Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến thị trường chứng khoán - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

---   ---

MÔN HỌC: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ
GIỚI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁNG

Nhóm 4: Trần Thị Bích Nhung - 33131020627
Trần Quang Đạo - 33131023741
Nguyễn Thị Kim

Hoa -

33141025112
Nguyễn Thị Hồng Liên - 33131021924
Trần Anh Tuấn - 33141020019

THÁNG 9/2016


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

MỤC LỤC

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH THẾ GIỚI ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁNG


Lãi suất tín dụng gia tăng.

-

Hệ thống ngân hàng tê liệt.

-

Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng.

-

Các hoạt động kinh tế suy giảm.

3. Phân loại:
3.1 Khủng hoảng ngân hàng (Banking crisis)
Khủng hoảng ngân hàng là khủng hoảng tài chính ảnh hưởng tới các hoạt động ngân
hàng. Khủng hoảng ngân hàng bao gồm rút tiền gửi hàng loạt ảnh hưởng tới từng ngân hàng
riêng lẻ; hoảng loạn ngân hàng ảnh hưởng tới nhiều ngân hàng; và khủng hoảng ngân hàng hệ
thống là sự đổ vỡ ngân hàng mang tính hệ thống, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp gặp
khó khăn trong việc thanh lý hợp đồng đúng thời hạn (theo Wikipipedia).
Hay nói cách khác, đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi
ngân hàng. Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ
rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ. Sự rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự
phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ phi họ
được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi. Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây ra khủng hoảng
ngân hàng mang tính hệ thống. Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín
đụng được tăng lên do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngân sách. Lúc này chính các ngân hàng sẽ
3

Ví dụ cụ thể cho khủng hoảng tiền tệ là cuộc khủng hỏang tài chính các nước Đông Nam
Á năm 1997 (có trình bày ở phần sau).

3.3 Khủng hoảng kép (Twin crisis)
4


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

Xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời.

3.4 Khủng hoảng nợ công
Là khi khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu
quan trọng nhất là tỉ lệ thanh toán nợ nước ngoài (tỉ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi
mà quốc gia đó trả trên một năm trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia đó trong
năm đó hoặc trong năm trước. Bình thường chỉ tiêu này dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn
20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn.
Hay nói cách khác, khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ) làm
chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi tăng
cao trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ phải đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như
phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ. Thâm
hụt ngân sách kéo dài dẫn đến nợ công gia tăng. Nợ không trả sớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi
con” và ngày càng chồng chất thêm.

Nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng nợ công:
+ Việc gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, lương và chi phí hoạt động của bộ
máy nhà nước…
+ Chính phủ không minh bạch các số liệu về tình trạng ngân sách của quốc gia, sự kiểm

phần lớn số này được thông qua các ngân hàng trong nước và các công ty tài chính. Như vậy,
càng khoản vay càng trở thành gánh nặng không chịu nổi với Thái Lan. Mặt khác, việc Chính
phủ Thái Lan giữ cố định tỷ giá đồng bath đối với đồng đô la Mỹ trong suốt 13 năm trước đó
đã khiến đồng bath trở nên kém linh hoạt và gây cản trở đối với các nhà xuất khẩu. Đồng bath
lên giá đã làm cho hàng hóa của Thái Lan trở nên quá đắt trên thị trường nước ngoài, cán cân
thương mại bị thâm hụt tài khoản vãng lai (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu). Do chính sách
quản lý ngoại hối của Thái Lan tương đối tự do, cơ chế chuyển đổi ngoại tệ đồng bath khá dễ
dàng nên khi có biến động trên thị trường tài chính tiền tệ, luồng vốn ngoại tệ chuyển ra ngoài
tăng mạnh đã kéo đồng bath xuống giá. Bối cảnh này thúc đẩy giới đầu cơ trong và ngoài nước
muốn phá giá đồng bath để kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá. Việc Ngân hàng trung ương
Thái Lan tuyên bố phá giá đồng bath chẳng qua là giải pháp cuối cùng cứu vãn tình thế nhưng
trên thực tế lại góp phần đẩy tỷ giá USD/bath tăng thêm. Trước tình hình đó, Chính phủ Thái
Lan đã phải công bố những giải pháp ưu tiên hàng đầu, đó là sáp nhập một số công ty tài chính
với nhau (có số vốn ít nhất là 7,5 tỷ bath) và dùng quỹ của Ngân hàng trung ương Thái Lan cứu
vãn tình trạng của khoảng 91 công ty có số nợ trên 200 triệu bath. Chính phủ Thái Lan cũng
kêu gọi sự giúp đỡ về mặt tài chính của các quốc gia trong khu vực và IMF để có được ít nhất
là 10 tỷ USD giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng này.
6


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

Nguyên nhân:
+ Tình trạng tăng trưởng kinh tế quá nóng, đầu tư mất cân bằng: Tốc độ tăng trưởng cao lẽ
ra là cần thiết đối với các nước đang phát triển muốn theo kịp đà phát triển của thế giới. Tuy
nhiên, Thái Lan là quốc gia có tốc độ tăng trưởng gần như dẫn đầu khu vực châu Á lúc bấy giờ
nhưng lại có sự đầu tư mất cân đối và thiếu hiệu quả, đặc biệt là tập trung nguồn vốn quá nhiều
vào các lĩnh vực hạ tầng. Nợ Chính phủ và chủ yếu là nợ nước ngoài tăng. Bên cạnh đó, các

Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

một vài mặt hàng theo kiểu độc canh đã làm mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, công nghệ chậm đối mới. Xuất khẩu giảm dẫn đến nhập khẩu tăng, kết quả làm thâm hụt
cán cân vãng lai. Để bù đắp lượng ngoại tệ thiếu hụt phải bổ sung bằng vay nợ, mà chủ yếu là
vay nợ ngắn hạn nước ngoài với những điều kiện không thuận lợi và lãi suất cao. Chính sách tỷ
giá cố định gắn chặt với đồng USD trong thời gian này vô tình kìm hãm xuất khẩu, vừa kích
thích tiêu dùng quá mức. Hậu quả là chính sách hướng về xuất khẩu không những không thực
hiện được còn xu hướng đầu tư nước ngoài để thay thế hàng nhập khẩu lại bộc lộ khá rõ nét.
Tình trạng này càng làm cho nhập khẩu bị đẩy lên, cán cân thương mại thêm thâm hụt.
4.2 Khủng hoảng tài chính thế giới 2007 – 2009
Đây là cuộc khủng hoảng gây thiệt hại lớn, có quy mô rộng và được đánh giá là một
bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế của con người. Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ
cường quốc kinh tế số một thế giới (Hoa Kỳ) làm suy sụp trung tâm tài chính trứ danh phố Wall
và lan rộng sang các nước khác; làm tê liệt hệ thống tài chính toàn cầu và gây thiệt hại cho rất
nhiều quốc gia.

Nguyên nhân
+ Do sự mất cân đối toàn cầu. Có thể được hiểu là những khỏan thặng dư thương mại khổng
lồ của một số quốc gia như Trung Quốc, và thâm hụt thương mại của một số quốc gia như Mỹ.
Một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao và các nước xuất khẩu dầu lửa
đã chảy vào nước Mỹ khiến lãi suất ở Mỹ được duy trì ở mức thấp. Điều này gây ra sự bùng nổ
trong lĩnh vực cho vay tín dụng kéo theo sự tăng vọt của giá các loại tài sản như nhà đất và
chứng khoán tại Mỹ. Khi những bong bóng này vỡ, khủng hoảng tài chính nổ ra.
+ Các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính Mỹ đã sử dụng chiêu bài “Cỗ máy
đầu tư cấu trúc” (hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứng khoán hóa, cụ thể: huy
động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thương phiếu với lãi suất thấp để đầu tư vào các
loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản). Đầu năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì

tế hay cho các dự án đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán.
Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. do vậy thị trường chứng khoán
là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi.

-

Thị trường sơ cấp: người mua, mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành.

-

Thị trường thứ cấp: nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở Thị
trường sơ cấp.

-

Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một
số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm.
2. Vị trí thị trường chứng khoán: Trong thị trường Tài chính có hai thị trường lớn là:

-

Thị trường Tài chính ngắn hạn (Thị trường tiền tệ)
Thị trường Tài chính dài hạn (Thị trường vốn): bao gồm Thị trường tín dụng dài hạn (gồm Thị
trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính); và Thị trường chứng khoán
9


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK


- Thị trường chứng khoán góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế, tạo nên
sự phát triển nhanh và đồng đều trong nền kinh tế.
- Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới Thị trường chứng khoán (TTCK)

5.1 Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán
Môi trường chính trị :cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán, xã hội
luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK. Yếu tố chính trị bao gồm những
thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị. sửa đổi chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến
TTCK
Môi trường xã hội và pháp luật : Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân
TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp. Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác
động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm.
Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng khoán
trên thị trường. Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh
của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên.
Tỷ giá hối đoái : Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường
10


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh
nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài.
Tỷ giá hối đoái tăng cao đã tác động tới thị trường chứng khoán khá nhiều, các nguồn
vốn nước ngoài được đầu tư nhiều vào thị trường chứng khoán nhưng việc tỷ giá hối đoái tăng
mạnh đã làm nảy sinh lí do khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường, một lượng
vốn lớn nhanh chóng bị rút khỏi thị trường sẽ làm giá chứng khoán giảm và điều này sẽ tác

Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

khoán giảm sút vì người ta thích gửn tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
5.2 Các yếu tố theo thời gian


Các yếu tố ảnh hưởng ngắn hạn
Thời kỳ ngắn hạn, TTCK lên xuống do những sự kiện hàng ngày, các thông tin cập nhật,

kể cả những tin đồn gây nên. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên tiếp nhận, diễn
giải thông tin, suy đoán, kết luận và quyết định mua bán có thể sai hoặc nhầm lẫn nếu thông tin
đó không chính xác. Ở thời kỳ này, không phải bản thân các sự kiện hay thông tin, mà chính
trạng thái tâm lý hiện hành trên thị trường làm giá chứng khoán lên xuống. Đôi khi, nhà đầu tư
phản ánh một cách hốt hoảng, thái quá, ngược với mọi logic thường nhật hay các luận cứ kinh
tế. Điều này có thể dẫn đến thị trường tăng giảm vô căn cứ, chỉ vì người chơi chứng khoán lấy
các sự kiện như một cách biện minh cho hành động của mình.
Một ví dụ rõ nhất là sự ảnh hưởng mạnh và rõ rệt của những biến động hàng ngày, hàng
giờ của kinh tế thế giới trong thời gian qua. Những sự kiện như việc phá sản hàng loạt tổ chức
tài chính hàng đầu sau khi mọi nỗ lực giải cứu không thành khiến TTCK toàn thế giới sụt giảm
kỷ lục. Tâm lý nặng nề đó tiếp tục khiến nhà đầu tư hoảng hốt, tháo chạy không cân nhắc và
hiển nhiên TTCK càng thêm suy thoái.


Các yếu tố ảnh hưởng trung hạn
Tiền và tâm lý là những yếu tố có tính quyết định đến trào lưu thị trường trung hạn.

Theo nhiều nhà kinh tế, khi cả hai yếu tố tiền và tâm lý đều âm, TTCK rất trầm. Nếu chỉ có một
trong hai yếu tố tích cực, còn yếu tố kia âm thì thị trường vẫn chưa thể khởi sắc. Song khi có

1. Đối với thị trường chứng khoán thế giới
Các thị trường chứng khoán lớn của thế giới ở New York, London, Paris, Frankfurt, Tokyo
đều có thời điểm sụt giá lớn lịch sử.
Ở châu Âu, chỉ số FTSE 100 từ mức 4789,79 xuống còn 4699,82.[3] Chỉ số DAX hôm 2
tháng 3 năm 2009 chỉ còn 3666,4099 điểm so với 8067,3198 hôm 27 tháng 12 năm 2007. Chỉ
số CAC 40 hôm 2 tháng 3 năm 2009 cũng xuống mức thấp kỷ lục 2534,45 điểm.
Nhật Bản có một hệ thống tài chính tương đối vững vàng đã trải qua một thời kỳ tái cơ cấu
sau khủng hoảng 1996-1997. Tuy nhiên, tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ
vẫn khiến cho thị trường chứng khoán của nước này rối loạn. Chỉ số giá cổ phiếu bình quân
Nikkei đã xuống mức thấp lịch sử vào các ngày 8 và 10 tháng 10 năm 2008.
2. Đối với thị trường chứng khoán trong nước.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, cơn bão tài chính thế giới chưa có những tác động lớn
trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng. Cơ sở của những kết luận
trên là tính liên thông và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế và thị trường tài
chính thế giới chưa cao. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách thấu đáo có thể thấy rằng mặc dù
không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu sự tác động nhất định từ
13


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác động này biểu hiện trên các phương diện sau đây:
Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa nhanh chóng đã tác động đến các quốc gia
vốn là thị trường xuất khẩu hàng hoá của nhiều doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh
Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…Khủng hoảng tài chính làm sức mua của các thị trường trên
giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế hoạch doanh thu và lợi nhuận của các doanh
nghiệp niêm yết làm giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này vốn đang sụt giảm lại khó có khả

cho thông tin đến với tất cả các nhà đầu tư cùng một lúc và chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám
đông đã gây khó khăn trong việc hoạch định chính sách và điều tiết thị trường của cơ quan
quản lý và trở thành mảnh đất màu mỡ cho các hành vi làm giá, giao dịch nội gián, tung tin đồn
thất thiệt…để trục lợi. Tâm lý mua bán theo đám đông lại trở nên nặng nề hơn khi nền kinh tế
bị lạm phát. Mỗi khi các thông tin về việc tăng giá xăng dầu, Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất
cơ bản hoặc chỉ số giá tiêu dùng được công bố đều nhận được phản ứng tức thời từ TTCK.
Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài được xem là nhân tố dẫn dắt thị trường. Động
thái mua vào hoặc bán ra của họ cũng sẽ làm cho giá chứng khoán tăng hoặc giảm theo. Nhưng
từ cuối tháng 9/2008 đến nay, rất nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được phát đi như lãi suất cơ
bản và giá xăng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm đáng kể đã không nhận được những
phản ứng tích cực nào từ thị trường và chỉ số chứng khoán cả 2 sàn Thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội đều giảm. Điều đó cho thấy nhà đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm đến các thông
tin tốt từ nền kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễn biến tình hình giao dịch ở các
TTCK Mỹ, Anh, Nhật Bản…thế nào và sẽ có hành vi đầu tư tương tự. Thời gian gần đây, diễn
biến của các chỉ số chứng khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của các thị trường trên.
Vậy là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư của các nhà đầu tư
Việt Nam: từ đầu tư theo nhà đầu tư nước ngoài ở trong nước sang đầu tư theo các “nhà đầu tư
ngoài nước”. Tâm lý này trở thành một rào cản không nhỏ cho các nỗ lực của Chính phủ nhằm
vực dậy TTCK. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng, khi thị trường tài chính có biến động mạnh ở
một hoặc nhiều nước phát triển, các TTCK toàn cầu có độ liên thông lớn hơn rất nhiều so với
thời kỳ ổn định và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Thứ tư, tâm lý giá xuống đã làm méo mó vai trò là “phong vũ biểu” phản ánh “sức khỏe”
nền kinh tế và đe dọa tính thanh khoản của thị trường. Đó là khi, giá chứng khoán xuống quá
thấp thì người bán lại không muốn bán nhưng người mua cũng sẽ không dám mua do vẫn còn
lo sợ chứng khoán sẽ tiếp tục giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng niềm tin” thị trường sẽ chuyển
sang một cuộc khủng hoảng khác nguy hiểm hơn nhiều: khủng hoảng về tính thanh khoản.
Thứ năm, mặc dù không phải phát sinh mới đây do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều những vấn đề khác mà trong phạm vi bài viết
này chúng tôi chưa có điều kiện đề cập đến. Cụ thể như các vấn đề về khung pháp lý, vai trò
quản lý, giám sát của Nhà nước, tính minh bạch của thị trường…


-

Khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu có tác động gián tiếp đến thị trường tài chính tiền tệ
và hoạt động ngân hàng. Tác động này phản ánh trên 03 phương diện sau:
+ Dòng vốn đầu tư gián tiếp biến động mạnh. Trong thời gian qua, thị trường chứng
khoán trong nước liên tục điều chỉnh, với nhiều yếu tố tác động. Trong đó việc bán ròng của
các nhà đầu tư nước ngoài có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, tạo hiệu ứng mạnh
đến tâm lý nhà đầu tư, và làm cho thị trường liên tục giảm điểm trong thời gian qua. Việc các tổ
chức tài chính –chi nhánh hoặc công ty con đang hoạt động ở Việt Nam, rút vốn về nước nhằm
cứu nguy hoặc đảm bảo an toàn cho các công ty mẹ. Bên cạnh đó khủng hoảng tài chính cũng
tạo tâm lý bảo toàn vốn; tâm lý nắm giữ tiền mặt hơn là cổ phiếu của các Nhà đầu tư – Đây là
02 nguyên nhân cơ bản mà nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trong thời gian qua, có tác động
16


Phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến TTCK

Nhóm 4

ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trong nước.
+ Các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược vào
hệ thống ngân hàng trong nước giảm và hạn chế hơn.
+ Những biến động của lãi suất; giá vàng; đồng Dolla Mỹ... trên các thị trường tiền tệ
thế giới trong điều kiện khủng hoảng thường biến động nhanh, liên tục và khó dự báo. Điều
này tạo môi trường cho các hoạt động đầu cơ, và tác động ảnh hưởng nhất định đến thị trường
tiền tệ ; thị trường ngoại hối...
2. Cách phòng ngừa đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Mặc dù khủng hoảng tài chính toàn cầu không tác động trực tiếp đến Việt Nam nhưng
nước ta ít nhiều cũng đã chịu sự tác động nhất định. Sự tác động rõ nét nhất là đối với nền kinh

chứng khoán không nhiều nhưng nó sẽ là nguồn động viên tinh thần giúp các thị trường có thể
cải thiện phần nào niêm tin cho các nhà đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, theo
tín hiệu thị trường cần sớm đưa vào áp dụng các giải phải giúp hỗ trợ tính thanh khoản và
khuyến khích đầu tư như lệnh thị trường, cho phép nhà đầu tư được mở nhiều tài khoản và
được cùng mua, cùng bán một loại chứng khoán trong cùng một ngày giao dịch, sớm đưa thị
trường giao dịch các cổ phiếu chưa niêm yết đi vào hoạt động…
– Đẩy mạnh và kiên quyết đối với việc tách chức năng lưu ký tiền của nhà đầu tư từ
công ty chứng khoán sang ngân hàng để minh bạch hoá hoạt động của công ty chứng khoán,
gây dựng lòng tin của các nhà đầu tư. Thường xuyên kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh
doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là các hoạt động tiềm ẩn xung đột lợi ích cao.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status