những vấn đề có liên quan đến nội
dung luận án được trình bày theo lôgic từ lý luận đến thực trạng và giải pháp.
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG, QUYỀN
BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH
ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP

1.1.1. Nghiên cứu các quan niệm về bình đẳng, bình đẳng giữa các
doanh nghiệp và quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
1.1.1.1. Các quan niệm về bình đẳng
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, phần chiến lược phát triển
kinh tế xã hội 2011-2020 có định hướng: "Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi
luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế" [16, tr. 108]. Tuy nhiên, trong toàn nội dung văn kiện đều không
tìm thấy bất kỳ định nghĩa hay giải thích nào về cạnh tranh bình đẳng hay BĐGCDN.
Pháp luật Việt Nam triển khai chính sách của Đảng về bảo đảm quyền BĐGCDN
cũng không có quy định nào đưa ra khái niệm hay giải thích thế nào là BĐGCDN.
Một số công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến khái niệm bình đẳng ở những góc nhìn
khác nhau và gián tiếp đề cập đến những khía cạnh nhất định về BĐGCDN.
Trong Đại Từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý có ghi: "bình đẳng là
ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi" [93]. Cuốn sách Quan niệm tự do bình đẳng
của tư bản và vô sản, do Tô Hồng Quân biên dịch không đề cập đến bình đẳng

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Sự hợp tác và cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh trong điều kiện các doanh
nghiệp đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Quyền bình đẳng trước pháp luật giữa
DNTN với các doanh nghiệp khác trước hết thể hiện ngay trong việc thành lập doanh
nghiệp [83, tr. 145]. Giáo trình cũng chỉ ra rằng: "Các doanh nghiệp có quyền bình
đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ đóng góp
vào ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế". Giáo trình này cũng đề cập sâu
hơn để giải thích về mức thuế đóng góp giữa các doanh nghiệp ở mức độ khác nhau là
sự hợp lý. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quan niệm về công bằng, bình đẳng.
Trong luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Bùi Ngọc Cường (2002) về Xây
dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta
không đề cập trực tiếp đến quyền BĐGCDN nhưng đã gợi mở về phương pháp tiếp
cận nghiên cứu các quyền của doanh nghiệp nói chung, trong đó có quyền tự do
kinh doanh, quyền BĐGCDN là các quyền được xây dựng trên nền tảng kinh tế,
chính trị - xã hội nhất định.
1.1.2. Những công trình liên quan đến xác định vai trò của pháp luật
bảo đảm quyền bình đẳng doanh nghiệp
Không có công trình nào được biết đến đã từng nhận định trực tiếp về vai
trò của pháp luật đối với việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Tuy nhiên, ở khía cạnh
nhất định, về mặt lý luận, vai trò của pháp luật nói chung đã được viết khá kỹ trong
giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2003) của Trường Đại học Luật
Hà Nội. Giáo trình khẳng định pháp luật là phương tiện để các chủ thể trong xã hội
quyết định những hoạt động của tổ chức, cá nhân [82, tr. 377]. Đồng thời, với tư
Footer Page 19 of 148.


Header Page 20 of 148.

20


"Công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào. Có
nghĩa là, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty hợp danh có khả năng huy
động vốn thấp hơn rất nhiều" [94, tr. 75]. Công ty cổ phần được pháp luật cho phép
phát hành mọi chứng khoán và chỉ cấm công ty TNHH phát hành cổ phiếu, tức là
trong điều kiện nhất định công ty vẫn có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn.
Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, sự thay đổi trong cơ cấu nhân sự sẽ
làm ảnh hưởng đến tính đối nhân của nó, vì thế nó không được phép phát hành cổ
phiếu. Tác giả phân tích, công ty hợp danh có thể huy động vốn bằng cách phát
hành trái phiếu, "bởi trái phiếu chỉ là một chứng chỉ ghi nợ, người mua trái phiếu sẽ
Footer Page 21 of 148.


Header Page 22 of 148.

22

trở thành chủ nợ của công ty, không phải là thành viên công ty, do đó việc phát hành
trái phiếu để huy động vốn không làm ảnh hưởng đến tính chất đóng, hạn chế tiếp
nhận thành viên của công ty hợp danh" [94, tr. 76]. Tác giả cũng cho rằng, nhà nước
chỉ cấm các doanh nghiệp hoạt động huy động vốn vay khi hoạt động đó có nguy cơ
xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khác. Tuy nhiên, với trường hợp
công ty hợp danh được pháp luật quy định có tư cách pháp nhân tức là công ty có
khả năng trả nợ cho chính nó, bên cạnh đó pháp luật lại quy định rằng trong công ty
có những chủ thể khác (cụ thể ở đây là các thành viên hợp danh) trả nợ thay cho
công ty nếu công ty không có khả năng trả nợ. Vì vậy, quyền lợi của người cho vay
được bảo đảm hơn so với các công ty khác chứ không phải có nguy cơ xâm hại.
Trong một nghiên cứu, TS. Nguyễn Chí Thành nhận định: "Tuy khung pháp
lý nhằm tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng đã được xây dựng nhưng việc áp
dụng trên thực tế còn nhiều vấn đề. Các độc quyền nhà nước và những ưu đãi đặc biệt
dành cho DNNN đã làm méo mó sân chơi chung của các doanh nghiệp" [79, tr. 118].

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài,
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa thực sự đi vào cuộc sống [34, tr. 2].
Tác giả cho rằng, có tồn tại những định kiến về thành phần kinh tế và định
kiến về khu vực kinh tế tư nhân còn nặng nề. Nỗi ám ảnh về "thành phần" làm cho
doanh nghiệp và cả những người thực thi công vụ cũng e dè, ngần ngại mỗi khi phải
giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích của khu vực kinh tế tư nhân" [34, tr. 2].
Cũng tại hội thảo này, TS Nguyễn Kế Tuấn nhận xét:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà
nước trong quản lý kinh tế. Tuy nhiên, lâu nay trong thực tế vẫn tồn tại
tình trạng nhà nước phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế [88, tr. 1].
Đánh giá về tình hình và nguyên nhân của vấn đề này, tác giả nhận định:
"Vẫn tồn tại tình trạng cơ quan quản lý nhà nước và công chức nhà nước phân
biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, trong
đó doanh nghiệp nhà nước thường giành được nhiều ưu đãi hơn…". Đồng thời,
"Việc nhà nước đang đóng vai trò "kép", vừa là nhà quản lý vĩ mô, vừa là chủ sở
hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước, dù nhiều hay ít vẫn phải dành cho chúng
sự quan tâm riêng" [88, tr. 2]. Tác giả cũng cho rằng, sự không rõ ràng trong nhận
thức sử dụng DNNN như một công cụ vật chất để điều tiết vĩ mô nền kinh tế cũng
tạo ra tâm lý Nhà nước kỳ vọng làm mạnh mẽ hơn công cụ vật chất của mình. Điều
này lại là yếu tố cản trở trực tiếp việc thu hẹp khu vực DNNN vốn dĩ đã bị phát
triển phân tán. Hơn nữa từ đây sẽ không thể triệt xóa được tình trạng Nhà nước
thiên vị đối với doanh nghiệp nhà nước [88, tr. 2].
Footer Page 23 of 148.


Header Page 24 of 148.


vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà nước, tạo ra bất BĐGCDN, Phó tiến sĩ Afanas'eva
Juliaja Andreevna, trường đại học Kinh tế cao cấp Moscow khuyến cáo: "Nếu như
trong các lĩnh vực truyền thống, tổ chức độc quyền làm tăng lợi nhuận bằng cách
hạn chế mức cung và tăng giá vọt lên thì trên thị trường các công nghệ thông tin, nó
hành xử theo cách khác: đó là mở rộng sản xuất và giảm giá". Điều này được giải
thích là, giá của việc sản xuất (thu nhận) tri thức là rất đắt nhưng chi phí cho việc
sản xuất và phổ biến nó lại rất thấp [2].
Nghiên cứu của TS. Lê Anh Tuấn cũng cho thấy, nền kinh tế xuất hiện
nhiều trường hợp ép buộc trong kinh doanh, bán hàng đa cấp bất chính, phân biệt
đối xử hiệp hội, gièm pha doanh nghiệp khác, xâm phạm bí mật kinh doanh,... Một
Footer Page 25 of 148.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status