Nghiên cứu nhân giống cây đinh lăng lá nhỏ polycias fruticosa l harm bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN VĂN THANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY ĐINH LĂNG LÁ NHỎ

(Polycias fruticosa L. Harm.) BẰNG PHƢƠNG PHÁP
NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Công nghệ Sinh học
Khoa

: CNSH - CNTP

Khóa học

: 2012 - 2016

Thái Nguyên, năm 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------


Thái Nguyên, năm 2016


i

LỜI CẢM ƠN
Đƣợc sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trƣờng, ban chủ nhiệm Khoa
Công nghệ sinh học Và công nghệ thực phẩm trong thời gian thực tập tốt
nghiệp em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhân giống cây Đinh lăng lá
nhỏ (Polycias fruticosa L. Harm.) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
thực vật”.
Qua 5 tháng thực tập tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp phía
bắc đến nay em đã hoàn thành đề tài. Để đạt kết quả nhƣ ngày hôm nay em
xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trƣờng, ban chủ nhiệm khoa cùng
các thầy cô giáo bộ môn công nghệ sinh học, cùng các anh chị phòng công
nghệ sinh học trong viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Em xin bày tỏ long biết ơn sâu sắc tới Cô giáo Ths. Nguyễn Thị Tình
và chị Phạm Thị Thảo đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn em trong thời gian thực
hiện đề tài.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng động
viên, giúp đỡ tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho em trong quá trình học
tập và nghiên cứu. Do thời gian thực tập đề tài có giới hạn nên đề tài không
thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô và các bạn để đề tài của em đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày

tháng

nhất kết hợp với NAA đến khả năng nhân nhanh chồi cây
Đinh lăng sau 3 tuần tiến hành thí nghiệm. ................................ 34

Bảng 4.5.

Kết quả ảnh hƣởng của hàm lƣợng Auxin (NAA, IBA) đến
khả năng ra rễ của chồi cây Đinh lăng lá nhỏ trong 30 ngày. .... 36

Bảng 4.6.

Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng một số loại giá thể đến khả
năng sinh trƣởng và phát triển của cây con in vitro ở vƣờn
ƣơm sau 2 tuần............................................................................ 38


iii

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1:

Trang
Cây Đinh lăng lá nhỏ .................................................................... 2

Hình 2.1:

Vƣờn đinh lăng trồng ở hộ gia đình ........................................... 12

Hình 4.1:

Biểu đồ thể hiện ảnh hƣởng của thời gian khử trùng bằng

iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2,4D

: 2,4 Diclorophenoxy axetic axit

BAP

: 6-benzin- aminopurin

CT

: Công thức

ĐC

: Đối chứng

GA3

: Axit giberilic

IBA

: Indol butylic acid

MS

: Murashige & Skoog

2.3.3. Ảnh hƣởng của các chất điều tiết sinh trƣởng tới quá trình nuôi cấy mô tế
bào thực vật ...................................................................................................................14
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....18
3.1. Vật liệu và phạm vi nghiên cứu...........................................................................18


vi

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu.......................................................18
3.3. Hóa chất và thiết bị sử dụng ................................................................................18
3.3.1 Hóa chất ...............................................................................................................18
3.3.2 Thiết bị sử dụng ..................................................................................................18
3.4. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................19
3.5 . Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................19
3.5.1 Điều kiện bố trí thí nghiệm ................................................................................19
3.5.2. Chuẩn bị môi trƣờng nuôi cấy mô tế bào thực vật .........................................19
3.5.3. Nội dung 1: .........................................................................................................20
3.5.4. Phƣơng pháp nghiên cứu nội dung 2 .............................................................21
3.5.5. Phƣơng pháp nghiên cứu nội dung 3 ...............................................................22
3.5.6. Phƣơng pháp nghiên cứu nội dung 4 ...............................................................24
3.5.7. Phƣơng pháp xử lý số liệu .............................................................................26
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................................27
4.1. Ảnh hƣởng của thời gian khử trùng HgCl2 0.1% đến đến kết quả khử
trùng mẫu Đinh lăng. .................................................................................................27
4.2. Kết quả ảnh hƣởng của một số môi trƣờng đến khả năng tái sinh chồi cây
Đinh lăng.......................................................................................................................29
4.3. Kết quả ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng tới khả năng nhân
nhanh của chồi cây Đinh lăng. .................................................................................31
4.3.1. Kết quả ảnh hƣởng của nồng độ loại cytokine đến khả năng nhân nhanh
chồi cây Đinh lăng. .....................................................................................................31

saponin, alkaloit, các vitamin B1, B2, B6, C, 20 axit amin, glycosit,
phytosterol, tanin, axit hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lƣợng: K, Mn, Ca,
Mg, Fe, Lo, Zw và 21,10 % đƣờng. Hai hợp chất chính và quan trọng nhất
trong cây Đinh lăng là polyacetylen và saponin tripterpen. Trong đó, hợp chất
polyetylen tách chiết đƣợc có tính kháng khuẩn rất mạnh và kháng một số
dạng ung thƣ, còn hợp chất saponin tripterpen có tác dụng chống stress, chống
trầm cảm, chống oxi hóa rất tốt [13], [14], [20].
Dựa trên những nghiên cứu về dƣợc tính của cây Đinh lăng, một số chế
phẩm từ Đinh lăng hiện nay đang đƣợc sử dụng nhƣ cao đặc Đinh lăng, tinh
sâm PANA, rƣợu thuốc ngọt, viên ngậm DINLAN. Điều này cho thấy nhu cầu
về nguồn nguyên liệu Đinh lăng để làm thuốc chữa bệnh ngày càng tăng. Tuy
nhiên, nguồn nguyên liệu khai thác trong tự nhiên thƣờng phân tán, cho chất
lƣợng không đồng đều và số lƣợng hạn chế. Vì vậy, nhân giống in vitro là
phƣơng pháp ƣu việt nhằm thu nhận nguồn nguyên liệu ổn định, cây giống
đồng đều, sạch bệnh, làm tăng hoạt chất sinh học so với nguyên liệu ban đầu.
Cây đinh lăng mang giá trị dƣợc liệu rất cao nhƣng các chế phẩm chứa Đinh
lăng còn khá ít trên thị trƣờng, nguyên nhân là do nguồn nguyên liệu còn hạn
chế, nếu trồng theo phƣơng pháp tự nhiên thì cần phải 3 - 5 năm mới thu hoạch
đƣợc rễ.


2

Để thúc đẩy việc sử dụng Đinh lăng trong sản xuất dƣợc phẩm cần đảm
bảo vấn đề nguyên liệu, hiện nay các mô hình trồng cây đinh lăng với quy mô
lớn đủ để làm vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp dƣợc liệu là chƣa
có, vì việc nhân giống bằng phƣơng pháp giâm hom truyền thống tuy đơn
giản giá thành rẻ nhƣng để có đƣợc một số lƣợng cây giống lớn thì phải
mất rất nhiều vụ gây nuôi mất thời gian và cây con không đồng đều. Mặt
khác trồng theo phƣơng pháp truyền thống phải mất thời gian dài mới đƣợc


- Ý nghĩa khoa học
Sau khi đề tài hoàn thành đã bổ xung vào kiến thức lý thuyết đã đƣợc
học thông qua hoạt động nghiên cứu thực tiễn, giúp cho bản thân có thêm
kiến thức, tích lũy đƣợc kinh nghiệm thực tế, đồng thời tiếp cận với công tác
nghiên cứu khoa học để phục vụ cho công việc nghiên cứu và các công tác
khác.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thành công sẽ tạo ra đƣợc một lƣợng lớn cây Đinh
lăng giống sạch bệnh có chất lƣợng tốt, cung cấp đủ lƣợng giống cần thiết
phục vụ cho sản xuất đại trà. Nghiên cứu còn tạo ra những cơ sở khoa học cho
việc nhân nhanh nhiều loài cây trồng có giá trị kinh tế khác nhau


4

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sơ lƣợc về cây Đinh lăng
2.1.1. Nguồn gốc và vị trí phân loại
Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynésie thuộc cộng hòa Pháp
nằm ở phía nam Thái Bình Dƣơng. Tên khoa học của Đinh lăng là Polyscias
fruticosa L.Harms., đƣợc L.Harms mô tả và định tên vào năm 1894. Ngoài ra,
Đinh lăng còn có tên gọi khác là cây gỏi cá hay cây Nam dƣơng lâm.
- Loài: P. fruticosa
- Chi: Polyscias
- Phân họ: Aralioideae
- Họ: Araliaceae - Họ ngũ gia bì
- Bộ: Apiales

Đinh lăng là loại cây gỗ nhỏ, dạng bụi, xanh tốt quanh năm, cây thƣờng
cao 1 - 1,5 m (có thể cao đến 2 m hoặc hơn). Vỏ thân màu trắng nhạt, hơi
xám, thân nhẵn, không có gai, ít phân nhánh, phân cành thấp, thân mang
nhiều vết sẹo lá to hình chữ V, máu xám và những nốt lỗ vỏ, vỏ thân có mùi
thơm nhẹ [1], [19], [33].
 Lá
Lá kép ba lần lông chim, mọc so le, dài 20 - 40 cm, không có lá kèm rõ.
Lá chét có cuống nhỏ mảnh dài 3 - 15 cm, dạng màng, phiến lá chét có răng
cƣa không đều, đôi khi chia thùy, gốc và đầu thuôn nhọn, có chóp nhọn, dài 3
- 10 cm, rộng 0,6 - 4 cm. Cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cuối. Lá
có mùi thơm khi vò nát [2], [19].
 Hoa
Hoa nhỏ thành cờ, tán ngắn dài 7 - 18 cm, cụm hoa mọc ở ngọn thành
chùy ngắn mang nhiều tán, mỗi tán có 15 - 20 hoa nhỏ, lá bắc rộng, sớm rụng.


6

Đài hoa hình chén, gồm 5 lá đài. Hoa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám, có 5
cánh hình trứng thuôn dài 2 - 3 mm, có 5 nhị, chỉ nhị ngắn và mảnh, dài khoảng
1,5 mm, bao phấn kéo dài, bầu hạ, 2 ô, có rìa trắng nhạt [2], [19], [33].
 Quả
Quả dẹt, hình trứng rộng, màu tráng bạc, dài 4 - 5 mm, rộng 3 mm và
dày 1,5 - 2 mm, có vòi tồn tại. Hạt hình thận và hình khối 3 cạnh màu trắng,
kích thƣớc 3 mm, 2 mm, 1 mm, vỏ hạt lồi lõm. Cây ra hoa, quả vào tháng 4
đến tháng 7 [2], [33].
 Rễ
Rễ hình củ cà rốt, cong queo, dài 15 - 30 cm, đƣờng kính 0,5 - 2,5 cm,
đầu trên to, phía dƣới thuôn nhỏ. Mặt ngoài màu trắng xám, có nhiếu nếp
nhăn dọc, nhiều lỗ bì nằm ngang, nhiều vết tích của rễ con và các đoạn rễ còn

năm. Bón phân chuồng mục, mỗi hốc 5 - 15 kg. Hom giống là những cành
bánh tẻ ƣơm trong bầu hay trên luống của vƣờn ƣơm với mật độ 20 - 30 cm.
Sau khi cắm cành, lấp đất, phủ rơm rạ, rồi tƣới ẩm. Chừng 15 đến 20 ngày,
mầm non mọc. Khi cành ra rễ và đâm chồi dài 10 - 20 cm, đánh trồng trên hốc
đã chuẩn bị sẵn. Ở công ty công viên, ngƣời ta thƣờng dâm cành ngay trong
bầu để tiện cho việc vận chuyển và ra ngôi [2].
Hàng năm, cần bón thúc cho cây qua đông và phát triển vào mùa xuân
hè, bằng phân chuồng mục, nƣớc giải, nƣớc phân. Cuốc nhẹ hoặc xới xáo
quanh gốc trồng, rồi bón phân, lấp đất [2].
Đinh lăng ít bị sâu bệnh hại. Nếu có, dùng Wofatoc pha với nồng độ 7 10 phần vạn để phun [2].
2.1.5. Thu hái và chế biến
Trong y học cổ truyền tất cả các bộ phận trên cây Đinh lăng đều có thể
sử dụng làm thuốc. Tuy nhiên, rễ Đinh lăng là bộ phân chứa nhiều hoạt chất
nhất nên đƣợc dùng phổ biến hơn cả [18].
Đinh lăng trồng đƣợc 5 đến 10 năm có thể thu hoạch đƣợc. Rễ thu hái vào
mùa thu, lúc này rễ mềm nhiều hoạt chất nhất. Rửa sạch cắt bỏ phần rễ sát với


8

gốc thân, rễ nhỏ để nguyên, nếu rễ to chỉ dùng vỏ rễ. Nếu có rễ khô thì rửa
sạch đất cát, ủ mềm. Thái phiến dày 3 - 5 mm, phơi khô ở chỗ mát, thoáng
gió, để đảm bảo mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng thƣờng tầm nƣớc gừng
tƣơi 5 % xao qua, rồi tẩm 5 % mật ong (hay mật mía), sao thơm [5], [19],
[24]. Ngoài ra, còn dùng lá, thân và cành làm thuốc.
2.1.6. Thành phần hóa học
Vỏ, rễ và lá Đinh lăng chứa saponin, alkaloit, các vitamin B1, B2, B6,
C, 20 axit amin, glycosit, phytosterol, tanin, axit hữu cơ, tinh dầu, nhiều
nguyên tố vi lƣợng: K, Mn, Ca, Mg, Fe, Lo, Zw và 21,10 % đƣờng. Trong lá
còn có saponin tripterpen (1,65 %), một genin đã xác định đƣợc là axit

Năm 1961, các nhà dƣợc lý dƣợc liệu và giải phẫu bệnh lý Viện y học quân
sự Việt Nam nghiên cứu tác dụng của Đinh lăng và đi đến kết luận: Nƣớc sắc rễ
đinh lăng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể và có tác dụng tƣơng tự nhƣ nhân sâm.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu dƣợc lý, Viện y học quân sự Việt Nam, năm 1964
cho thí nghiệm dùng trên ngƣời thấy với liều 0,23 - 0,50 g bột Đinh lăng mỗi ngày
dƣới dạng thuốc sắc hay thuốc ngâm rƣợu nhẹ (30o) thì có kết quả tăng sức dẻo
dai của cơ thể nhƣ khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm [19].
Ngô Ứng Long và Xavaev (Liên Xô cũ) đã cùng nhận thấy Đinh lăng
có tác dụng tốt với các nhà du hành vũ trụ khi luyện tập trong tƣ thế tĩnh đầu
dốc ngƣợc. Thực nghiệm trên ngƣời, viên bột rễ Đinh lăng làm tăng khả năng
chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể thao [18], [19].
Đinh lăng có tác dụng tăng lực, làm tăng cân, trên động vật thí nghiêm
và cả trên ngƣời. Thân và lá cũng có tác dụng tăng lực nhƣng yếu hơn so với
rễ. Đinh lăng làm tăng hiệu lực điều trị của cloroquin trong bệnh sốt rét thực
nghiệm trên động vật. Ngoài ra, Đinh lăng còn có tác dụng tăng co bóp tử
cung, tăng tiết niệu, kháng khuẩn, giúp an thần và ít độc [40].
Đinh lăng đã đƣợc nghiên cứu và chứng minh có tác dụng nội tiết kiểu
Oestrogen. Nƣớc sắc Đinh lăng còn có tác dụng kháng đối với trùng roi
Euglena viridis, trùng tiêm mao Paramoecium caudatum và một số động vật
nguyên sinh khác trong nƣớc ngâm rơm và nƣớc ao. Nƣớc sắc Đinh lăng còn


10

có tác dụng chống choáng phản vệ ở mức độ vừa, bảo vệ đƣợc 60% chuột
lang qua cơn choáng [39], [40].
Dựa theo kinh nghiệm dân gian, Đinh lăng đƣợc áp dụng trong điều trị
bệnh nhân lị amip cấp. Sau 10 ngày, hết triệu chứng lâm sàng và sau 16 ngày
xét nghiệm lại trong phân hết thể amip thực huyết, hết kén. Đinh lăng còn có
tác dụng kháng Entamoeba histolyrica làm đơn bào co thành kén và có tác

Liều độc: Đinh lăng ít độc, so với Nhân sâm còn ít độc hơn. Giải phẫu
những chuột chết vì liều độc thì thấy gây tổn thƣơng nặng tổ chức cơ sở các
tạng nhất là gan, thận, tim, não, cuối cùng chết. Liều độc tiêm phúc mạc
DL50 của Đinh lăng là 32,9 (g/kg thể trọng) trong khi đó của Nhân sâm là
16,5 (g/kg thể trọng), của Ngũ gia bì Liên Xô cũ là 14,5 (g/kg thể trọng),
chứng tỏ Đinh lăng ít độc hơn 2 vị thuốc Nhân sâm và Ngũ gia bì Liên Xô cũ.
Cho uống với liều 50 (g/kg thể trọng), chuột vẫn sống bình thƣờng [11].
2.2. Tình hình sử dụng Đinh lăng ở Việt Nam và trên thế giới
2.2.1. Trên thế giới
Cây Đinh lăng có nguồn gốc từ đảo Polynésie ở Thái Bình Dƣơng.
Hiện nay, cây đƣợc trồng rộng rãi ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào,
Việt Nam, Trung Quốc [1].
Tại Ấn Độ, theo Naikarai K.M., Đinh lăng đƣợc dùng làm thuốc săn da
và trị sốt. Tại Trung Quốc, Đinh lăng đƣợc sử dụng để tăng cƣờng sức khỏe,
chữa chứng mất ngủ, chữa ho, dị ứng… Ở Campuchia, ngƣời ta còn dùng lá
phối hợp với các loại thuốc khác làm bột hạ nhiệt và cũng dùng làm thuốc
giảm đau.
2.2.2. Ở Việt Nam
Đinh lăng đã xuất hiện từ rất lâu trong nhân dân và đƣợc trồng khá phổ
biến ở vƣờn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện… để làm cảnh, làm thuốc
và rau gia vị [1].
Trong y học cổ truyền, Đinh lăng đƣợc sử dụng nhiều trong điều trị các
căn bệnh nhƣ ho ra máu, dị ứng, mẩn ngứa, làm lành vết thƣơng, lợi tiểu, kiết
lị nặng, tăng sức dẻo dai của cơ thể… Lá Đinh lăng phơi khô đem lót gối hoặc


12

trải giƣờng cho trẻ em nằm phòng bệnh kinh giật. Phụ nữ sau khi sinh uống
nƣớc sắc lá Đinh lăng khô, thấy cơ thể nhẹ nhõm khỏe mạnh, có nhiều sữa, lá

phân chia liên tục và có khả năng phân hóa thành phôi, chồi và cây hoàn chỉnh.
Nhƣ vậy mỗi một tế bào bất kỳ lấy từ cơ thể thực vật đều có khả năng tiềm
tàng để phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh. Khả năng đó gọi là tính toàn
năng của tế bào.
Tính toàn năng là cơ sở của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào, là cơ sở của
công nghệ tế bào thực vật đang ngày càng phát triển và hoàn thiện. Kỹ thuật
nuôi cấy mô và tế bào nhanh chóng trở thành công cụ hữu hiệu trong nhiều
lĩnh vực của công tác giống cây trồng, đƣa nghề trồng trọt vào thế kỷ của
công nghệ hiện.


14

2.3.2. Kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng tạo giống sạch bệnh và nhân
nhanh giống
Năm 1949, Limmasets và Cornuet đã phát hiện rằng, ở các cây nhiễm
bệnh virus, virus phân bố không đồng nhất trên cây và thƣờng không thấy có
virus ở vùng đỉnh sinh trƣởng của cây. Phát hiện đó là cơ sở để Morel và
Martin (1952) chứng minh giả thuyết trên bằng cách tạo đƣợc cây sạch bệnh
virus từ 6 giống khoai tây qua nuôi cấy đỉnh sinh trƣởng [1].
Năm 1976, Morel đã thực hiện bƣớc ngoặt khi áp dụng thành công kỹ
thuật này trong nhân nhanh các loài địa lan Cymbidium thông qua protocom.
Sau đó, việc phát hiện ra cytokinin và môi trƣờng nuôi cấy cải tiến
(Murashige & Skoog, 1962) đã tạo sức sống mới để ứng dụng nuôi cấy đỉnh
sinh trƣởng trong nhân giống thƣơng mại ở thực vật.
Ngày nay, kỹ thuật này cùng với một số cải tiến đã trở thành một phƣơng
pháp loại trừ bệnh virus đƣợc sử dụng rộng rãi đối với nhiều loại cây trồng khác
nhau. Kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trƣởng bao gồm các phƣơng pháp:
- Nuôi cấy mô phân sinh (meristem culture) thực chất là nuôi cấy phần
đỉnh sinh trƣởng không kèm theo lá mầm.

Nhóm giberelin là nhóm đƣợc phát hiện thông qua nhiên cứu bệnh nấm
lúa von. Nhóm này có tác động làm tế bào dãn ra và phân chia, làm cho cây
lùn có thể cao lên đƣợc, nhƣ ngô lùn thành ngô cao, đậu dạng bụi thành dạng
đứng. Đại diện cho nhóm này là axit giberilic (GA3), đƣợc sử dụng rộng rãi
trong nông nghiệp.
- Nhóm Cytokinin
Việc phát hiện ra xytokinin gắn liền với kỹ thuật nuôi cây mô tế bào
thực vật. Năm 1955 Miller và Skoog phát hiện và chiết xuất từ tinh dịch cá
thu một hợp chất có khả năng kích thích sự phân chia tế bào rất mạnh mẽ
trong nuôi cấy mô gọi là kinetin (6 - furfuryl - aminopurin - C10H 9N 5O).


16

Letham và Miller (1963) lần đầu tiên đã tách đƣợc xytokinin tự nhiên ở dạng
kết tinh từ hạt ngô gọi là zeatin và có hoạt tính tƣơng tự kinetin. Sau đó ngƣời
ta đã phát hiện xytokinin có ở trong tất cả các loại thực vật khác nhau và là
một nhóm phytohormone quan trọng ở trong cây. Trong các loại xytokinin thì
3 loại sau đây là phổ biến nhất: Kinetin (6 - furfuryl - aminopurin), 6 - benzin
- aminopurin và Hiện nay ngƣời ta đã phát hiện ra nhiều loại xytokinin trong
các bộ phận đang sinh trƣởng của cây. Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng
xytokinin đƣợc hình thành chủ yếu trong hệ thống rễ. Ngoài ra một số cơ
quan còn non đang sinh trƣởng mạnh cũng có khả năng tổng hợp xytokinin
nhƣ chồi, lá non, quả non, tầng phát sinh.... Ngƣời ta cũng đã phát hiện ra
kinetin là loại xytokinin có nhiều ở trong nƣớc dừa. Xytokinin đƣợc vận
chuyển trong cây không phân cực nhƣ auxin, có thể vận chuyển theo hƣớng
ngọn và hƣớng gốc. Xytokinin có thể ở dạng tự do và dạng liên kết tƣơng tự
nhƣ các phytohormone khác. Ở trong cây chúng bị phân giải dƣới tác dụng
của enzyme, tạo nên sản phẩm cuối cùng là urê. Các xytokinin tổng hợp đƣợc
sử dụng trong kỹ thuật nuôi cấy mô là kinetin và benzyladenin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status