MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
3
TÓM TẮT
1. GIỚI THIỆU
Nghiên cứu về cạnh tranh nói chung không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên
cho đến nay chưa có nghiên cứu nào mang tính toàn diện, tổng thể và đầy đủ về
năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ trả tiền. Vì vậy tôi chọn đề tài “Nâng cao
năng lực cạnh tại “ Công ty Cổ phần điện tử tin học viễn thông – Trung tâm truyền
hình cáp EG ” làm đề tài thực tập nghiệp vụ.
Mục tiêu của đợt thực tập nghiệp vụ là tìm hiểu về cơ cấu tổ chức bộ máy
của công ty, tình hình thực trạng và đánh giá được thực trạng công tác nâng cao
năng lực cạnh tranh tại “Cổ phần điện tử tin học viễn thông – Trung tâm truyền hình
cáp EG”.
2.NỘI DUNG
Để tìm hiểu về việc“Nâng cao năng lực cạnh tại Cổ phần điện tử tin học viễn
thông – Trung tâm truyền hình cáp EG ” được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế
tìm hiểu qua các vấn đề sau:
Thứ nhất ,tổng quan về Cổ phần điện tử tin học viễn thông – Trung tâm
truyền hình cáp EG .
Thứ hai, tìm hiểu thực trạng công tác nâng cao năng lực cạnh tranh tại Cổ
phần điện tử tin học viễn thông – Trung tâm truyền hình cáp EG.
Thứ ba, đánh giá va tìm ra nguyên nhân hạn chế của thực trạng nâng cao
năng lực cạnh tranh tại công ty .
Truyền hình trả tiền ở Việt Nam đang được cung cấp theo các hình thức như
5
sau: Truyền hình kỹ thuật số Vệ tinh, Truyền hình kỹ thuật số mặt đất, truyền hình
Cáp và Truyền hình Tương tác qua Internet. Rõ ràng, khi nhu cầu và thu nhập của
người dân ngày càng tăng thì chất lượng nội dung và hình ảnh của truyền hình là
yếu tố quyết định. Truyền hình trả tiền là dịch vụ truyền hình mà người xem – khán
giả sẽ trả một khoản phí cho các nhà cung cấp dịch vụ để được xem các kênh truyền
hình mà họ lựa chọn. Trên thế giới, truyền hình trả tiền xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1982 tại Zurich, Thụy Sỹ. Năm 1986, truyền hình trả tiền có mặt tại Đức. Cuối
năm 1987, tại Mỹ có 30% số hộ gia đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền.
Truyền hình Cáp: Dùng mạng cáp quang và cáp đồng trục để truyền dẫn tín
hiệu đến thiết bị thu. Người xem dò sóng (TV) là có thể xem được các kênh chương
trình, có thể chia nhiều TV trong gia đình.
Thị phần chủ yếu của công ty là khu vực miền Bắc, dịch vụ truyền hình trả
tiền của trung tâm truyền hình cáp EG đang là sự lựa chọn tốt nhất tại Hải Phòng
cũng như tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia, thị
trường truyền hình trả tiền Việt Nam đang ở giai đoạn đầu và đầy tiềm năng, được
dự báo sẽ phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, nhất là khi có sự gia nhập của
các doanh nghiệp mới như Viettel, FPT…Vì thế mức độ cạnh tranh cũng sẽ khắc
nghiệt hơn nhiều trong thời gian tới nên môi trường kinh doanh sẽ có nhiều thay
đổi, nếu chỉ dựa vào các ưu thế trước đây thì Truyền hình cáp EG sẽ khó có thể
đứng vững và tiếp tục phát triển.
6
Điện Tử Tin Học Hải Phòng (Quyết định số 2514 QĐ-UB) trên cơ sở hợp nhất hai
đơn vị: Công Ty Đầu Tư và Phát Triển Kỹ Thuật Phát Thanh Truyền hình và Công
Ty Điện Tử Tin Học Hải Phòng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phù
hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế.
Năm 2004, thực hiện nghị quyết TW3, khóa IX: “Về việc tiếp tục sắp xếp
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà Nước tại Hải Phòng”,
căn cứ vào quyết định của Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, xét đề nghị của
Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp chuyển Công ty Dịch vụ Điện Tử Tin Học Hải
Phòng thành Công Ty Cổ Phần Điện Tử Tin Học Viễn Thông.
Ngày 01/05/2004 Công ty Cổ Phần Điện Tử Tin Học Viễn Thông chính thức
đi vào họat động với tổng vốn điều lệ là 3 tỷ đồng, tên giao dịch quốc tế là
Electronic Telecommunication Informatic Joint. Đến nay tổng số vốn điều lệ của
công ty là 30 tỷ đồng. Trụ sở chính của Công ty nằm ở Tòa nhà Trung tâm thương
mại 18 Trần Hưng Đạo, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải
Phòng. Công ty gồm có 15 đơn vị và chi nhánh trực thuộc từ Bắc vào Nam với tổng
số cán bộ công nhân viên công ty là 421 người. Trong đó trình độ chuyên môn Đại
học, cao đẳng và trên đại học là 101 người, trung cấp là 134 người, công nhân kỹ
8
thuật bậc cao 72 người, lao động phổ thông 114 người.
Tại Hải Phòng công ty là đơn vị đại diện của Đài truyền hình Việt Nam trong
việc cung cấp dịch vụ, phân phối thiết bị DTH tại Hải Phòng và các tỉnh lân cận,
xây dựng Hệ thống truyền hình cáp Hải Phòng và đưa vào khai thác từ tháng
10/2001. Thực hiện triển khai xây dựng mạng truyền hình cáp ra các huyện ngoại
thành như: Đồ Sơn, Cát Bà, Thủy Nguyên…Kết hợp với truyền hình cáp Việt Nam
xây dựng hệ thống truyền hình cáp Hà Nội, triển khai xây dựng hệ thống truyền
hình cáp và khai thác dịch vụ tại khắp các tỉnh thành trong cả nước như: Thị xã
Móng Cái- Quảng Ninh, An Giang, Bình Thuận, Lào Cai, Ninh Thuận, Sơn La, Hậu
thanh truyền hình chuyên dụng, v.v… và nhiều ngành, nghề kinh doanhkhác.
Nguồn: Truyền hình cáp EG
Hình 1.1 : Logo của Truyền hình cáp EG
1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty
Cơ cấu tổ chức
Đứng đầu trong bộ máy quản lý điều hành của công ty là chủ tịch hội đồng
quản trị EG, sau đó đến Ban Tổng giám đốc với 1 Tổng giám đốc, 2 Phó tổng giám
đốc .Giúp việc cho Ban Tổng giám đốc gồm 2 giám đốc:giám đốc kinh doanh và
giám đốc kỹ thuật. Công ty EG có các khối phòng ban chức năng và trung tâm, chi
nhánh trực thuộc là: 10 phòng ban ,chi nhánh trực thuộc (xem Hình 1.2).
10
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức Công ty Cổ phần điện tử tin học viễn thông
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyền lực có thẩm quyền cao nhất của
Công ty gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp mỗi năm ít nhất 01 lần.
ĐHĐCĐ quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công ty quy định.
Đặc biệt, ĐHĐCĐ sẽ quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển Công ty và kế
hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, dài hạn của Công ty; thông qua phương án sử
dụng tài sản và phương án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và hoàn thiện công
nghệ. ĐHĐCĐ cũng là cơ quan bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và các kiểm soát
11
viên.
Hội đồng quản trị của công ty bao gồm 5 thành viên: trong đó một người
đứng đầu làm chủ tịch hội đồng quản trị và bốn ủy viên khác
PHÒNG TỔ CHỨC
PHÒNG
TRUYỀN THÔNG
các chủ trương lớn của doanh nghiệp.
Phòng tổng hợp là một kiểu đơn vị tổng hợp thực hiện rất nhiều các chức
năng nhiệm vụ trong công ty, là nơi thu nhận thong tin từ cấp trên rồi truyền tin
xuống dưới các phòng ban khác
Phòng tổ chức – hành chính là một đơn vị tổng hợp thực hiện rất nhiều các
nhiệm vụ:
Tham mưu cho tổng giám đốc trong doanh nghiệp về tổ chức bộ máy kinh
doanh và bố trí nhân sự phù hợp với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp
Quản lý hồ sơ lý lịch nhân viên toàn doanh nghiệp, giải quyết thủ tục về chế
độ tuyển dụng, thôi việc, bổ nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật, khen thưởng, nghỉ hưu.
GIÁM ĐỐC CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN THÔNG EG
Quy hoạch cán bộ, tham mưu cho giám đốc quyết
địnhÔNG
việc
đề bạt và phân
NGUYỄN NGỌC QUANG
công các cán bộ lãnh đạo và quản lý
C
PH
Thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo hàng tháng, quý về tổ chức nhân sự và
lao động tiền lương theo quy định của pháp luật.
Thực hiện đầy đủ chính sách nghĩa vụ, quyền lợi đối với người lao động như:
BHXH, BHYT, chế độ nghỉ ngơi hàng năm. Duyệt ký chế độ nghỉ phép hàng năm
13
cho người lao động trừ những cán bộ do Tổng giám đốc điều hành quản lý. Ký giấy
giới thiệu thông thường cho quan hệ xã hội dân sự, đảm bảo mọi hoặt động thông
suốt của công ty và tự chịu trách nhiệm hậu quả khi đã ký.
Bảo vệ tài sản an toàn của công ty trong khu cơ quan, khu nhà xưởng, các
công trình công cộng. Đảm bảo trật tự an ninh chính trị nội bộ, xã hội nơi Công ty
tham gia đóng quân và kinh doanh sản xuất. Đảm bảo sự đoàn kết trong cơ quan,
trong các phòng ban nghiệp vụ, giải quyết kịp thời khi có phát sinh trong đời sống
xã hội.
Chỉ đạo việc lập kế hoạch thực hiện công tác huấn luyện tự vệ quân sự hàng
năm theo hướng dẫn của Ban chỉ huy quân sự quận và thành phố.
Chỉ đạo việc phòng chống bão lụt, lập các phương án cứu trợ kịp thời khi có
thiên tai xảy ra.
Đảm nhận việc ghi chép thư ký của các cuộc họp giao ban và các cuộc họp
điều hành sản xuất thường kỳ.
Theo dõi pháp chế về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phòng tài chính kế toán là một đơn vị chuyên chức năng. Tất cả mọi công
việc kế toán đều được thực hiện tập trung ở phòng tài chính kế toán, từ khâu hạch
toán ban đầu, thu thập kiểm tra các chứng từ nghiệp vụ kinh tế phát sinh đến việc
lập báo cáo kế toán do doanh nghiệp tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập
trung. Tổ chức bộ máy kế toán của doanh nghiệp được tổ chức theo kiểu trực tuyến,
kế toán trưởng là người điều hành trực tiếp đối với các kế toán viên không qua khâu
trung gian. Việc tổ chức này làm cho mối quan hệ phụ thuộc bộ máy kế toán trở nên
Tổ chức trang bị và ứng dụng kỹ thuật tính toán và thông tin hiện đại trong
công tác kế toán.
Tổ chức hạch toán chính xác, kịp thời, có hệ thống số hiện có, tình hình luân
chuyển và sử dụng tài sản, lao động, vật tư, tiền vốn, tính toán chi phí sản xuất, giá
thành sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, các khoản thanh toán với ngân sách và
các khoản thanh toán khác của doanh nghiệp theo đúng chuẩn mực và chế độ kế
toán quy định.
Tổ chức hạch toán xác định chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết quả
lãi, lỗ và lợi tức của các nhà đầu tư tài chính vào Công ty.
Thực hiện công tác kiểm tra nội bộ và tư vấn cho Tổng Giám đốc và HĐQT
15
về thuê kiểm toán độc lập khi có yêu cầu phải kiểm toán.
Lập kế hoạch trình HĐQT và Đại hội Cổ đông các phương án trích lập quỹ,
phân chia cổ tức, thực hiện kịp thời việc chi trả cổ tức cho các cổ đông theo đúng
quy chế tài chính theo quyết định của HĐQT và Đại hội Cổ đông Công ty.
Phòng kinh doanh:
Tham mưu giúp Tổng Giám đốc những phần việc sau:
Lập kế hoạch và báo cáo các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty từng
thời kỳ (quý, năm,..), lập các luận chứng kinh tế. Lập kế hoạch đầu tư phát triển, mở
rộng và đầu tư chiều sâu để nâng cao năng lực kinh doanh của Công ty.
Hàng tháng đôn đốc các nhân viên báo cáo khối lượng và kế hoạch công tác
làm cơ sở báo cáo Tổng Công ty.
Quan hệ khai thác khách hàng để mở rộng thị trường.
Nắm bắt nhu cầu của thị trường, bóc tiên lượng, lập dự toán, biện pháp tổ chức
thi công,.lập hồ sơ dự thầu, chào giá đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả.
Theo dõi các đơn vị lập các biểu khối lượng hoàn thành hàng tháng và theo
giai đoạn quy định trong hợp đồng. Lập hồ sơ nghiệm thu, bàn giao, thanh lý hợp
nhập khác
kinh
Chi phí khác
Lợi nhuận khác
Tổng lợi nhuận kế toán trước
Thuế
thuế TNDN
LNST
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Tốc độ tăng trưởng
2014/2013
2015/2014
Tương
Tuyệt
Tương
Tuyệt đối
đối (%)
đối
đối (%)
26,864,936,835 28,266,664,945 29,226,891,949
1,401,728,110
-1,253,266,730
2,654,994,840
5,479,881
-9,137,501
1,019,653,116
1,649,959,106
1,449,090
-1,379
1,447,711
1,638,511,395
-7.60 1,687,909,4
25.61
14131.68 727,682,410
-4,607,277
-90.98
-906,150
14.97 2,454,427,0
46.49
09-30.35 -25,999,200
3,185,810,5
-57.55
48
-30.34 -25,999,248
45.69
3,211,809,70
0
11.07
năm 2014, công ty nhận giảm số lao động so với năm 2013 đi 40 người, hạn chế
đáng kể lãng phí về chi phí tiền lương công nhân viên. Đây cũng chính là một phần
lý do lợi nhuận của công ty năm 2014 tăng lên đáng kể là 2.525.752.557(đồng)
- Doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2014 là 13 tỷ tăng 5.4 triệu tương
đương 131.68%, có sự gia tăng đột biến so với năm trước nhờ hoạt động kinh doanh
vào năm 2014 của công ty có sự chuyển biến tích cực, nên giá cổ phiếu của công ty
trên thị trường chứng khoán cũng tăng mạnh. Mặc dù vậy đến năm 2015 lại có sự
giảm mạnh trong doanh thu từ hoạt động tài chính từ 9.6 tỷ xuống còn 5 tỷ, giảm
47.8%.
- Năm 2013, công ty đã đầu tư một cách dàn trải ở rất nhiều các lĩnh vực tài
chính khiến cho chi phí tài chính đạt mức cao là trên 10 triệu, vượt xa so với doanh
thu tài chính. Đến năm 2014 công ty đã có sự kiểm soát các hoạt động tài chính, chỉ
tập trung vào những hoạt động chính, giảm chi phí tài chính từ 10 triệu xuống gần 1
triệu, và đến năm 2015 thì chi phí cho hoạt động này là 0. Năm 2015 cạnh tranh gay
gắt đòi hỏi công ty phải tập trung nguồn lực phát triển các sản phẩm chính.
- Ngoài ra công ty còn có thu nhập từ hoạt động khác như thanh lý một số loại
18
máy móc thiết bị cũ, nhượng bán lại một số linh kiện không cần thiết cho nhà cung
ứng. Tuy nhiên, con số này là không đáng kể. Năm 2013 có lợi nhuận từ các hoạt
động này là 37.7 triệu, năm 2014 giảm 30.34% còn 26.2 triệu, năm 2015 giảm đến
98.94%, chỉ còn hơn 300 nghìn.
- Phần thuế TNDN và LNST của truyền hình cáp EG được chuyển thẳng về
công ty mẹ để làm quyết toán.
1.4. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật
1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm dịch vụ
- Dịch vụ truyển hìnhcáp
- Dịch vụ kỹ thuậtsố
Quảng cáo - trao đổi, mua bán bản quyền
Cung cấp thiết bị chuyên ngành
25,357
48,452
44,663
55,291
304,579
56,329
23,269
34,965
79,162
-
-
2,299
250,755
497,362
988,345
1.4.3. Đặc điểm về công nghệ
EG đã hoàn thành đầu tư truyến trục truyền dẫn Hà Nội – Hải Phòng sẽ mở
ra nhiều cơ hội về kinh doanh dịch vụ viễn thông. EG tiếp tục xây dựng tuyến trục
truyền dẫn từ TP.HCM đến Hải Phòng và tất cả các tỉnh trên cả nước. Đưa công
nghệ kỹ thuật số vào hoạt động trên 200 kênh truyền hình phục vụ khách hàng.
Triển khai hệ thống mạng 1GHz, node 500 quang hóa tới nhà dân với công nghệ
mới nhất trên thếgiới.
20
Triển khai hệ thống lưu trữ và triển khai VOD trên mạng cáp của EG. Khai
thác đa dịch vụ trên cùng một sợi cáp.
Khi tích hợp nhiều loại hình dịch vụ trên mạng Truyền hình cáp, thì yêu cầu
về chất lượng mạng cũng phải tăng lên, và yêu cầu có nhiều tần số hơn để cho các
dịch vụ khác ngoài dịch vụ cơ bản là Truyền hình cáp. Do đó, Công ty EG đã nghĩ
tới việc nâng cấp hạ tầng mạng hiện có của mình. Việc nâng cấp sẽ được tiến hành
song song đối với mạng HFC hiện hữu.
Nâng cấp hạ tầng mạng theo các tiêu chuẩn Docsis mới nhất Docsis 3.0 mà
theo tiêu chuẩn này, mạng HFC sẽ có băng tần lên đến 1GHz.
Chia node để đảm bảo tín hiệu: Phân bố lại việc sử dụng nguồn tài nguyên
tần số, cắt giảm tần số Analog để phát triển truyền hình kỹ thuật số, sản xuất
chương trình dưa trên công nghệ lưu trữ trung tâm. Hoàn thiện việc tách node 500
và dự phòng điện 200% cho toàn bộ mạng cáp EG.
Ứng dụng triển khai công nghệ Docsis 3.0 để triển khai IP VOI over Docsis
và nâng tốc độ truy cập Internet lên gấp đôi. Hoàn thiện phần mềm quản lý, giám
sát hạ tầng mạng trên phạm vi toàn quốc.
Triển khai dịch vụ VoD, Timeshift TV đến 3 lọai màn hình: TV, máy tính,
thiết bị di động.
Khởi động dự án nhà máy sản xuất và trung tâm bảo hành các đầu STB
Có các kênh chuyên biệt, nội dung cho phong phú phù hợp với từng vùng
miền, lứa tuổi. Ví dụ: Để phục vụ thị phần lớn nhất Miền Bắc và các tỉnh lân cận ,
đa số các chương trình truyền hình thông tin, thể thao, hài, ca nhạc…hiện nay đều
sử dụng tiếng Miền Bắc, các phát thanh viên cũng nói tiếng Miền Bắc- đánh đúng
tâm lý của người xem.
Giá cả: Thay đổi giá theo từng vùng miền, theo điều kiện kinh tế, điều kiện
dân trí, thời hạn thanh toán một cách linh hoạt phù hợp với từng vùng miền. Áp
dụng chính sách hớt bọt (skimming) và chính sách thâm nhập (penetration)
Truyền thông: Thay đổi nội dung quảng cáo hoặc khuyến mại mỗi quý một
lần đa dạng hóa truyền thông. Phương thức truyền thông đa dạng từ truyền hình,
báo giấy, quảng cáo tờ rơi. Mỗi địa bàn xây dựng từ 5 đến 7 nhân viên marketing
nòng cốt phát triển và nghiên cứu thị trường.
Kênh phân phối: Hiện tại, EG đã thiết lập các chi nhánh và phòng giao dịch
22
tại vị trí trung tâm của 43 tỉnh thành trên cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
quảng bá thương hiệu, chăm sóc và phát triển khách hàng tại địa bàn. Tại mỗi tỉnh
đểu có đường dây nóng cho khách hàng liên hệ lắp đặt mới, báo sự cố, bảo trì…
Quy trình: Đội ngũ kỹ thuật viên luôn sẵn sàng đảm bảo việc lắp đặt được
thực hiện 1 ngày sau khi nhận được yêu cầu của khách hàng. Mọi khiếu nại hoặc sự
cố kỹ thuật đểu được ghi nhận và giải quyết bình quân trong 4 giờ làm việc không
tính ngày nghỉ và ngày lễ.
Con người : Đánh giá năng lực và hiệu quả công việc thông qua nhận xét của
khách hàng về mức độ hài lòng. Mục tiêu hướng về khách hàng, nên EG không
ngừng cải tiến chất lượng nâng cao hiệu quả phục vụ của mình. Tiêu điểm nhắm tới
của EG đặt ra rất rõ ràng: luôn nỗ lực hết mình nhằm đảm nhận sứ mệnh kinh
doanh: Cung cấp dịch vụ văn hoá, giải trí chất lượng cao, mang tính nhân văn, nhân
bản đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân.
Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mác là
cạnh tranh giữa những người sản xuất và liên quan tới sự cạnh tranh này là cạnh
tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Những cuộc cạnh tranh này diễn ra
dưới ba góc độ: cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa
các nhà tư bản nhằm thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng
thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để
thực hiện được giá trị hàng hoá; cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng
tính lưu động của tư bản nhằm chia nhau giá trị thặng dư.
Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự
thực hiện giá trị và sự phân phối giá trị thặng dư, chúng tạo nên nội dung cơ bản
trong lý luận cạnh tranh của Các Mác.
24
Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà
phải mang lại cho khách hàng những giá trị cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách
hàng lực chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho
sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Cạnh tranh là để mang
lại cho thị trường và khách hàng giá trị gia tăng cao hơn doanh nghiệp khác.
Do sự phát triển của thương mại và chủ nghĩa tư bản công nghiệp cùng với
ảnh hưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là cuộc đấu
tranh giữa các đối thủ. Trong thực tế đời sống kinh tế, cạnh tranh ngày càng được
xem là một cuộc đấu tranh giữa các đối thủ với mục đích đánh bại đối thủ. Đặc biệt,
trước xu thế hội nhập như hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt và phức
tạp hơn, trở thành một vấn đề sống còn của doanh nghiệp, doanh nghiệp nào không
thể cạnh tranh được với đối thủ sẽ nhanh chóng bị đào thải ra thương trường.
2.1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được
Thứ tư, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất
và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập
cao và phát triển bền vững.
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
với năng lực kinh doanh. Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây.
Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh
và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự
do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh
đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều
kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng
hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức