BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN QUỐC THẮNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU THẾ GIỚI
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN QUỐC THẮNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU THẾ GIỚI
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
Câu hỏi nghiên cứu: ............................................................................................ 4
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 5
1.5
Phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài ............................................... 5
1.6
Bố cục của bài nghiên cứu .................................................................................. 7
CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIÁ DẦU
VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ....................................................................... 8
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 15
3.1
Dữ liệu nghiên cứu: .......................................................................................... 15
3.2
Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 24
3.2.1
Mô hình VAR ............................................................................................ 26
4.2
Tác động của cú sốc cung và cầu dầu thô đến giá dầu thô ............................... 39
4.3 Những phản ứng đẩy và phân rã phương sai của Tỷ suất sinh lợi thị trường
chứng khoán Việt Nam ............................................................................................... 42
4.4
Sự khác nhau trong thay đổi tỷ suất sinh lợi giữa các ngành ........................... 46
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN .......................................................................................... 56
5.1
Những kết luận chính ....................................................................................... 56
5.2
Hướng nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
COP
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến
Bảng 4.3: Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình
Bảng 4.4: Kiểm định LM về tự tương quan chuỗi của phần dư
Bảng 4.5 : Phân rã phương sai biến tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán
Bảng 4.6 : Phân rã phương sai biến tỷ suất sinh lợi ngành dầu khí
Bảng 4.7 : Phân rã phương sai biến tỷ suất sinh lợi ngành vận tải
Bảng 4.8 : Phân rã phương sai biến tỷ suất sinh lợi ngành thương mại
Bảng 4.9 : Phân rã phương sai biến tỷ suất sinh lợi ngành khoáng sản
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Lịch sử sản lượng dầu thô toàn cầu từ 01.2005 đến 12.2015
Hình 3.2: Phần trăm thay đổi sản lượng dầu thô toàn cầu từ 01.2005 đến 12.2015
Hình 3.3: Lịch sử giá dầu thô toàn cầu từ 01.2005 đến 12.2015
Hình 3.4: Lịch sử chỉ số thể hiện hoạt động kinh tế toàn cầu từ 01.2005 đến 12.2015
Hình 3.5: Tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán Việt Nam từ 01.2005 đến 12.2015
Hình 3.6: Tỷ suất sinh lợi nhóm ngành dầu khí từ 01.2009 đến 12.2015
Hình 3.7: Tỷ suất sinh lợi nhóm ngành vận tải từ 01.2009 đến 12.2015
Hình 3.8: Tỷ suất sinh lợi nhóm ngành thương mại từ 01.2009 đến 12.2015
Hình 3.9: Tỷ suất sinh lợi nhóm ngành khoáng sản từ 01.2009 đến 12.2015
Hình 4.1: Kết quả kiểm định nghịch đảo đơn vị gốc đa thức AR
Hình 4.2 : Phản ứng của giá dầu trước cú sốc cung dầu
Hình 4.3: Phản ứng của giá dầu trước cú sốc tổng cầu nền kinh tế
Hình 4.4: Phản ứng của giá dầu trước cú sốc cầu dự trữ dầu thô
Hình 4.5: Phản ứng của TSSL thị trường trước cú sốc cung dầu
Hình 4.6: Phản ứng của TSSL thị trường trước cú sốc tổng cầu nền kinh tế
khoán giảm điểm. Trái lại, Chen và cộng sự (1986) cho rằng những thay đổi trong giá
dầu không tác động lên giá của các tài sản. Trong khi đó, Jones và Kaul (1996) chứng
minh tồn tại mối quan hệ ngược chiều bền vững giữa giá dầu thô và tỷ suất sinh lợi của
toàn thị trường chứng khoán. Tuy nhiên cũng trong khoảng thời gian trên, Huang và
cộng sự (1996) kết luận rằng không tồn tại bất kỳ một mối quan hệ ngược chiều nào
giữa tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán với những thay đổi trong giá dầu giao
sau. Cũng đồng quan điểm trên, Wei (2003) chứng minh rằng sự mất điểm của thị
trường chứng khoán Hoa Kỳ trong năm 1974 không thể được giải thích bởi sự gia tăng
giá dầu mỏ trong những năm 1973 – 1974. Câu hỏi đặt ra rằng: “ Vậy thị trường
chứng khoán sẽ thay đổi như thế nào trước những thay đổi không ngừng của giá dầu?”.
Tạp chí Financial Times số ra ngày 21 tháng 8 năm 2006, cho rằng sự giảm điểm của thị trường chứng khoán
Mỹ trước việc giá dầu mỏ tăng do những lo ngại về sự bất ổn chính trị ở khu vực Trung Đông (bao gồm chương
trình hạt nhân Iran, nguy cơ khủng bố của các tín đồ Đạo Hồi). Bài báo tương tự phát hành ngày 12 tháng 10 năm
2006 cho thấy rằng sự phục hồi của thị trường cổ phiếu toàn cầu là do sự giảm giá của dầu mỏ trong cùng một
khoảng thời gian.
1
3
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ đưa ra phương pháp khác để giải quyết câu hỏi
trên. Có thể nhận thấy, một trong những hạn chế của hầu hết các bài nghiên cứu về mối
quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán là giá dầu được xem xét như một biến
ngoại sinh đối với nền kinh tế. Nói cách khác, trong các mô hình nghiên cứu, giá dầu
được xem là một yếu tố đầu vào và nó không chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác của
nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhiều nhà kinh tế đồng tình với quan
điểm rằng giá dầu cũng chịu ảnh hưởng bởi một vài tác nhân kinh tế - đây cũng là
những tác nhân ảnh hưởng đến giá chứng khoán, do đó việc xác định mối quan hệ nhân
quả giữa giá dầu và các tác nhân của nền kinh tế là rất cần thiết (Barsky và Kilian,
đến 2015. Qua đó đưa ra một số hàm ý đến việc thực hiện quyết định đầu tư trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trước những biến động không ngừng của giá dầu thô
hiện nay.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung làm rõ các câu hỏi sau:
-
Các cú sốc giá dầu thô thế giới có tác động đến thị trường chứng khoán Việt
Nam hay không ?
5
-
Có phải khi giá dầu thay đổi đều có những tác động giống nhau lên thị trường
chứng khoán Việt Nam bất chấp nguyên nhân dẫn đến thay đổi giá dầu ?
-
Tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các nhóm ngành kinh tế khác nhau sẽ bị ảnh
hưởng như thế nào trước các cú sốc trong giá dầu thế giới ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thị trường chứng khoán Việt Nam trước những cú sốc của
giá dầu thế giới bao gồm: Cú sốc cung dầu, Cú sốc tổng cầu của nền kinh tế và Cú sốc
cầu riêng biệt của thị trường dầu thô.
Phạm vi nghiên cứu là Thị trường chứng khoán Việt Nam và Thị trường dầu thô thế
giới trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu
tỷ suất sinh lợi từng nhóm ngành cụ thể trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong
Qua bài nghiên cứu này, bằng việc tính toán dựa trên dữ liệu của thị trường chứng
khoán Việt Nam kết hợp giá dầu thô thế giới và chỉ số thể hiện hoạt động của nền kinh
tế toàn cầu2, tác giả cho thấy có khoảng 20% sự thay đổi trong tỷ suất sinh lợi của thị
Được nghiên cứu và phát triển bởi Killian (2009) trong bài nghiên cứu “Not All Oil Price Shocks Are Alike:
Disentangling Demand and Supply Shocks in the Crude Oil Market”, được tác giả công bố tại địa chỉ http://
www-personal.umich.edu/lkilian/paperlinks.html.
2
7
trường chứng khoán Việt Nam được giải thích bởi các cú sốc trong giá dầu thô thế giới.
Trong đó, các cú sốc trong cầu dự trữ dầu thô và cú sốc của tổng cầu nền kinh tế góp
phần giải thích khoảng 14% thay đổi trong tỷ suất sinh lợi của thị trường, đây được
xem như là một trong những nhân tố quan trọng khi xem xét tác động của các cú sốc
giá dầu. Cú sốc cung dầu chỉ giải thích được 6% các thay đổi trong tỷ suất sinh lợi.
Bên cạnh đó, bằng việc nghiên cứu từng nhóm ngành cụ thể bao gồm: Dầu khí, vận
tải, thương mại và khoáng sản trong giai đoạn từ tháng 01.2009 đến tháng 12.2015, tác
giả nhận thấy tỷ suất sinh lợi của cả bốn nhóm ngành đều chịu ảnh hưởng trước các cú
sốc trong giá dầu. Điều đặc biệt là trong khoảng thời gian 1 tháng kể từ khi xảy ra cú
sốc giá dầu thì các cú sốc này giải thích được đến 9% những thay đổi trong tỷ suất
sinh lợi của ngành dầu khí, trong khi đó nếu so với tỷ suất sinh lợi của toàn thị trường
hoặc ba nhóm ngành còn lại là không đáng kể.
1.6 Bố cục của bài nghiên cứu
Bố cục bài nghiên cứu được chia làm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giá dầu và thị trường chứng
khoán.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
giữa tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán với cú sốc giá dầu thông qua sự thay
đổi trong dòng tiền thực của doanh nghiệp hiện tại và tương lai và/hoặc những thay đổi
trong tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Nhóm tác giả phát hiện ra rằng, trong giai đoạn sau
chiến tranh, đối với thị trường chứng khoán Mỹ và Canada có mối quan hệ nghịch biến
giữa giá dầu và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán.
Huang và cộng sự (1996) trong bài nghiên cứu “ Cú sốc năng lượng và thị
trường tài chính” phân tích mối liên kết cơ chế truyền dẫn thông tin giữa giá dầu giao
sau và thị trường chứng khoán. Bằng việc sử dụng mô hình VAR, nhóm tác giả đưa ra
kết luận giá dầu giao sau không ảnh hưởng đến lãi suất của trái phiếu chính phủ và thị
trường chứng khoán Mỹ, tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu các công ty dầu mỏ thay đổi thì
nguyên nhân của giá dầu là yếu hơn so với các nguyên nhân khác.
Sadorsky (1999) trong bài nghiên cứu “ Những cú sốc giá dầu và hành động
trên thị trường chứng khoán” bằng việc sử dụng mô hình tự hồi quy véc – tơ (VAR) tác
giả đã chứng minh rằng giá dầu cũng như là sự biến động của giá dầu đóng một vai trò
quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Mỹ.
Sau năm 1986, sự thay đổi giá dầu giải thích một tỷ trọng lớn của sai số phương sai dự
báo trong tỷ suất sinh lợi thực của thị trường chứng khoán hơn là lãi suất. Có bằng
chứng cho thấy sự thay đổi trong giá dầu có sự tác động bất cân xứng đến nền kinh tế.
Papapetrou (2001) trong bài nghiên cứu “Những thay đổi giá dầu, thị trường
chứng khoán, hoạt động nền kinh tế và thất nghiệp ở Hy Lạp” với việc sử dụng mô
10
hình tự hồi quy véc – tơ đa biến (VAR) tác giả cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa giá
dầu, tỷ suất sinh lợi thực thị trường chứng khoán, lãi suất, hoạt động kinh tế thực và tỷ
lệ thất nghiệp ở Hy Lạp. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng giá dầu thay đổi làm
ảnh hưởng đến hoạt động thực của nền kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp. Bên cạnh đó, giá
dầu là một nhân tố quan trọng giải thích sự thay đổi giá chứng khoán. Tuy nhiên, tỷ
suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán không làm thay đổi hoạt động thực của nền
chứng khoán, Malik and Ewing (2009) trong bài nghiên cứu “ Sự truyền dẫn biến
động giữa giá dầu và tỷ suất sinh lợi vốn cổ phần” nhóm tác giả sử dụng mô hình
GARCH đa biến để ước lượng đồng thời trung bình và phương sai có điều kiện giữa 5
chỉ số khác nhau tại Mỹ và giá dầu. Bởi vì có nhiều tài sản tài chính khác nhau được
Hamilton (2009) chỉ ra rằng những cú sốc giá dầu trong những năm gần đây xuất phát từ nguyên nhân là do sự
tăng trưởng của các quốc gia đang phát triển chứng không phải do những thiếu hụt trong nguồn cung dầu mỏ.
Filis và các cộng sự (2011) chứng minh rằng nếu như sự thay đổi trong giá dầu là do tổng cầu của nền kinh tế
tăng thì điều này sẽ ảnh hưởng là gia tăng tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán. Apergis và Miller (2009)
chứng minh chỉ tồn tại một ít ảnh hưởng nhỏ của cú sốc giá dầu lên tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán ở các
nước đã phát triển, trong khi đó Abhyankar et al. (2013) cho thấy tác động này hoàn toàn có ý nghĩa ở Nhật Bản.
3
12
giao dịch dựa trên tỷ suất sinh lợi của các thị trường này, nó rất quan trọng cho các
thành phần tham gia thị trường tài chính hiểu được cơ chế truyền dẫn biến động thông
qua thời gian và thông qua tác động lẫn nhau giữa các thị trường để thực hiện các quyết
định đầu tư của mình. Nhóm tác giả nghiên cứu tỷ suất sinh lợi hằng tuần từ 1/1992
đến 4/2008 và tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa về sự truyền dẫn những cú sốc và sự
biến động trong giá dầu đến các thị trường được kiểm tra. Nghiên cứu này hỗ trợ cho lý
thuyết phòng ngừa chéo và chia sẻ các thông tin phổ biến cho các nhà đầu tư.
Chen (2010) trong bài nghiên cứu “ Giá dầu tăng cao có đẩy thị trường chứng
khoán vào vùng giảm điểm” tác giả cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ tỷ suất sinh
lợi hằng tháng trên chỉ số S&P 500 rằng một sự gia tăng trong giá dầu làm gia tăng khả
năng cao sự xuất hiện một thị trường giảm điểm (bear market).
Vo (2011) trong bài nghiên cứu “ Dầu và sự biến động thị trường chứng khoán:
Mô hình biến động Stochastic đa biến” tác giả đã phát hiên ra 4 điều quan trọng. Thứ
nhất, chứng khoán và giá dầu giao sau có mối quan hệ tương quan với nhau. Mối quan
hệ này sẽ thay đổi theo thời gian và có xu hướng gia tăng khi thị trường biến động lớn.
Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm rằng giá dầu và thị trường chứng khoán
có mối quan hệ cùng chiều: Nandha và Faff (2008), Kilian và Park (2009)
14
-
Nhóm tác giả đồng tình với quan điểm rằng giá dầu và thị trường chứng khoán
không có mối quan hệ với nhau: Huang và cộng sự (1996), Degiannakis và các
cộng sự (2014)
15
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu:
Để phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu lên thị trường chứng khoán, tác
giả sử dụng các biến dữ liệu bao gồm: Phần trăm thay đổi sản lượng dầu thô toàn cầu,
giá dầu thô thế giới, chỉ số về hoạt động kinh tế toàn cầu và dữ liệu thị trường chứng
khoán Việt Nam. Tất cả dữ liệu được thu thập hàng tháng. Thời gian mẫu nghiên cứu
từ 01.2005 đến 12.2015 ngoại trừ dữ liệu về tỷ suất sinh lợi theo từng nhóm ngành
được theo dõi từ 01.2009 đến 12.2015. Sở dĩ tác giả chọn thời gian nghiên cứu từ năm
2005 đến nay là do giai đoạn trước đó từ năm 2000 đến năm 2004 thị trường chứng
khoán Việt Nam ở giai đoạn sơ khai, số lượng công ty niêm yết còn rất ít và thị trường
còn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Ngoài ra, do dữ liệu về nhóm ngành đến
năm 2009 mới bắt đầu triển khai nên loại dữ liệu này sẽ được thu thập kể từ thời điểm
2009. Thời điểm kết thúc nghiên cứu là 12.2015 do sự sẵn có của dữ liệu và thời điểm
kết thúc năm tài chính.
70,000
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
Hình 3.1: Lịch sử sản lượng dầu thô toàn cầu từ 01.2005 đến 12.2015
Nguồn: Ủy ban năng lượng Hoa Kỳ
ĐVT: Phần trăm
PCCOP
1.6
1.2
0.8
17
Giá dầu thô thế giới cũng được tác giả thu thập từ Ủy ban năng lượng Hoa Kỳ từ
01.2005 đến 12.2015. Có thể thấy tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa giá dầu thế giới và
Việt Nam. Cụ thể, theo Ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài
chính phát biểu: “Hiện nay giá xăng dầu trong nước phụ thuộc rất nhiều vào giá xăng
dầu thế giới do chúng ta nhập khẩu lượng xăng dầu thế giới chiếm đến 70%. Do vậy,
việc hình thành giá dựa trên giá xăng dầu thế giới để làm tham chiếu điều hành giá
xăng dầu trong nước. Bên cạnh đó, Nhà nước có quy định giá cơ sở để xác định giá
điều hành giá xăng dầu trong nước, trong giá cơ sở gồm rất nhiều các chi phí cấu thành
ví dụ đối với giá nhập khẩu, các loại thuế, phí khác hình thành nên giá xăng dầu trong
nước”4. Có thể hiểu cách tính giá xăng dầu trong nước như sau:
Giá xăng dầu trong nước = Giá xăng, dầu nhập khẩu + Thuế và các loại phí
Từ đó cho thấy, giá xăng dầu trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với giá dầu
thế giới.
Có thể thấy giá dầu thế giới trong giai đoạn 2005 đến nay đã trải qua hai sự biến
động lớn. Tại thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009 giá dầu đã có
sự sụt giảm đột ngột và rất lớn, giá từ 130 đô la/thùng giảm xuống chỉ còn khoảng 40
đô la/thùng. Điều này đã làm cho tình hình của các quốc gia xuất khẩu dầu lâm vào
tình trạng khó khăn khi mà chi phí sản xuất dầu còn cao hơn giá thành dầu xuất bán.
Và lịch sử đã lập lại vào cuối năm 2014 sau khi Mỹ công bố về công nghệ làm dầu từ
4
http://hobuu.com.vn/news/detail/su-khac-biet-trong-cach-tinh-gia-xang-dau-trong-nuoc-va-the-gioi-711