Header Page 1 of 258.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chú trọng hoàn
thiện và hài hòa hóa các thành phần kinh tế. Trong Cương lĩnh Xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến
pháp 2013, Đảng luôn khẳng định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thành phần
kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng. Tuy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là
một bộ phận của thành phần kinh tế nhà nước, nhưng cũng như các doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế khác đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và
cạnh tranh theo pháp luật. Theo Điều 51 và Điều 52 Hiến pháp 2013, nền kinh tế Việt
Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà
nước luôn xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn
trọng các quy luật thị trường, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản
lý nhà nước nhằm đảm bảo tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
Vào tháng 04 năm 2001, Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, trong đó đã xác định rõ “Vai trò chủ đạo kinh
tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; DNNN
được đổi mới, phát triển, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả”[34]. Sau 10 năm thực hiện,
tháng 12 năm 2011, Hội nghị báo cáo tổng kết việc thực hiện Chiến lược này đã được
tổ chức tại Hà Nội. Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo thì kết quả đạt được là DNNN
giảm về số lượng, nhưng doanh nghiệp trong những ngành, lĩnh vực quan trọng thì
quy mô vốn tăng lên, hiệu quả hoạt động tốt hơn, cơ bản thực hiện được vai trò nòng
cốt của kinh tế nhà nước, làm công cụ vật chất để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhìn chung, kết quả đổi mới và phát triển doanh nghiệp mang tính tích cực và
khả quan. Hiện đã có 4.750 DNNN đã được sắp xếp lại[67]. Riêng tại Thành phố Hồ
Tuy nhiên, Dự thảo Văn kiện cũng xác định là DNNN hoạt động kém hiệu quả,
chưa thể hiện được vai trò lực lượng nòng cốt của kinh tế Nhà nước. Tái cơ cấu
DNNN, cổ phần hóa, thoái vốn ở một số doanh nghiệp chưa đạt tiến độ. Tỉ lệ vốn
được cổ phần hóa còn thấp. Quản trị doanh nghiệp đổi mới còn chậm; kiểm tra, giám
sát nội bộ còn hạn chế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều DNNN thấp, chưa
tương xứng với tài sản và nguồn lực, thất thoát, lãng phí còn lớn.
Footer Page 2 of 258.
Header Page 3 of 258.
Nhiều nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng vấn đề quản lý vốn nhà nước tại
các DNNN còn nhiều bất cập như đối với đầu tư khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng cao
nhưng không tập trung mà bố trí dàn trải, nhiều công trình đầu tư không đồng bộ và
mục đích đầu tư không phù hợp với mục đích sử dụng nên hiệu quả sử dụng vốn rất
thấp[35]. Bên cạnh đó, một số tập đoàn, tổng công ty đã thành lập các công ty con và
đầu tư vào những lĩnh vực ngoài nhiệm vụ chính được giao nhưng kiểm soát thiếu
chặt chẽ làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp; tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN
tuy đã rõ hơn nhưng vẫn còn nhiều lúng túng và quản lý kém hiệu quả... Do đó, nhà
nước cần có một cơ chế quản lý vốn để tránh tình trạng này. Ngoài ra, cũng cần có các
giải pháp để giúp các DNNN, đặc biệt là các Tổng công ty, các Công ty TNHH MTV
đang nắm giữ 100% vốn nhà nước và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty
con quản lý thật hiệu quả vốn nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh
trong cơ chế thị trường.
Bên cạnh những vấn đề về quản lý vốn nhà nước mang tính chất thực tiễn như
trên, vấn đề lý luận cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong thời gian qua,
khung pháp lý về hoạt động cũng như cơ chế, hệ thống giám sát tài chính doanh
nghiệp luôn được nhà nước quan tâm và hoàn thiện, sao cho cơ chế giám sát tài chính
được thực trạng hoạt động của các tổng công ty 90-91, các tập đoàn kinh tế và việc
quản lý nhà nước đối với các tổng công ty 90-91 theo hướng hình thành tập đoàn kinh
tế tại Việt Nam; đã đưa ra các kiến nghị về phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm
thực hiện hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổng công ty 90-91 theo hướng hình
thành tập đoàn kinh tế tại Việt Nam.
Tuy nhiên, ở đề tài nghiên cứu này, tác giả luận án chưa đề cập đến tính đặc thù
trong hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn
kinh tế nhà nước, được gọi chung là DNNN; các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả
quản lý vốn nhà nước tại các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn kinh tế nhà nước,
các DNNN.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Nam về đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý vốn
và tài sản đối với các tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở
Việt Nam” năm 2005 cũng đã tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi
mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các tổng công ty 91 phát triển theo mô hình
tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam. Điểm tương đồng của công trình nghiên cứu trên với
đề án này là cùng nghiên cứu về vấn đề quản lý vốn trong phạm vi DNNN nhưng chỉ
Footer Page 4 of 258.
Header Page 5 of 258.
ở một góc nhìn hẹp về chủ thể bị quản lý và cơ chế quản lý mà chưa có nghiên cứu
bao quát về vấn đề quản lý vốn của loại hình DNNN.
Ngoài hai luận án cơ bản trên, còn khá nhiều công trình liên quan như Luận
văn của Nguyễn Hồng Thắng về đề tài “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau
khi cổ phần hóa DNNN (nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy Len Hà Đông)”, năm
2010. Những thành công của đề tài này là làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về
doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN, vốn nhà nước và quản lý vốn nhà nước tại các
doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Luận văn cũng đã đánh giá đúng thực trạng quản lý
Header Page 6 of 258.
Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu này xoay quanh vấn đề là làm thế nào để
quản lý hiệu quả DNNN (trong đó có quản lý vốn). Các nghiên cứu thiên về việc xác
định mô hình doanh nghiệp để việc quản lý nhà nước được hiệu quả hơn.
Nhóm thứ hai nghiên cứu sâu hơn về vấn đề quản lý vốn. Có thể kể tên các
công trình như “Tái cấu trúc danh mục đầu tư nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng vốn
của Tổng Công ty Bến Thành” [24]; “Những giải pháp tài chính về quản lý vốn của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường” [5] ; “Cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các
doanh nghiệp”
[22]
; “Đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp” [27]; “Chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp”
[36]
...
Nội dung chủ yếu có thể khái quát từ các công trình này là đưa ra cơ sở lý luận
và cơ sở pháp lý về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp; đánh giá thực
trạng hoạt động của các DNNN và thực trạng quản lý nhà nước đối với vốn nhà nước
đầu tư vào các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhận định chung là các nghiên cứu này chưa
xác định rõ các khái niệm vốn, DNNN, quản lý vốn nhà nước đầu tư trong các DNNN
(mà hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau). Các công trình trên cũng chưa đi
sâu vào phân tích về Công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước cũng như cơ chế cho
việc đầu tư vốn vào loại hình doanh nghiệp này một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, các trang điện tử cũng có nhiều bài viết về vấn đề quản lý vốn
nhà nước. Trong chừng mực nhất định, các bài viết này cũng góp phần làm nên bức
DNNN trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời chỉ ra những hạn chế yếu kém còn tồn
tại nhằm kiên quyết điều chỉnh để DNNN có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong đổi mới ứng
dụng khoa học công nghệ, sớm chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành và
hoàn thành việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước.
Bên cạnh đó cũng cần bổ sung, hoàn thiện thể chế quản lý DNNN. Các DNNN phải
được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp
với Luật Doanh nghiệp, áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với kinh tế thị
trường và thực hiện chế độ kiểm toán, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, công khai minh
bạch. Song song với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh
nghiệp thì cần phải tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của chủ sở hữu nhà nước,
nhất là việc phê duyệt điều lệ, quyết định chiến lược phát triển kinh doanh, quản lý
vốn và tài sản tại doanh nghiệp…
Với chủ trương mang tính chất định hướng cơ bản như vậy nhưng các công
trình nghiên cứu đã liệt kê trên chưa đề cập đến làm thế nào để quản lý vốn nhà nước
thật hiệu quả; làm sao vận dụng cơ chế quản lý vốn cho phù hợp với các DNNN tại
một địa phương có nhịp sống kinh tế sôi động và đa dạng như TP.HCM. Do đó, Luận
Footer Page 7 of 258.
Header Page 8 of 258.
án “Quản lý hiệu quả vốn tại các Doanh nghiệp nhà nước – từ thực tiễn Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Thành phố Hồ Chí Minh” sẽ là một bước
hoàn thiện các nghiên cứu trên theo hướng quản lý hiệu quả vốn nhà nước trong các
DNNN. Đồng thời, đây có thể xem là công trình nghiên cứu đầu tiên dưới góc độ quản
lý kinh tế nhằm đánh giá toàn diện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các DNNN
trực thuộc UBND TP.HCM, một vùng kinh tế động lực lớn nhất Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận án sẽ đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm duy trì và phát
huy những mô hình quản lý tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực để nâng cao hiệu
sát việc quản lý vốn và cơ chế giám sát vốn nhà nước tại các DNNN của một số nước
trên thế giới như Trung Quốc, Singapore, các nước thành viên của Tổ chức phát triển
và hợp tác kinh tế - OECD. Kết quả nghiên cứu mang tính chất tham khảo cho việc
quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp được hiệu quả hơn.
Sau khi nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý
cũng như thực trạng về quản lý vốn nhà nước nói chung và của TP.HCM nói riêng,
phần cuối của luận án sẽ đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý vốn tại các Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND TP.HCM. Các kiến nghị
và giải pháp sẽ tập trung vào các vấn đề như chính sách đầu tư vốn của nhà nước, chủ
thể quản lý vốn, nội dung quản lý, hình thức quản lý vốn và cơ chế kiểm tra, giám sát
của nhà nước tại các doanh nhiệp nhà nước - Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND
TP.HCM.
3.2. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
1) Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về vốn và quản lý vốn của DNNN, nhìn từ
góc độ Công ty TNHH MTV.
2) Thực trạng quản lý vốn tại Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND
TP.HCM.
3) Biện pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại các Công ty
TNHH MTV trực thuộc UBND TP.HCM.
4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn cao. Bên cạnh
đó, yêu cầu của đề tài cũng vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể nên việc
xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài đóng một vai trò hết sức quan trọng. Căn cứ
vào mục tiêu đề ra, luận án được nghiên cứu theo các phạm vi sau:
Footer Page 9 of 258.
Header Page 10 of 258.
Footer Page 10 of 258.
Header Page 11 of 258.
thực trạng quản lý vốn nhà nước tại các Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND
TP.HCM.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các tác động tích cực, các tác
động hạn chế làm cơ sở để đề xuất các giải pháp.
- Ngoài ra, đề tài cũng tham khảo, tư vấn ý kiến chuyên gia thông qua phiếu
xin ý kiến và hội thảo hoặc gởi luận án bản thảo đến cho các chuyên gia, các nhà quản
lý nhà nước, các nhà khoa học có uy tín am hiểu về đề tài luận án góp ý để tác giả luận
án hoàn thiện các đánh giá, nhận định cũng như đề xuất các giải pháp của đề tài.
Khung lý thuyết nền tảng được sử dụng trong nghiên cứu này là lý thuyết về
vốn. Trên cơ sở các định nghĩa về vốn, tác giả đi sâu phân tích về vốn tại DNNN, về
hiệu quả vốn và quản lý hiệu quả vốn tại DNNN.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Về cơ bản:
- Để đánh giá hiệu quả quản lý vốn tại các Công ty TNHH MTV trực thuộc
UBND TP.HCM, tác giả đã sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập, phân tích,
tổng hợp bởi các cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Chi cục
Tài chính doanh nghiệp và Ban quản lý đổi mới doanh nghiệp.
- Về dữ liệu thứ cấp, tác giả đã xây dựng mẫu khảo sát và tiến hành phát phiếu
nhằm thu thập các ý kiến đánh giá đối với những nội dung mà yêu cầu của đề tài đặt
ra. Đối tượng khảo sát được chọn là các nhà lãnh đạo về kinh tế, cơ quan quản lý
doanh nghiệp, các doanh nghiệp và chuyên gia tại TP.HCM, cụ thể như: lãnh đạo
Thành phố (Thường trực Thành ủy, UBND TP. Hồ Chí Minh); các cơ quan quản lý
doanh nghiệp Trung ương và thành phố (Ban tổ chức, Thanh tra Bộ Tài chính, VP.
UBND TP. HCM, lãnh đạo các Sở - Ban – Ngành liên quan: Sở Tài Chính, Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Sở Lao động Thương binh và Xã hội…), khối Tổng
Công ty và Công ty lớn (hoạt động theo mô hình Công ty mẹ, Công ty con) gồm 17
vi không gian xác định (Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, về cơ bản vẫn chưa bao
quát hết tất cả các vấn đề về quản lý vốn của DNNN nói chung.
7. Nội dung nghiên cứu
Kết cấu và nội dung cơ bản của luận án tập trung vào ba vấn đề chính: 1) Cơ sở
lý luận, cơ sở pháp lý về vốn của DNNN – nhìn từ góc độ Công ty TNHH MTV; 2)
Thực trạng quản lý vốn tại các Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND TP.HCM và;
3) Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại Công ty TNHH MTV trực thuộc
UBND TP.HCM.
Footer Page 12 of 258.
Header Page 13 of 258.
Phần mở đầu là phần nghiên cứu tổng quan trong đó nêu lên tính cấp thiết của
đề tài. Bên cạnh những nhận định chung thì luận án đã thực hiện nghiên cứu tổng
quan về tình hình nghiên cứu của đề tài để từ đó xem xét, đánh giá những vấn đề mà
các tác giả khác đã nghiên cứu cũng như những kết quả mà họ đã đạt được để từ đó có
được cái nhìn khái quát chung cho luận án cũng như xác định đúng đắn mục tiêu, tính
mới, tính hợp lý và định hướng nghiên cứu của đề tài.
Bên cạnh đó, trên cơ sở định hướng về mặt nội dung, Phần mở đầu cũng giới
hạn phạm vi nghiên cứu để đề tài mang tính chuyên sâu và bảo đảm giá trị thực tiễn.
Những phương pháp như phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích thống kê và khảo
sát thực tế, phương pháp phân tích, tổng hợp cũng như việc tham khảo, tư vấn ý kiến
chuyên gia thông qua hội thảo, phiếu xin ý kiến, để nội dung đề tài được phong phú
nhưng hợp lý, đúng hướng và đảm bảo các giải pháp mang tính khả thi cao.
Chương 1 là chương nghiên cứu mang tính chất lý luận và pháp lý các khái
niệm cơ bản về vốn và quản lý vốn của một doanh nghiệp. Chương này tập trung phân
tích vào vai trò, đặc điểm hoạt động của DNNN và quản lý vốn DNNN. Bên cạnh đó,
vấn đề quản lý vốn và cơ chế giám sát vốn tại các DNNN của một số nước trên thế
giới như Singapore, Trung Quốc… Mục đích của phần này là tìm hiểu cách thức mà
như giá trị của đề tài, cụ thể đó là những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý vốn tại các Công ty TNHH MTV trực thuộc UBND TP.HCM.
Footer Page 14 of 258.
Header Page 15 of 258.
1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
1.1. Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về vốn và quản lý vốn của doanh nghiệp
nhà nước
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp về nguyên tắc, phải là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo quy định tại Khoản 22, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNNN là
doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Vừa mới đây, Quốc hội
đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực vào ngày 01/07/2015, sau đây gọi
tắt là Luật Doanh nghiệp 2014), Luật này có quy định thêm chương Doanh nghiệp nhà
nước (Chương IV). Theo cách giải thích từ ngữ ở Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì
DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Bên cạnh là một tổ
chức kinh tế được đầu tư vốn bởi nhà nước, DNNN có tư cách pháp nhân và hoạt
động nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao cho. Các mục tiêu
kinh tế xã hội này có thể là hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích.
hạn từ hai thành viên trở lên do các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh là chủ sở hữu
vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Việc xác định những công ty này thuộc phạm vi DNNN
có mục đích chủ yếu là đặt ra một số quy định riêng để điều chỉnh từng loại hình
doanh nghiệp.
- Căn cứ vào mục đích hoạt động thì DNNN cũng bao gồm hai loại là DNNN
hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích. Việc phân loại theo tiêu chí này
giúp doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu hoạt động chính của mình. Nhà nước sẽ có
cơ chế quản lý và có chính sách phù hợp với từng loại doanh nghiệp.
- Căn cứ vào quy mô và hình thức thì có DNNN độc lập (không ở trong cơ
cấu tổ chức của doanh nghiệp khác); doanh nghiệp thành viên và Tổng công ty Nhà
nước. Trong đó, DNNN thành viên là doanh nghiệp nằm trong cơ cấu tổ chức của một
doanh nghiệp lớn hơn. Tổng công ty Nhà nước là DNNN có quy mô lớn bao gồm các
đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ,
thông tin, đào tạo... trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do
Nhà nước thành lập nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá
và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu
Footer Page 16 of 258.
Header Page 17 of 258.
3
quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn tổng công ty, đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế.
- Căn cứ vào cách thức tổ chức, quản lý doanh nghiệp gồm có DNNN có Hội
đồng thành viên (là DNNN mà ở đó Hội đồng thành viên thực hiện chức năng quản lý
hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý
nhà nước được Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của doanh nghiệp) và DNNN
không có Hội đồng thành viên (là DNNN lựa chọn mô hình Chủ tịch công ty theo chế
được cấp phép. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có tài sản để hoạt động. Tài sản này
được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư, vốn do doanh nghiệp huy động và vốn
do doanh nghiệp tạo lập thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh. Vốn đóng vai trò
quyết định trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp
phải có lao động làm thuê vì doanh nghiệp muốn hoạt động phải có nguồn nhân lực.
Đặc điểm chung cuối cùng là mục đích hoạt động chủ yếu của các doanh
nghiệp là nhằm mục đích kinh doanh. Đây là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt
doanh nghiệp với các tổ chức xã hội hay hiệp hội nghề nghiệp. Doanh nghiệp hoạt
động dưới mục đích sinh lời và mục đích này là một thuộc tính không tách rời của
doanh nghiệp[38].
Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt nhất định và do đó,
chúng cũng có một số điểm đặc thù. Đối với DNNN thì có các đặc điểm riêng biệt
sau:
- Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập. DNNN
đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy
việc thành lập doanh nghiệp là cần thiết. Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc
chỉ thành lập trong những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế với
những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm đó và chủ trương của Đảng và nhà
nước về ngành nghề lĩnh vực đó.
- DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của
DNNN là một bộ phận của tài sản Nhà nước. DNNN sau khi được thành lập là một
chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với
tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở
hữu của Nhà nước. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu
trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao.
- DNNN do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã
hội do Nhà nước giao. Đây là một đặc điểm khác biệt so với các doanh nghiệp nói
chung. Nếu đa phần các doanh nghiệp thành lập với mục đích thuần túy là kinh doanh
để kiếm lợi nhuận thì DNNN có khi được thành lập nhằm mục đích thực hiện các
nhiệm vụ công ích, phục vụ lợi ích công cộng, cung ứng dịch vụ công cộng theo các
gia. Trong bất cứ lĩnh vực nào, DNNN cũng đóng một vai trò cốt lõi.
Vai trò chủ đạo và chiến lược của DNNN trong các thành phần kinh tế
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 51, Hiến pháp 2013 thì nền kinh tế Việt Nam
là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Với tư cách là một bộ
phận cấu thành của kinh tế nhà nước, DNNN đóng vai trò quyết định trong cơ cấu các
Footer Page 19 of 258.
Header Page 20 of 258.
6
thành phần kinh tế, thực hiện nhiệm vụ mà nhà nước và xã hội giao phó. Chủ đạo ở
đây được hiểu là chủ đạo về vốn sở hữu, chủ đạo về ngành kinh tế, chủ đạo về hiệu
quả sử dụng vốn, chủ đạo về quy mô GDP tạo ra, chủ đạo về an sinh xã hội và lợi ích
cộng đồng, chủ đạo về khoa học kỹ thuật và nghiên cứu, chủ đạo về chính trị và an
ninh quốc phòng[64]. Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện ở các mặt như tạo ra của cải
cho xã hội cũng như tạo động lực phát triển kinh tế; mở đường và hỗ trợ các thành
phần kinh tế khác, bảo đảm tăng trưởng đồng bộ nền kinh tế; vai trò xung kích trong
việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước[20].
Trong thời gian qua, DNNN cơ bản đã hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ chủ
sở hữu giao, đã tạo lập, dẫn dắt, thúc đẩy việc hình thành, phát triển nền hạ tầng kinh
tế cơ bản và thiết yếu, tạo đà cho phát triển kinh tế xã hội; thúc đẩy cạnh tranh, hội
nhập kinh tế thế giới. Hiện nay, hệ thống DNNN đã và đang được sắp xếp lại, góp
phần phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh khu vực. Mặc dù, tỷ trọng GDP giảm
dần (từ mức 34,72% năm 2009 còn 31,87% năm 2015) nhưng vị trí của DNNN vẫn
bảo đảm vai trò chủ đạo của nền kinh tế do ngành nghề, lĩnh vực hoạt động chính,
then chốt, thiết yếu của DNNN đã góp phần tạo ra vị trí chủ đạo của nền kinh tế nhà
định thị trường vốn; chính sách đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, thiết thực cho nền
kinh tế quốc dân; bảo vệ sản xuất trong nước, chống độc quyền và bảo đảm cạnh tranh
lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Để thực hiện có hiệu quả các chính sách đó, DNNN được xem như là một công
cụ điều tiết quan trọng. Thứ nhất, các DNNN có lợi thế kinh tế so với các loại hình
doanh nghiệp khác hoạt động trong những lĩnh vực then chốt, đi đầu trong hoạt động
đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn kinh doanh phức tạp nhằm điều tiết thu nhập và thực
hiện chính sách phúc lợi công cộng. Thứ hai, DNNN là nhân tố quyết định trong sự
tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách đầu tư mang tính quyết định của nhà nước.
Thứ ba, DNNN là công cụ để khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường như
độc quyền hay lũng đoạn. Nền kinh tế thị trường luôn tạo ra tình trạng mất cân đối và
nguy cơ rối loạn thị trường (cả về sản phẩm và giá cả). Có sự can thiệp của nhà nước
thông qua các hoạt động của DNNN sẽ tạo một hiệu ứng rất lớn đối với sự ổn định
kinh tế và khắc phục hậu quả khủng hoảng kinh tế (nếu có). Thứ tư, DNNN góp phần
cân đối phân phối phúc lợi xã hội như tạo công ăn việc làm hay phát triển cân bằng
kinh tế giữa các vùng[21].
Vai trò xã hội của doanh nghiệp nhà nước
Xét về mặt bản chất, nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế và
xã hội một cách toàn diện, trong đó bao gồm cả mục tiêu xóa dần những cách biệt về
mọi mặt giữa thành thị và nông thôn, vùng đồng bằng và vùng cao, giữa dân tộc đa số
Footer Page 21 of 258.
Header Page 22 of 258.
8
và các dân tộc thiểu số… DNNN xét từ khía cạnh vai trò xã hội, đã đóng vai trò rất
đặc biệt trong việc thực hiện những mục tiêu phát triển và cân bằng xã hội. Mục tiêu
kinh tế Việt Nam là phát triển nền kinh tế thị trường nhưng phải giải quyết được
Header Page 23 of 258.
9
Vai trò quan trọng trong việc nộp thuế
Một trong những chức năng của DNNN kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Trong trường hợp này, lợi nhuận là thước đo tính hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Lợi nhuận ngoài việc giúp nhà nước thu hồi vốn đầu tư, nó còn giúp cho
doanh nghiệp tái sản xuất, phát triển, mở rộng và nộp ngân sách dưới dạng thuế và các
khoản thu khác. Đây không chỉ là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước mà còn
là biểu hiện cho sự hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả của DNNN.
DNNN đóng góp một nguồn tài chính hết sức to lớn cho ngân sách nhà nước.
Điều này đã được minh chứng thông qua việc đóng thuế thu nhập doanh nghiệp của
các DNNN. Ví dụ, theo Vietnam Report (Công ty cổ phần báo cáo đánh giá Việt
Nam) và Tạp chí Thuế (Tổng cục thuế), tổng thuế thu nhập doanh nghiệp của 1000
doanh nghiệp trong bảng xếp hạng V1000 năm 2013 là 77 nghìn tỷ đồng, trong đó
DNNN chiếm 52,6%[71].
Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta thì vai trò định hướng, điều
tiết nền kinh tế của Nhà nước và kinh tế nhà nước là rất quan trọng. DNNN không
những là một đơn vị kinh doanh mà vai trò của nó còn phải được thể hiện trong nhiều
lĩnh vực văn hóa, xã hội và phát triển con người. Đây là điều khác biệt rất cơ bản giữa
loại hình DNNN với các loại hình doanh nghiệp khác.
1.1.2. Vốn và phân loại vốn của doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm vốn của Doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm về vốn
Vốn là điều kiện cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh
nghiệp, nhưng mục đích cao nhất của doanh nghiệp chính là lợi nhuận. Điều đó đồng
nghĩa với doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có của
mình, trong đó sử dụng hiệu quả nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc đối với mọi hoạt động
sinh lợi[61].
Cùng với quan điểm trên, từ góc độ tài chính cũng đưa ra khái niệm gần như
tương tự. Vốn, theo quan niệm này chính là tất cả các tài sản bỏ ra ban đầu (thường là
tiền) để phục vụ cho mục đích kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi [61].
Vốn là điều kiện tiên quyết cho doanh nghiệp bởi lẽ nó là điều kiện cần cho
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, vốn luôn vận động và thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm cuối
cùng là giá trị tiền nên đối với các doanh nghiệp, vốn là toàn bộ tài sản mà doanh
nghiệp thiết lập ban đầu và vận dụng vào kinh doanh để tăng giá trị khối tài sản đó ở
mức độ cao nhất có thể được[61].
Footer Page 24 of 258.
Header Page 25 of 258.
11
Khái niệm vốn của Doanh nghiệp nhà nước
Theo Điều 3 Nghị định 71/2013/NĐ-CP ban hành ngày 11/07/2013 về đầu tư
vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (sau đây gọi tắt là Nghị định 71) thì “Vốn nhà nước
tại doanh nghiệp” là vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước, các quỹ tập trung của
nhà nước khi thành lập doanh nghiệp và bổ sung trong quá trình hoạt động kinh
doanh; các khoản phải nộp ngân sách được trích để lại; nguồn Quỹ đầu tư phát triển
tại doanh nghiệp; Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn nhà nước được tiếp nhận từ
nơi khác chuyển đến; giá trị quyền sử dụng đất, quyền sử dụng tài nguyên quốc gia
được Nhà nước giao và ghi tăng vốn nhà nước cho doanh nghiệp; các tài sản khác
theo quy định của pháp luật được Nhà nước giao cho doanh nghiệp.
Vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng được quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật