Quan niệm về đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng đó trong giáo dục tinh thần đoàn kết cho sinh viên trường ĐH Sư phạm – ĐHĐN hiện nay - Pdf 41

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Trải qua
hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, người dân Việt Nam đã phải
chống lại rất nhiều kẻ thù xâm lược và đang đưa đất nước bước sang thời ky
mới. Để đạt được những thành tựu như vậy toàn dân tộc Việt Nam đã đồng
sức đồng lòng cùng nhau vượt qua khó khăn, đã đánh bại những kẻ thù mạnh
hơn mình gấp nhiều lần như: quân Nguyên Mông, thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ,…
Từ truyền thống của dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chi
Minh đã xây dựng thành tư tưởng của mình về đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng
đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chi Minh là một tư tưởng cơ bản,
nhất quán và xuyên suốt, là chiến lược tập hợp lực lượng đấu tranh với kẻ thù
dân tộc và giai cấp trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
Người đã sử dụng khoảng 2.000 lần cụm từ "đoàn kết", "đại đoàn kết" trong
các văn bản viết. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn
đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng.
Sau khi giành được độc lập dân tộc, tại nhiều hội nghị, Chủ tịch Hồ Chi
Minh luôn luôn nhấn mạnh sức mạnh của đoàn kết: "Đoàn kết là sức mạnh,
đoàn kết là thắng lợi".
Chiến lược của Người là:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công!"
Năm 1951, Hồ Chi Minh thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc
nhân buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam: "Mục đich của Đảng Lao động
Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc".

1


Như vậy, đoàn kết toàn dân là một đường lối lãnh đạo của Đảng. Không dừng

sáng cho học sinh mình noi theo. Vì vậy mà người giáo viên tương lai không
chi giỏi về nghiệp vụ chuyên môn, mà còn phải là những người có đạo đức và
phải là những người đi đầu trong công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân.
Việc giáo dục tinh thần đoàn kết và đưa lực lượng sinh viên nói chung
và sinh viên trường Đại học Sư phạm nói riêng tham gia vào các tổ chức của
khối đại đoàn kết toàn dân là rất cần thiết. Cũng như vận động sinh viên thực
hiện chi thị 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chinh trị về tổ chức Cuộc
vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chi Minh” là một nội
dung vô cùng thiết thực và có ý nghĩa sâu sắc, góp phần hình thành những
con người vừa hồng vừa chuyên phục vụ cho Tổ quốc và phụng sự nhân dân
thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Vì vậy, em chọn đề tài: “Quan niệm về đại đoàn kết của Hồ Chí
Minh và vận dụng tư tưởng đó trong giáo dục tinh thần đoàn kết cho sinh
viên trường ĐH Sư phạm – ĐHĐN hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, việc nghiên cứu học tập và vận dung tư tưởng Hồ Chi Minh
nói chung và tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong giáo dục tinh thần đại đoàn
kết cho toàn Đảng, Nhà nước, các tổ chức chinh trị – xã hội, lực lượng sinh
viên,…nói riêng. Đã đạt được những kết quả và được vận dụng vào thực tế
một cách có hiệu quả.
Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu quan trọng như:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc
thống nhất” của Vũ Trọng Kim. , ngày 11/6/2012.
Bài viết đã đề cập tới cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ Chi Minh và Đảng ta
đối với dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức trên thế giới là việc đề xướng thành
lập Mặt trận dân tộc thống nhất. Và lợi ich tối cao của dân tộc là độc lập,
thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, là "dân giàu, nước

3

Phú,

theo

Bài viết của tác giả đã đề cập đến
những phương pháp và nguyên tắc mà Người đã vận dụng trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”; “Dân tộc
trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người”; “Trong bầu trời
không có gì quý bằng nhân dân”; “Quan san muôn dặm một nhà”; “Giữ gìn
sự đoàn kết nhất tri của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả là phong phú,
mang tinh khái quát, nhiều tác giá đi sâu nghiên cứu khai thác từng khia cạnh
của vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Đây là những thuận lợi để cho bản thân tôi
nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn còn những khia cạnh của việc nghiên
cứu và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chi Minh cần phải làm rõ hơn,
đặc biệt là với bản thân tôi là sinh viên khoa Giáo dục Chinh trị trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng thì việc nhận thức tư tưởng đại đoàn kết của
Người một cách có hệ thống nhằm nhận thức và hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn
về vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng.

5


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đich của đề tài tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống tư
tưởng về đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chi Minh và vận dụng để giáo dục tinh
thần đoàn kết cho sinh viên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đich trên thì nhiệm vụ của đề tài là:

học… và một số tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu là phương pháp đọc, sách
báo và các bài viết có liên quan. Sau đó tiến hành phân tich, tổng hợp, phân
loại, hệ thống hóa, khái quát hóa… Nhận xét, tóm tắt và trich dẫn phục vụ
trực tiếp cho việc xấy dựng và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đồng thời sử dụng phương pháp điều tra bằng việc xây dựng hệ thống
câu hỏi điều tra để khảo sát nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm
– Đại học Đà Nẵng về đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chi Minh.
6. Ý nghĩa và những đóng góp mới của khóa luận
6.1. Đóng góp mới của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chi
Minh với nội dung phong phú, sâu sắc, cách thức và hướng nghiên cứu khác
nhau. Song đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu khoa học
nào đề cập đến việc vận dụng tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chi Minh
vào việc giáo dục tinh thần đoàn kết cho sinh viên trường Đại học Sư phạm –
Đại học Đà Nẵng. Vì vậy, đề tài khóa luận của tôi có sự đóng góp là: Trên cơ
sở trình bày một cách có hệ thống tư tưởng đại đại đoàn kết dân tộc của Hồ
Chi Minh. Sau đó nghiên cứu nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng và mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để góp phần
giáo dục tốt tinh thần đoàn kết cho sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng hiện nay.
6.2. Ý nghĩa của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc nghiên cứu về
đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chi Minh nói chung và làm sáng tỏ thêm sự vận
dụng vào sự nghiệp giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài có thể đươc sử dụng để các bạn sinh viên tham khảo trong quá
trình học tập tư tưởng Hồ Chi Minh.
7. Cấu trúc của khóa luận


ku ngày 19 tháng 4 năm 1946, Người viết: “...Ngày nay nước Việt Nam là
nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chinh
phủ thì có Nha Dân tộc thiểu số để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn
và Chinh phủ là giang sơn và Chinh phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả
dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để gìn giữ nước non, để ủng hộ Chinh
phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kinh trọng nhau, phải giúp đỡ
nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”. Chủ tịch
Hồ Chi Minh khẳng định: Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn
kết chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại
để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta.
Tư tưởng, quan điểm về công tác dân tộc, chinh sách dân tộc và đoàn kết
dân tộc của Chủ tịch Hồ Chi Minh thể hiện giá trị nhân văn cao cả, là sức
mạnh vô địch cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt
Nam đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chi Minh là một hệ thống quan điểm toàn
diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả
của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức
mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc…
Tư tưởng Hồ Chi Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.
Nội dung tư tưởng của Người rất phong phú và đặc sắc, trong đó tiêu
biểu là tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc. Nội dung tư tưởng này của Người

9



Lê Lợi, Quang Trung,… Nó đã nâng lên thành phép đánh giặc, giữ nước “tập
hợp bốn phương manh lệ”, “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng

10


sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền
là dân, lật thuyền cũng là dân”,…
Truyền thống đó của dân tộc lại được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp
lực lượng toàn dân của các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân
Pháp xâm lược và các thế lực phong kiến tay sai vào cuối thế ki XIX – đầu
thế ki XX như: Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thiện Thuật,
Phan Đình Phùng, Hoàng Hóa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…
Hồ Chi Minh sinh ra và gắn bó mật thiết với mảnh đất “địa linh nhân
kiệt”, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng Nghệ Tĩnh. Người cũng sớm đi
đến nhiều nơi khác của dân tộc. Qua quá trình tìm hiểu lịch sử dân tộc và quá
trình hoạt động tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng nước nhà thì Người
đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết quý báu đó. Và
Người đã khẳng định: “… Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng,
thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng
mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Rõ ràng truyền thống yêu nước nhân nghĩa - đoàn kết là cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chi Minh
về đại đoàn kết dân tộc.
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân đối với sự phát triển của lịch sư
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị cho Hồ Chi Minh về thế giới quan và
phương pháp luận duy vật, giúp cho Người nhận thức được con đường cách
mạng mà dân tộc ta đang cần đó là con đường cách mạng vô sản. Và chinh
giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất, có sư mệnh lịch sử là giải phóng

Nam. Người thực hiện xây dựng khối Liên minh giai cấp; thành lập Mặt trận;
đoàn kết quốc tế, coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới. Người thực hiện tài tình cuộc chiến tranh nhân dân đánh thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ. Người kêu gọi toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến,
toàn dân kiến quốc. Người chủ trương không phân biệt già, trẻ, gái, trai, hễ là

12


người Việt Nam đều đứng lên chống thực dân giành quyền độc lập. Với
Người, đoàn kết là một chân lý rõ ràng và được mở rộng theo một trình tự
phát triển từ con người của cộng đồng tới giai cấp và vượt ra ngoài giai cấp;
vượt qua mọi khác biệt về tôn giáo, chinh kiến, xuyên suốt và bao trùm tất cả
mọi mối quan hệ; lấp lánh suốt thời gian và toả sáng mọi không gian.
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chi Minh là chiến lược đúng đắn sâu sắc
cho việc tìm bạn đồng minh cho giai cấp vô sản và góp phần làm nên thắng
lợi hoàn toàn cho cách mạng Việt Nam.
1.1.3. Thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và
phong trào cách mạng thế giới
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, bị thực dân Pháp xâm lược
và chúng đã sử dụng chinh sách chia để trị để chia rẽ dân tộc Việt Nam.
Nhưng dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, của cải để
chống giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Người dân Việt
Nam quyết tâm đoàn kết lại cho dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải
giải phóng được dân tộc. Đối lập vói chinh sách tàn bạo của thực dân Pháp
nhân dân ta đã đứng dậy đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược với nhiều hình
thức khác nhau. Tiêu biểu là các phong trào đấu tranh như: Khởi nghĩa Hương
Khê của Phan Đình Phùng, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong
trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa
Thám,... Nhưng tất cả đều thất bại. Qua quá trình tìm hiểu và hoạt động lãnh

các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Plâycu ngày 19-4-1946, lúc mà
toàn dân bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp với
muôn vàn khó khăn. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,
Gia Rai hay Êđê, Xêđăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con
cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sướng khổ cùng nhau, no
đói giúp nhau... Giang sơn và Chinh phủ là giang sơn và Chinh phủ chung của
chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn
nước non ta, để ủng hộ Chinh phủ ta”... và Người khẳng định: Sông có thể
cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm
bớt.

14


Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chi Minh là một hệ thống những
luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng
và tiến bộ, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời
đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa.
1.2.1. Khái niệm về đại đoàn kết của Hồ Chí Minh
Đã có rất nhiều bài viết nói về đoàn kết và đại đoàn kết trong nội dung tư
tưởng Hồ Chi Minh, nhưng không có bài viết nào đưa ra định nghĩa toàn diện
về đoàn kết. Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm phổ thông của đoàn kết là
“Kết thành một khối thống nhất cùng hoạt động vì một mục đich chung” và
đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi.
Trong toàn bộ di cảo của Hồ Chi Minh được công bố trong bộ Hồ Chi
Minh toàn tập, gồm 12 tập do nhà xuất bản Chinh trị Quốc gia xuất bản lần
thứ hai, Người đưa ra định nghĩa về đại đoàn kết ở bài nói chuyện tại Hội
nghị đại biểu mặt trận Liên – Việt toàn quốc ngày 10/01/1955, Người nói:
“Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số bộ phận công nhân,
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn

và xây dựng xã hội mới thì phải có lực lượng cách mạng đủ mạnh, mà muốn
có lực lượng đủ mạnh thì phải thực hiện đại đoàn kết, quy tụ mọi lực lượng
cách mạng thành một khối thống nhất và vững chắc. Do đó đoàn kết trở thành
vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng, là nhân tố then chốt cho thắng lợi
của cách mạng. Cần phải hiểu rằng, đoàn kết không phải là thủ đoạn chinh trị
nhất thời mà đó là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt ở mọi giai đoạn của cách
mạng.
Qua qua trình tìm hiểu lich sử dân tộc cũng như thực tiễn các cuộc đấu
tranh cách mạng của các quốc gia trên thế giới và qua các bài báo bài viết của
các vị lãnh tụ cách mạng. Hồ Chi Minh đã đưa ra lết luận: muốn được giải
phóng, các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình đấu tranh
cách mạng, bằng cách mạng vô sản. Người đã vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin về cách mạng cộng sản vào thực tiễn cách mạng Việt

16


Nam, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng lực lượng cách
mạng và phương pháp cách mạng.
Ở mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, thì phải điều chinh chinh sách và
chinh sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp, bởi có nhiều đối
tượng, giai cấp tầng lớp khác nhau. Nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn được
Người nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng “sử ta đã dạy rằng khi
nào dân ta đoàn kết thì nước ta được độc lập, khi nào dân ta chia rẽ thì bị
nước ngoài đô hộ”. Lịch sử cách mạng Việt Nam cũng đã chứng tỏ: Với lòng
yêu nước nồng nàn qua cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm lâu dài và gian
khổ, dân tộc ta đã sớm có ý thức đoàn kết vì mọi người đều mang trong mình
dòng máu Lạc Hồng và đều thấm thia “Đoàn kết thì sống chia rẽ thì chết”.
Để xây dựng được khối đoàn kết thống nhất vững mạnh nhằm mang lại
thắng lợi cho cách mạng thì phải thực hiện tốt phương châm của đoàn kết dân

tiễn của đảng và của sự nghiệp cách mạng. Nghĩa là khi đề ra đường lối,
chinh sách phải góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
Người viết: “Mục đich của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ
là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Để thực hiện mục tiêu này, Người
thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm quần
chúng, phải gần gũi quần chúng, lắng nghe quần chúng, vận động, tổ chức và
giáo dục quần chúng, coi sức mạnh của cách mạng là ở nơi quần chúng, phải
thấm nhuần lời dạy “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong”. Trong khi nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách
mạng xã hội chủ nghĩa, Người chi rõ: “Trước cách mạng tháng Tám và trong
kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho các đồng bào các dân tộc
thiểu số hiểu được mấy việc: Một là, đoàn kết. Hai là, cách mạng hay kháng
chiến là để đòi độc lập, chi đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đich của tuyên
truyền tuyên huấn là: Một là, đoàn kết. Hai là, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba
là, đấu tranh thống nhất nước nhà”.
Đại đoàn kết dân tộc không chi là mục tiêu là nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng của toàn đảng, toàn dân, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của
mọi giai đoạn cách mạng. Bởi vì, muốn hoàn thành nhiệm vụ cách mạng nếu

18


chi có đường lối đúng là chưa đủ mà phải trên cơ sở của đường lối đúng thì
Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách
mạng phù hợp từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực
lực cho cách mạng. Vì vậy, Hồ Chi Minh luôn luôn đặt vấn đề đoàn kết dân
tộc lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ số một trong nhiệm vụ cách mạng.
Người còn chi ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chi là mục tiêu
của Đảng, còn là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Bởi vì cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Đảng cộng sản

cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người vào trong một khối thống nhất
của cuộc đấu tranh chung. Theo ý nghĩa đó, nội hàm khái niệm đại đoàn kết
trong tư tưởng Hồ Chi Minh rất phong phú, nó bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều
cấp độ, các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực
lượng xã hội của dân tộc từ nhở tới lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ
trên xuống dưới. Người đã nhiều lần nêu rõ “Ta đoàn kết để đấu tranh cho
thống nhất và độc lập Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai
có tài, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết
với họ” [22,438]. Ta ở đây vừa là mọi người dân của Tổ quốc Việt Nam, vừa
là Đảng, với ý thức và tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng khái niệm
đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam ở mọi gai đoạn cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc thực chất là thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân ,
là tập hợp mọi người dân vào một mặt trận đấu tranh chung để cùng nhau
chống đế quốc thực dân, để chống áp bức, bóc lột, bất công.
Khối đại đoàn kết toàn dân bao gồm nhiều tầng, mặt trận và nhiều quan
hệ cấp độ liên kết. Vì vậy, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân phải đứng vững trên lập trường quan điểm giai cấp công nhân, giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, toàn thể và bộ phận, theo
nguyên tắc lợi ich của giai cấp, của từng bộ phận phải phục tùng lợi ich của
dân tộc, lợi ich của toàn thể. Không được bỏ sót một lực lượng nào, miễn là
lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không là việt
gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng.

20


Để thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu
nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc. Truyền thống đó có cội nguồn sức
mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa,

Một điều rất quan trọng khi chúng ta thực hành đoàn kết rộng rãi đó là
cần phải có niềm tin vào nhân dân. Với chủ tịch Hồ Chi Minh, yêu dân, tin
dân, dựa vào dân, sống và đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là một nguyên
tắc tối cao. Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyền thống của dân tộc “nước
lấy dân làm gốc”, “chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, đồng thời là sự
quán triệt sâu sắc nguyên lý mácxit “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
nhân”. Theo Người, Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn gốc sức
mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách
mạng, là nền, là gốc và chủ thể của Mặt trận nhân dân. Trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ cùng các thế lực thù địch suốt mấy
chục năm trời, Đảng ta đã thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân, dựa vào dân,
phát huy mọi nguồn sức mạnh của nhân dân về nhân lực và vật lực lẫn tri lực.
Kết quả cuối cùng mà nhân dân ta đã thu được đó là Tổ quốc thống nhất,, non
sông thu về một mối, độc lập dân tộc được giữ vững và quan trọng hơn hết đó
là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được nâng lên tầm cao mới.
Sỡ dĩ Người khẳng định được quan niệm đại đoàn kết dân tộc một cách
rộng rãi như vậy là vì xuất phát từ thực tiễn cách mạng của đất nước và đặc
biệt hơn là Người có lòng tin ở nhân dân, tin rằng trong mỗi người “Ai cũng
có it nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẩn bên trong. Tấm lòng yêu nước ấy có
khi bị bụi bẩn che mờ, chi cần làm thức tinh lương tri con người thì lòng yêu
nước ấy lại bộc lộ. Vì vậy, mẫu số chung để quy tụ mọi người vào khối đại
đoàn kết dân tộc chinh là nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc là cuộc sống
tự do và hạnh phúc của nhân cần phải xây dựng từ hôm nay và cho đến mãi
về sau.
Tư tưởng đại đoàn kết của Người nhằm thúc đẩy lực lượng cho cách
mạng nước ta là lý luận rộng lớn, Bác đã nói: “Chúng ta phải đoàn kết chặt

22





1.2.5. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức
là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chi Minh, đại đoàn kết dân tộc không thể chi dừng lại ở tư
tưởng quan điểm, ở tư tưởng, những lời kêu gọi, mà cần phải biến thành một
chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn
dân tộc và trở thành lực lượng vật chất có tổ chức đó là mặt trận dân tộc thống
nhất là một hình thức tổ chức khối đoàn kết toàn dân. Cả dân tộc chi trở thành
lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc khi được giác ngộ về mục đich chiến đấu, được tập hợp, tổ chức lại
thành một khối vững chắc và hoạt động theo đường lối chinh trị đúng đắn.
Nếu không được như vậy, thì dù quần chúng nhân dân có đông tới mấy, dù có
tập hợp thành hàng triệu, hàng trăm triệu con người thì cũng chi là một số
đông không có sức mạnh. Luận điểm này đã được minh chứng trong thực tiễn
cách mạng của đất nước đó là, bước sang những năm đàu của thế ki XX mặc
dù đã có rất nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân, của những sĩ phu tiến
bộ của một số tri thức tư sản yêu nước nhằm giành lại độc lập cho dân tộc,
song nhưng cố gắng của họ đều có chung kết cục đó là thất bại. Mặc dù cùng
chung mục đich là giành lại độc lập cho dân tộc, nhưng với ý thức hệ tư sản
và không có sự đoàn kết ủng hộ rộng rãi của quần chúng nên họ đã nhanh
chóng bị thực dân Pháp đàn áp như: tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng
(3/1930).
Ngay sau khi tìm thấy con đường để giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của
cuộc cách mạng vô sản. Và Người đã khẳng định dứt khoát “Cách mạng là
việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hay hai người”.
Người cũng nói ngay rằng, con đường cách mạng của dân tộc ta là rất khó
khăn, nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc chắn là
được và như thế thì không khó. Hồ Chi Minh cũng rất chú ý đến việc đưa
quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giai cấp,

tộc, mọi đảng phái, huy động tối đa sức mạnh của dân tộc. Sáng kiến này đã

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status