Luận văn thạc sỹ kinh tế Ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----o0o-----

NGÔ THỤY BẢO NGỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG
NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2011

Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----o0o-----

NGÔ THỤY BẢO NGỌC


1. Nghiên cứu lý thuyết về ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến thị
trường chứng khoán Việt Nam và các kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng hoạt
động của nhà đầu tư nước ngoài đến các thị trường chứng khoán Ấn Độ, thị trường
chứng khoán Indonesia và thị trường chứng khoán Thượng Hải.
2. Đánh giá thực trạng hoạt động nhà đầu tư nước ngoài từ năm 2005 đến 2009 và
phân tích định tính về ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến thị
trường chứng khoán Việt Nam. Thực hiện các bước phân tích định lượng về ảnh
hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam
trong từng giai đoạn. Thông qua các bước kiểm định thử và sai, xây dựng được mô
hình hồi quy với biến phụ thuộc là giá trị chứng khoán giao dịch của thị trường và
biến độc lập là giá trị chứng khoán giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài bên cạnh
các biến trễ của chính thị trường vào giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
đến trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.
3. Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực đồng thời
phòng tránh, giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam để thị trường phát triển bền vững.

Footer Page 3 of 16.


Header Page 4 of 16.

LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiều mặt của thầy cô, bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình.
- Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô của trường Đại học Kinh tế
TP.HCM đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong thời gian qua.
- Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt, người hướng dẫn
khoa học của luận văn, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này.

CTCK

: công ty chứng khoán

TTCK

: thị trường chứng khoán

HOSE

: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

HNX

: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

TTGDCK

: Trung tâm giao dịch chứng khoán

UBCKNN

: Ủy ban chứng khoán nhà nước

VN-Index

: chỉ số trung bình giá chứng khoán trên TTCK Việt Nam, bao gồm
các cổ phiếu niêm yết tại HOSE (trước đây là TTGDCK TPHCM)

TPCP


: văn phòng đại diện

CTQLQ

: công ty quản lý quỹ

DNNN

: doanh nghiệp nhà nước

NĐT

: nhà đầu tư

NĐTNN

: nhà đầu tư nước ngoài

FII

: đầu tư gián tiếp nước ngoài

FDI

: đầu tư trực tiếp nước ngoài

TTLK

: trung tâm lưu ký


2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2

5. Phương pháp nghiên cứu

2

6. Kết cấu của đề tài

3

CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG
NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

4

1.1 Lý luận chung về NĐTNN trên TTCK

4

1.1.1 Các chủ thể tham gia TTCK và NĐTNN tại TTCK Việt Nam

4

1.1.1.1 Các chủ thể tham gia TTCK Việt Nam



1.3.2 TTCK Indonesia

12

1.3.3 TTCK Thượng Hải

14

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho TTCK Việt Nam

16

Kết luận chương 1

17

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHÀ ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Footer Page 7 of 16.

18


Header Page 8 of 16.

2.1 Thực trạng hoạt động NĐTNN giai đoạn 2005 – 2009 và đánh giá chung về
ảnh hưởng của hoạt động đó đến TTCK Việt Nam

18

dịch của NĐTNN đến giá trị chứng khoán giao dịch toàn thị trường tại HOSE 38
2.2.2 Phân tích ảnh hưởng giá trị chứng khoán giao dịch mua và bán của
NĐTNN đến chỉ số VN-Index tại HOSE

40

2.2.2.1 Tóm tắt thống kê mô tả các biến chuỗi thời gian

40

2.2.2.2 Kiểm định tính dừng của từng chuỗi thời gian

40

2.2.2.3 Xem xét mối quan hệ giữa các biến chuỗi thời gian

41

2.2.2.4. Phương pháp phân tích trong thủ tục VAR

42

2.2.2.5 Kết quả thực nghiệm qua phân tích ảnh hưởng giá trị chứng khoán giao
dịch ròng của NĐTNN đến chỉ số VN-Index tại HOSE

44

2.2.3 Phân tích kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng của hoạt động NĐTNN đến
TTCK Việt Nam


55

thu hút NĐTNN

3.3.2 Đánh giá đúng vai trò của vốn FII, xây dựng chính sách đồng bộ nhằm thu
hút và thống nhất về công tác quản lý dòng vốn này

56

3.3.3 Phát triển và đa dạng hóa cơ sở NĐT, cải thiện chất lượng cầu đầu tư
chứng khoán nhằm hướng tới kích cầu bền vững

60

3.3.3.1 Xây dựng, phát triển hệ thống các NĐT tổ chức trong nước và đa dạng
hóa các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trong nước, khuyến khích các NĐT khác
tham gia TTCK

61

3.3.3.2 Tạo điều kiện hoạt động cho NĐTNN, khuyến khích tổ chức đầu tư nước
ngoài có mục tiêu đầu tư dài hạn trên TTCK vừa tăng cường huy động vốn FII,
khai thác, phát huy các tác động tích cực của dòng vốn này vừa phòng tránh và
giảm thiểu các tác động tiêu cực của NĐTNN trên TTCK

63

3.4 Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu

67

THÁNG

122

PHỤ LỤC 4: TỶ LỆ SỞ HỮU TỪNG LOẠI CỔ PHIẾU VÀ CCQ CỦA NĐTNN
TẠI HOSE CUỐI NĂM 2009

126

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Tình hình niêm yết chứng khoán tại HOSE giai đoạn 2005 – 2009

18

Bảng 2.2 Hoạt động mở tài khoản giao dịch của các NĐT tại HOSE giai đoạn
2005 – 2009

Footer Page 10 of 16.

23


Header Page 11 of 16.

1

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần X, mỗi

2

2. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
-

Hệ thống hóa các lý luận và nghiên cứu thực nghiệm trên các thị trường
quốc tế về ảnh hưởng của hoạt động NĐTNN đến TTCK

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động NĐTNN đến TTCK Việt Nam

-

Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, phát huy các tác động tích cực
đồng thời phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động
NĐTNN trên TTCK Việt Nam

3. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích ảnh hưởng của hoạt động NĐTNN đến TTCK Việt Nam trong từng
giai đoạn phát triển của TTCK nhằm tìm ra các giải pháp thích hợp để khai thác,
phát huy các tác động tích cực đồng thời phòng tránh và giảm thiểu các tác động
tiêu cực của NĐTNN giúp cho TTCK hoạt động thực sự chủ yếu dựa trên quy luật
cung cầu của thị trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: TTCK Việt Nam, trong đó bao gồm hoạt động của
các NĐTNN và của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia vào TTCK
Việt Nam


-

Công cụ thống kê mô tả, phân tích tương quan: chương trình phân tích dữ
liệu Eview

6. Kết cấu của đề tài
Chương 1 : Khung lý thuyết về ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước
ngoài đến thị trường chứng khoán
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của hoạt động nhà đầu tư nước ngoài đến thị
trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp khai thác, phát huy các tác động tích cực đồng thời
phòng tránh và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Footer Page 13 of 16.


Header Page 14 of 16.

4

CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT
ĐỘNG NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
1.1 Lý luận chung về NĐTNN trên TTCK
1.1.1 Các chủ thể tham gia TTCK và NĐTNN tại TTCK Việt Nam
1.1.1.1 Các chủ thể tham gia TTCK Việt Nam
Các tổ chức và cá nhân tham gia trên TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau:
tổ chức phát hành, NĐT và các tổ chức có liên quan đến TTCK.

động hiệu quả ở trong nước; tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các NĐTNN trong các
doanh nghiệp đó, sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính
trung gian, sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng
khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số
tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán …
Mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh của môi trường đầu tư trong nước (các biện
pháp kiểm soát vốn, các chính sách tiền tệ).
1.2 Tác động hai mặt của hoạt động NĐTNN đối với TTCK
Các NĐTNN là một chủ thể quan trọng trên TTCK, dù tỷ lệ sở hữu tối đa của họ
bị giới hạn, nhưng với tiềm lực tài chính, kỹ năng và kinh nghiệm đầu tư, đặc biệt là
các NĐT có tổ chức, họ có thể tác động đến diễn biến TTCK và tác động đó bao
gồm cả hai mặt tích cực và tiêu cực:
1.2.1. Những tác động tích cực:
Trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng tổng vốn đầu
tư vào TTCK. Khi giải ngân vốn đầu tư vào TTCK, các NĐTNN sẽ trực tiếp làm
tăng lượng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng
đương nhiên vào tổng số dòng vốn này. Hơn nữa, khi giao dịch các NĐTNN sôi
động sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến hoạt động giao dịch

Footer Page 16 of 16.


Header Page 17 of 16.

7

của các NĐT trong nước, tạo động lực và thúc đẩy các NĐT trong nước bỏ vốn đầu
tư gián tiếp của mình, kết quả làm tăng tổng vốn đầu tư vào TTCK.
Để thu hút hoạt động giao dịch của các NĐTNN, chất lượng hoạt động – bao
gồm cả sự gia tăng khả năng cạnh tranh, cải tiến, đổi mới công nghệ, nâng cao tính


8

như là kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng vốn đầu tư từ NĐTNN là sự phát triển
của các định chế và dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu
tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ
tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế
toán, kiểm toán và thông tin thị trường; Đồng thời còn kéo theo sự gia tăng yêu cầu
và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết là trên TTCK.
NĐTNN góp phần vào sự ổn định của TTCK, tạo ra sức cầu và là nền tảng thúc
đẩy việc thực hiện một cách hiệu quả lộ trình cổ phần hóa đã được xây dựng, thúc
đẩy các hoạt động phát hành TPCP, trái phiếu doanh nghiệp, giúp cho việc đảm bảo
nguồn cung chất lượng trên thị trường.
Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống
quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, trong đó có TTCK, sẽ phải
được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động theo các
nguyên tắc, yêu cầu và đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội
nhập quốc tế.
1.2.2 Một số tác động tiêu cực:
Các NĐTNN khi tham gia đầu tư trên TTCK là thực hiện đầu tư tài chính thuần
túy với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị
trường, nên các NĐTNN có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp,
thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở nước
khác nếu có dấu hiệu bất ổn trên thị trường. Do đó hoạt động NĐTNN có thể gây
nguy cơ và làm gia tăng mức độ nhạy cảm và tính bất ổn của TTCK. Đặc biệt trong
trường hợp cơ sở NĐT trong nước còn yếu kém chủ yếu là cá nhân, hệ thống NĐT
có tổ chức trong nước chưa phát triển vững chắc, chưa đủ khả năng “dẫn dắt” thị
trường đương đầu với sự đồng loạt thoái vốn đầu tư của NĐTNN khi xảy ra khủng
hoảng tài chính tiền tệ, như cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 vừa qua.
Với tiềm lực vốn và kỹ năng, kinh nghiệm đầu tư, các NĐTNN còn có khả năng

động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp,… Sự cộng hưởng của các hoạt động tội
phạm và tác động mặt trái của hoạt động NĐTNN kể trên, nhất là khi chúng diễn ra
một cách “có tổ chức” của giới đầu cơ sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt
và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn
thương của TTCK đặc biệt là các thị trường mới nổi trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay.

Footer Page 19 of 16.


Header Page 20 of 16.

10

1.3 Kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng hoạt động của NĐTNN đến TTCK một
số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho TTCK Việt Nam
1.3.1 TTCK Ấn Độ
Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị đầu tư ròng của NĐTNN có tổ chức (đặt
là chuỗi F ) và chỉ số chứng khoán Nifty (đã chuyển sang dạng log trong nghiên cứu
t

– đặt là chuỗi N ) trong giai đoạn từ tháng 1/1999 đến tháng 2/2009 của các đồng
t

tác giả Mohd.Aamir Khan, Rohit, Siddharth Goyal, Vinit Ranjan và Gaurav
Agrawal. Chỉ số S&P CNX Nifty, hay còn gọi tắt là Nifty, là chỉ số tính từ 50 công
ty lớn đại diện cho 24 ngành nghề của nền kinh tế Ấn Độ, đại diện cho khoảng 47%
giá trị chứng khoán giao dịch trên SGDCK quốc gia.
Sau năm 1991, các NĐTNN có tổ chức được phép đầu tư vào TTCK Ấn Độ sau
khi đã đăng ký với SGDCK Ấn Độ (SEBI). Các tổ chức nước ngoài đăng ký với


Cả 2 chuỗi N và F đều không có phân phối chuẩn ở trong 4 giai đoạn
t

-

t

Kiểm định nghiệm đơn vị xem xét tính dừng của các chuỗi dữ liệu bằng các
kiểm định ADF và kiểm định PP (Phillips-Perron 1988)

Trong các giai đoạn, F là chuỗi dừng và N là chuỗi không dừng
t

-

t

Hệ số tương quan giữa 2 chuỗi:

Hai chuỗi có hệ số tương quan cao nhất vào giai đoạn 4 sau cuộc khủng hoảng
tài chính thế giới.
-

Kiểm định nhân quả Granger

Do F là chuỗi dừng và N là chuỗi không dừng nên không thể có kết luận về mối
t

t

12

các giai đoạn khác, một lần nữa cho thấy FII có mối liên hệ với Nifty trong giai
đoạn 4 là mạnh nhất.
Kết luận của các tác giả: Giai đoạn 3 là giai đoạn tăng (bull phase) của TTCK
Ấn Độ, tuy nhiên ảnh hưởng của Nifty lên FII lại mạnh hơn trong giai đoạn 4, theo
lý giải của các tác giả là trong giai đoạn 3 các nhà tạo lập thị trường khác đã gia
tăng vai trò của họ nhằm làm giảm mức ảnh hưởng của các tổ chức nước ngoài lên
TTCK Ấn Độ. Và kết quả nghiên cứu mối quan hệ ngắn hạn giữa Nifty và FII
(thông qua thủ tục VAR) là Nifty gây nhân quả một chiều Granger lên FII.
1.3.2 TTCK Indonesia
Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các tổ chức nước
ngoài (FIO) với tính thanh khoản TTCK Indonesia của hai tác giả S.Ghon Rhee và
Jianxin Wang.
Indonesia mở cửa TTCK thu hút các NĐTNN bắt từ năm 1989. Cơ sở NĐT trên
TTCK Indonesia chủ yếu là các tổ chức, với chưa tới 5% giá trị thị trường được
nắm giữ bởi các NĐT cá nhân và các tổ chức nước ngoài nắm giữ phần lớn giá trị
này (các NĐT cá nhân nước ngoài chỉ nắm giữ khoảng 0.22%). Từ tháng 1/2002
đến 8/2007, các tổ chức nước ngoài nắm giữ gần 70% giá trị cổ phiếu lưu hành trên
TTCK Indonesia, hoặc 41% giá trị vốn hóa thị trường. Cùng thời gian này, tính
thanh khoản của thị trường tại SGDCK Jakarta (JSX) đã được cải thiện một cách cơ
bản với chênh lệch giá đặt mua/bán trung bình đã giảm hơn một nửa và độ sâu trung
bình của thị trường tăng gấp đôi.
Dữ liệu được các tác giả sử dụng trong quá trình phân tích được thu thập theo
ngày giao dịch trên JSX từ tháng 1/2002 đến 8/2007 bao gồm hai loại: một là dữ
liệu về tỷ lệ sở hữu từng loại cổ phiếu của các dạng NĐT khác nhau; hai là dữ liệu
thể hiện tính thanh khoản của TTCK đo lường qua ba yếu tố là chênh lệch giá đặt
mua/bán, độ sâu của thị trường và mức độ nhạy cảm của giá chứng khoán. Việc
phân tích được thực hiện dựa vào mối quan hệ nhân quả của các dữ liệu theo từng
ngày và theo từng tháng, có xem xét đến độ trễ của từng dữ liệu trong từng giai

với vốn đầu tư tập trung vào một số cổ phiếu mà họ đánh giá có tiềm năng thì sẽ
làm giảm sự sôi động trong giao dịch chứng khoán trên thị trường. Đây cũng chính
là sự thể hiện tác động tổng hợp của việc tự do hóa tài chính thu hút sự tham gia của
các NĐTNN có tổ chức với tiềm lực vốn mạnh và nhiều kinh nghiệm trong đầu tư
chứng khoán trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó theo các tác giả, kết luận này sẽ phù hợp với các nghiên cứu đã
được thực hiện trước đây của các tác giả khác về việc tồn tại mức ảnh hưởng thuận
chiều giữa FIO và tính thanh khoản của thị trường nếu trong bài nghiên cứu này

Footer Page 23 of 16.


Header Page 24 of 16.

14

thời gian nghiên cứu bao gồm cả giai đoạn từ khi mở cửa TTCK thu hút NĐTNN.
Do đó, các tác giả đã cung cấp bằng chứng trực tiếp đầu tiên về mối quan hệ đó là,
từ khi TTCK Indonesia mở cửa thu hút NĐTNN thì tính thanh khoản thị trường
tăng hàng năm trong suốt thời gian nghiên cứu hay xét trong suốt thời gian từ năm
1989 đến tháng 8/2007 thì NĐTNN đã và đang góp phần nâng cao tính thanh khoản
của TTCK.
1.3.3 TTCK Thượng Hải
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK không chỉ có những tác động tích cực
mà còn có những tác động tiêu cực. Năm 2002 chính phủ Trung Quốc đã đưa ra Hệ
thống các NĐT tổ chức nước ngoài đủ tiêu chuẩn (QFII) bao gồm các CTQLQ, các
CTCK, các công ty bảo hiểm và các tổ chức quản lý tài sản khác được xác nhận bởi
Ủy ban quản lý chứng khoán Trung Quốc (CSRC) và căn cứ vào QFII Bộ quản lý
ngoại hối Trung Quốc (SAFE) sẽ cấp một hạn ngạch nhất định cho các tổ chức
nước ngoài (FII) khi tham gia vào TTCK quốc gia.

Phân tích mức độ ảnh hưởng NĐTNN lên TTCK: Một giả thuyết được đưa ra là
hoạt động giao dịch chứng khoán của NĐT cá nhân thực hiện căn cứ không trên
nguyên tắc cơ bản của thị trường hay yếu tố đầu cơ. Để đánh giá giả thuyết này, tác
giả sử dụng

. Và EPS là biến được sử dụng đại diện cho nguyên tắc cơ bản

của thị trường. Mô hình hồi qui sử dụng trong phân tích là

=

+

+

+
Kết quả: trước-QFII chiến lược đầu tư của NĐT cá nhân không căn cứ nguyên
tắc cơ bản của thị trường mà chủ yếu là do yếu tố đầu cơ; sau-QFII chiến lược thay
đổi và căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của thị trường. EPS có dấu ngược chiều với R
trong cả hai giai đoạn, theo tác giả có 2 lý do: một là FII tập trung đầu tư vào các
ngành công nghệ và thông tin, các công ty trong hai lĩnh vực này đang trong thời kỳ
phát triển, chưa có lợi nhuận cao trong hiện tại nhưng sẽ là những ngành có lợi
nhuận cao nhất trong các thập kỷ tới; yếu tố đầu cơ của NĐT cá nhân.
Phân tích nguyên tắc cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi: bao gồm hai bước
Bước 1: Theo lý thuyết tài chính cổ điển, NĐT có lý trí yêu cầu lợi nhuận kỳ
vọng cao hơn nhằm đền bù cho các rủi ro hệ thống cao hơn, được đo lường bằng hệ
số , đây là nguyên tắc cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Mô hình hồi qui sử
dụng trong phân tích là

=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status